Vietnamese Source
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
NGUYỄN ĐÌNH THÔNG
Cựu Đại Tá
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Chỉ Huy Trưởng Quân Vận Vùng 3
Kiêm Chỉ Huy Phó Căn Cứ Long Bình
Huy chương:
- Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương
- Chiến Công Bội Tinh
- Croix de Guerre avec l’étoile d’argent
- Và 1 số bị thất lạc…
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khởi viết tại Hoa Kỳ - December 11 / 1995,
lúc tác giả đúng vào tuổi Thất Thập Tòng Tâm Sở Dục.
(Lời của Khổng Tử trong sách luận ngữ, có nghĩa là tuổi 70
có thể làm theo những gì mình muốn đúng đạo lý)
-Kính dâng song thân với lòng tôn kính hiếu thảo
của một người con chưa đền đáp được phần nào
công ơn sinh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ.
-Thương nhớ hiền thê Anna Nguyễn Thị Hạnh,
người bạn đời lý tưởng nhưng vắn số,
đã giúp đỡ tôi nhiều trong cuộc sống
từ tinh thần lẫn vật chất.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
LỜI MỞ ĐẦU:
Xã hội Việt Nam chúng ta, trong thời kỳ chế độ phong kiến,
dưới ách thực dân và nhất là dưới sự độc tài đảng trị của chế
độ cộng sản, nhân dân lầm than đói khổ, thất học... Do đó, rất
ít gia đình ghi vào sách vở các di tích lịch sử gia đình, họ hàng
thân thuộc trong cùng một gia tộc. Sách vở đó còn được gọi
là gia phả. Ngoại trừ các gia đình vương giả, quan quyền, các
gia đình trí thức khoa bảng hoặc các gia đình giàu có, tiền dư
bạc hậu, mới có khả năng thực hiện gia phả. Phần đại đa số
dân chúng còn lại, hằng ngày đầu tắt mặt tối, chật vật trong
công ăn việc làm, lo chạy miếng cơm manh áo, không còn có
thì giờ để nghĩ đến việc gì khác, nói chi đến việc ghi chép gia
phả.
Tôi nghĩ rằng họ tộc Tổ Tiên chúng ta trước đây có thể cũng
đã có gia phả, nhưng qua các thời đại, qua các biến chuyển
về chính trị, quân sự, qua các biến cố Trịnh Nguyễn phân
tranh, v.v... gia phả họ tộc chúng ta đã thất lạc hoặc bị thiêu
hủy ! Tuy nhiên, họ tộc chúng ta là họ Nguyễn hay họ gì đi
nữa, có gia phả hay không cũng chỉ là một nghi vấn, giả
thuyết mà thôi, sự thật không ai biết được.
Tập hồi ký này không có cao vọng thay thế gia phả, mà chỉ
ghi lại một vài liên hệ gia tộc trong thời gian quá khứ gần
nhất mà chính tôi sống trong thời gian quá khứ này. Đồng
thời xin ghi lại những mẩu chuyện vụn vặt vui buồn về cuộc
đời của các bậc trưởng thượng, tổ tiên họ tộc chúng tôi, những
người đồng trang trong dòng đời cuộc sống, hoặc những mẩu
chuyện về quê hương chúng ta, mục đích để con cháu đọc cho
vui, và biết được chút ít về họ tộc cũng như không quên gốc
gác của mình.
Chắc chắn thế nào cũng có điều thiếu sót, vậy có ai biết được
những khuyết điểm, xin làm ơn chỉ giáo, tôi sẽ bổ túc và hoàn
chỉnh lại cho chính xác. Ngoài ra tôi cũng xin thưa là vì con
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
cháu trong họ tộc, một số khá đông sống ở ngoại quốc, nên
sự hiểu biết về tiếng Việt khá hạn hẹp, do đó tôi phải giải
thích hoặc cước chú cặn kẽ mọi trích dẫn hoặc từ tiếng nước
ngoài, hoặc chính tiếng Việt thân yêu của chúng ta.
Xin thành thật cảm tạ.
GHI CHÚ ĐẶC BIỆT:
Tập Hồi Ký này chỉ phổ biến trong phạm vi họ tộc của tác
giả. Mọi trích dẫn vui lòng liên hệ với gia đình tác giả (*).
Khởi viết tại Aurora, ngày 11 Tháng 12 Năm 1995
Nguyễn Đình Thông
(*) Diễm Châu Nguyễn email: catdonsa@yahoo.com
Nguyễn Đình Ngọc Hân email: hanahut@gmail.com
ĐIỀU 1: VÀI NÉT ĐẶC THÙ VỀ QUÊ HƯƠNG TÔI:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Quê hương tôi có tên gọi là xã Đơn Sa, Phủ Quảng Trạch,
Tỉnh Quảng Bình, thuộc miền Trung nước Việt Nam. Sở dĩ
gọi xã Đơn Sa vì đất ruộng của làng đều có pha màu cát đỏ
vàng: Đơn là màu đỏ vàng, Sa là cát. Đơn Sa vào thời kỳ
trước năm 1945 là một xã sầm uất, dân số lên đến trên 4 ngàn
tráng đinh, không kể đàn bà, con nít và ông già bà lão.
Đây là một đại xã. Phía đông xã là một động cát màu vàng
đỏ chạy dài dọc theo bờ biển từ cửa Sông Gianh (Linh Giang)
ra đến chân núi Đèo Ngang (Roòn). Bề ngang động cát dài
gần 2 cây số trước khi giáp biển Đông Hải, người tàu gọi là
biển Nam Hải. Động cát này hằng năm do gió nồm thổi, cát
cứ lấn dần vào đất trồng trọt của dân làng, và cứ như thế năm
này qua năm khác, đất trồng trọt càng ngày càng thu hẹp lại,
nếu không có biện pháp ngăn chận, cát sẽ xâm lấn hết đất đai
trồng trọt của dân làng.
Ngày nay tỉnh Quảng Bình khá nổi tiếng nhờ có Động Phong
Nha - Kẻ Bàng, một hệ thống gồm khoảng 300 hang động lớn
nhỏ. Động Phong Nha đã được Hội nghiên cứu hang động
Hoàng gia Anh đánh giá là hang động có giá trị hàng đầu thế
giới với 4 điểm nhất: các sông ngầm dài nhất, cửa hang cao
và rộng nhất, những bờ cát rộng và đẹp nhất, những thạch nhũ
đẹp nhất… đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới ở
Đông Nam Á. Năm 2005, Hội hang động Anh phát hiện một
hang động khô, đặt tên Động Thiên Đường, hang động Thiên
Đường còn to lớn và đẹp hơn cả động Phong Nha.
Vào khoảng năm 1938, 1939, trong khi quê hương Việt Nam
đang sống dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, một Công ty
Pháp Việt được thành lập do ông Urbain, Giám Đốc Ngân
Hàng Đông Dương Đà Nẳng (Bank Indochinois de Tourane)
và cụ Phan Văn Thú (Hồng Lô Tự Khanh, Tứ Đẳng Triều
Đình) thường được gọi là cụ Hường Thú, Trưởng Đồn Quan
Thuế Quảng Khê (Văn Phòng đóng trên bờ phía Nam cửa
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sông Gianh). Công ty này đã cho trồng cây thông trên động
cát, gọi là cây “dương liễu” hay cây “phi lao” đúng hơn.
Công tác trồng cây “phi lao” rất công phu dưới sự trực tiếp
điều khiển và giám thị (supervise) của ông Nguyễn Quế, tôi
gọi là Dượng Quế vì là chồng của cô (O) tôi, ông Quế là một
dân làng Đơn Sa.
Sau khi đào lỗ trồng cây, nhân công phải thường xuyên nuôi
dưỡng cây bằng cách tưới nước mỗi ngày cho đến khi cây
“phi lao” bắt rễ và tự nuôi sống.
Nhờ vào rừng “phi lao”, cát đã bị chận lại, không còn xâm
lấn ra đất trồng trọt của dân làng nữa, và cũng nhờ vào rừng
này, mà dân làng có dịp vơ lá lượm cành để nấu bếp, thay vì
hằng năm phải thuê đò lên rừng đốn củi mang về dùng.
Công Ty Urbain và Phan Văn Thú có kế hoạch trồng cây “phi
Lao” từ Quảng Khê, cửa Sông Gianh (Mỹ Hòa) ra đến Roòn
(Đèo Ngang). Tuy nhiên, công tác mới thực hiện qua ranh
giới xã Đơn Sa thì bị gián đoạn vì Việt Minh cướp chánh
quyền, dân quân du kích gây khó dễ cho công ty vào khoảng
năm 1944, 1945. Do đó rừng “phi lao” chỉ có bấy nhiêu,
không tiến triển ra phía Bắc thêm được. Không biết sau này
có ai tiếp tục trồng thêm không?
Chúng tôi cũng xin mở một dấu ngoặc nơi đây là cụ Phan Văn
Thú là bạn thân của Ba tôi. Thường cụ hay lái xe hơi, hoặc
cỡi xe đạp từ Quảng Khê lên làng Đơn Sa thăm Ba tôi. Mỗi
lần cụ đến là Ba sai tôi cột chó lại, vì nhà có nuôi con chó Lu
rất dữ. Đồng thời chạy ra mở cổng cùng giữ xe đạp cho cụ
Hường (danh từ đọc trại đi do chữ Hồng Lô Tự Khanh). Cụ
Phan Văn Thú là thân sinh Trung Tá Phan Văn Đức, một bạn
thân của tôi. Ông Đức có một dưỡng nữ (Step daughter) tên
nghệ sĩ là Lan Ngọc hiện ở Nam California, kết duyên với
chú Nguyễn Công Nghi, người Quảng Khê cũng là một người
bạn đồng hương với tôi. Tuy nhiên mối tình chú Nghi đã bị
tan rã ở tuổi trung niên, sau khi đã có với nhau khá đông con
cái.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Xã Đơn Sa tọa lạc phía Bắc Sông Gianh (Linh Giang), cách
bến phà Sông Gianh khoảng 3 cây số. Phía Bắc làng Đơn Sa
là xã Thọ Đơn, bình dân gọi là Làng Kẻ Tiếu. Làng này dân
cư sống thưa thớt, làm nghề đan thúng rổ. Ruộng vườn cũng
không rộng bao nhiêu. Do đó dân chúng phần đông nghèo
nàn đói rách lầm than.
Phía Tây Bắc làng Đơn Sa giáp ranh giới làng Thổ Ngọa đất
hẹp, ruộng vườn ít ỏi. Dân sống về nghề chằm nón, họ đem
lên bán tại chợ phiên Ba Đồn, chợ phiên này cứ mười ngày
nhóm họp một lần. Dân chúng cả làng trước năm 1945 cũng
không có gì gọi là sung túc.
Làng có một gia đình (tốt hay xấu do nơi sự suy nghĩ của từng
cá nhân là ông Đỗ Mậu, một đội khố xanh (Sergent de la
Garde indigène). Sau này nhờ tài ngoại giao, được Tổng
Thống Ngô Đình Diệm cho thăng đến cấp Đại Tá (tuy chẳng
học trường quân sự nào), và được Cụ Diệm cân nhắc lên làm
Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa.
Sau nầy, chính ông đã phản bội Cụ, gia nhập vào phe nhóm
đảo chánh Dương Văn Minh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm
vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, và đã ám hại tàn nhẫn Tổng
Thống dân cử Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu,
vị cố vấn cho chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa!
Năm 1975, sau khi chạy ra hải ngoại, Đỗ Mậu lại xuất bản
một cuốn sách vào năm 1986. Sách nầy ông ta đã tự đề cao
mình một cách quá đáng qua luận điệu khoác lác, bịa đặt
những điều xuyên tạc, vu khống... để hạ nhục uy danh cụ Ngô
Đình Diệm và gia đình ngài.
Người đọc thắc mắc tại sao Đỗ Mậu là người thọ ân của Tổng
Thống và gia đình họ Ngô mà lại làm vậy? Có phải “cứu
người, người trả oán” như câu ca dao trong dân gian hay
không!
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ngoài ra, cuốn sách còn đả phá Giáo Hội Công Giáo, phỉ báng
Tòa Thánh Vatican, chửi bới những phần tử quốc gia chân
chính… làm cho người đọc ngạc nhiên.
Đây là một cuốn sách theo tôi nghĩ không có giá trị về lịch
sử, vì nói lên những điều sai sự thật, có lợi cho kẻ thù của dân
tộc Việt Nam. Có người còn cho rằng Đỗ Mậu không có khả
năng viết cuốn sách này, mà đã cho một nhóm người khác
mượn tên viết ra với những lời lẽ, ý đồ gây sự phá hoại tôn
giáo, chia rẽ hàng ngũ quốc gia mà thôi! Vì lẽ, với khả năng
của ông, làm sao viết được một cuốn sách dày cả ngàn trang?
Thắc mắc này sẽ được lịch sử sau này phán xét.
Tuy nhiên, chúng ta không quên vinh danh và đề cao một
người cháu của ông ta, đó là Trung Úy Đỗ Thọ, một Sĩ quan
Tùy viên của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đỗ Thọ là một
Sĩ quan trung thành với cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho
đến phút chót tại nhà Thờ cha Tam (Chợ Lớn), đáng làm
gương trung tín cho hậu thế, vớt vát một phần nào uy tín của
gia đình. Thật là cây đắng sinh quả ngọt.
Phía Tây xã Đơn Sa giáp làng Thuận Bài, làng này có nhiều
người làm quan lại trong triều đình vua chúa nhà Nguyễn. Số
người bình dân ít học của làng di cư vào Sài Gòn làm ăn, một
số đông làm nghề thợ điện, thợ điện nhà, nghĩa là điện 120
hoặc 220 volts (low voltage, điện hạ thế). Dân làng Đơn Sa
theo sự chèo kéo của bà con, cũng di cư vào làm ăn đông ở
Sài Gòn nghề thợ điện, nhưng lại là thợ điện đường, tức là
điện cao thế (High voltage).
Điện đường không có lợi cho công tác thương mại bình dân,
mà chỉ lợi cho công tác thương mại kỹ nghệ (Industry), trong
khi ở Việt Nam lúc bấy giờ, kỹ nghệ thương mại hiếm, chưa
phổ thông, chưa phát triển. Trong khi những cửa tiệm mở ra
để phục vụ người dân trong vấn đề điện nhà thì rất phổ thông,
đông đúc khách hàng. Do đó người dân làng Thuận Bài mở
nhiều cửa tiệm “điện nhà”, để cung cấp vật liệu và phục vụ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
trực tiếp khách hàng. Họ đã trở nên tương đối giàu có hơn
dân làng Đơn Sa.
Phía Nam xã Đơn Sa giáp ranh với làng Diên Phúc. Đây là
một thôn nhỏ, một họ đạo trực thuộc giáo xứ Đơn Sa. Dân
làng Diên Phúc tương đối ít, hiền hòa, chất phác. Di tản qua
Hoa Kỳ có nhiều người Diên Phúc, trong đó có ông bà
Nguyễn Điều và gia đình, hiện cư trú tại Aurora, Colorado.
Một họ đạo nhỏ khác, cũng tọa lạc phía Nam xã Đơn Sa, đó
là họ đạo Hói Tre. Phần đông dân chúng trong họ đạo này
thuộc làng Văn Phú, làm nghề chài lưới, nhưng Hói Tre là
nơi tạm dừng chân qua đêm sau những giờ làm ăn mệt nhọc.
Lâu ngày, Hói Tre đã trở thành nơi định cư vĩnh viễn. Họ
Đạo này cũng có xây một Nguyện Đường nhỏ để giáo dân tụ
tập cùng nhau đọc kinh hôm sớm.
Không biết ngày nay Nguyện đường ra sao sau thời gian
chiến tranh tàn khốc. Hiện ở Hoa Kỳ có gia đình ông Nguyễn
Học ở Denver là giáo dân thuộc họ đạo này. Họ đạo Hói Tre
trực thuộc Giáo xứ Đơn Sa. Người dân ở đây rất đạo đức và
an phận thủ thường. Tuy nhiên ở hải ngoại họ đã làm đủ mọi
ngành nghề, kể cả buôn bán, tiệm ăn và đã thành công tốt đẹp.
Xa xa về hướng Bắc là dãy Hoành Sơn, một dãy núi chắn
ngang hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Ngày xưa, nhà
Nguyễn bị áp bức, bị chèn ép tại phương Bắc, đã được một vị
am thông địa lý, hướng dẫn cho câu: "Hoành Sơn nhất đái,
vạn đại chung thân” (Một dãy Hoành Sơn, có thể dung thân
lâu đời), và nhà Nguyễn đã di cư vào Miền Nam, đóng đô tại
Thuận Hóa, phía Nam dãy Hoành Sơn, đã sống còn và gây
dựng lại được sự nghiệp Triều Đình nhà Nguyễn gần 150
năm. Kết thúc vào năm 1945 với Hoàng Đế Bảo Đại.
Quốc lộ 1 chạy xuyên qua Quảng Bình ra Hà Tĩnh, qua dãy
Hoành Sơn bằng Đèo Ngang. Nơi đây có thắng cảnh đẹp, và
vì cảnh đẹp thiên nhiên đó mà bà Huyện Thanh Quan, một thi
sĩ nổi tiếng đương thời lúc bấy giờ, đã tức cảnh một bài thơ
bất hủ:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ (*) mấy nhà.
Nhớ Nước đau lòng con quốc quốc (1)
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (2)
Dừng chân đứng lại: Trời, Non, Nước.
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(*) Thời kỳ tôi đi học, câu thơ này được viết là: Lác đác bên
sông chợ mấy nhà. Tại Đèo Ngang, trên quốc lộ 1, phía Nam
có sông Roòn, phía Bắc bên kia Đèo có sông Kỳ Anh. Đồng
bào tụ tập mua bán ở hai bên bờ sông nhỏ này. Thuyền bè
thường đi từ biển vào và mang hàng hóa từ các nơi đến đây.
Việc mua bán lác đác bên sông tụ tập trong các căn nhà làm
chợ. Tại đây làm gì có đồng bào Thượng hay các sắc dân man
ri mọi rợ sinh sống, mà ngày nay một số người dạy Việt Ngữ
đổi lại, gọi là “rợ” mấy nhà? Do đó theo tôi nghĩ thì chữ “chợ
mấy nhà” mới đúng, vì đồng bào dùng nhà làm chợ để trao
đổi mua bán hàng hóa từ Bắc vào hay từ Nam chuyên chở ra.
1- Quốc là con chim quốc, có nơi gọi là chim cốc.
2- Gia Gia là con chim Da hay Đa Đa. Câu thơ có ý nói là vì
cảnh đẹp mà nhớ nước thương nhà. Hai chữ Quốc Quốc đối
với hai chữ Gia Gia trong hai câu 5 và 6.
Từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam, một dòng sông chảy dài
bao bọc cả khu vực, đó là dòng Linh Giang, tức là sông
Gianh, một dòng sông lịch sử chia đôi đất nước trong thời kỳ
Trịnh Nguyễn phân tranh, kéo dài gần cả 200 năm (?). Đây là
một dòng sông lớn nằm trong phía Bắc tỉnh Quảng Bình.
Lòng sông rất sâu, đặc biệt là ở cửa sông.
Cửa sông Gianh nước chảy xiết rất mạnh. Do đó, trong thời
kỳ Pháp thuộc, người Pháp và Triều đình Huế có ý định xây
một cây cầu bắc qua sông Gianh, từ Quảng Khê qua Mỹ Hòa,
nhưng không thực hiện được, vì lòng sông sâu và toàn đá
cứng, không thể nào đóng cọc đổ xi măng cốt sắt xuống lòng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
sông được. Hơn nữa vào thời kỳ đó, kỹ thuật xây cất còn non
kém, phương tiện eo hẹp, vì vậy mà không thực hiện được.
Suốt thời gian dài, xe cộ qua lại phải dùng sà lan chạy máy
đưa xe cộ qua phà bên này qua bên kia sông và ngược lại. Hy
vọng hiện nay với kỹ thuật tân tiến, có thể một chiếc cầu đã
được bắc qua khúc sông này, đem lại bao nhiêu tiện lợi về sự
lưu thông qua lại cho dân chúng.
Chính dòng sông này đã gây nên nạn lũ lụt hằng năm, hậu
quả của bao nhiêu thảm trạng cho nhân dân trong vùng. Vì
dòng sông nước chảy mạnh, nên dân chúng đã có câu hò ví
von:
“Bao giờ nước cạn Đồng Nai,
Sông Gianh bớt chảy mới phai lời nguyền”
Hiện nay nhà cầm quyền địa phương đã xây dựng quốc lộ 1
chạy từ Quảng Khê lên làng Cao Lao Hạ, và bắc một cây cầu
lớn từ Cao Lao Hạ qua dòng sông Gianh, đến phần đất thuộc
ranh giới phía Nam làng Thuận Bài. Do đó, đoạn quốc lộ từ
Quảng Khê Mỹ Hòa chạy qua làng Đơn Sa lên ngã ba Thọ
Đơn đã hủy bỏ. Tôi sẽ đề cập đến vấn đề này sau.
Một điều chúng ta phải công nhận là quê hương làng xã chúng
ta nghèo, vì “đất cày lên sỏi đá”, ruộng vườn ít ỏi, các nguồn
lợi thiên nhiên không có. Nếu dân làng không tha phương cầu
thực, tức là đi làm ăn xa ở Sài Gòn, thì không thể nào sống
nổi qua các trận đói hằng năm. Nhưng cũng nhờ vào cảnh đi
làm ăn xa, bà con trong làng Đơn Sa đã dành dụm được tiền
đem về xây cất nhà cửa bằng gạch ngói khang trang đẹp đẽ,
xây dựng được ngôi Thánh Đường to lớn lộng lẫy, tháp
chuông nhà thờ cao 30 mét. Đứng từ trên tháp chuông có thể
nhìn xa xuống cửa sông Gianh, nhìn lên phố Ba Đồn, cả hai
địa điểm, Nam và Bắc, cách làng Đơn Sa vào khoảng 3 cây
số mỗi nơi.
Làng có trường Sơ học cho con em, dạy từ lớp 1 đến lớp 3.
Chính ông Nguyễn Thủ là thân sinh của tôi và là ông nội, ông
ngoại, ông cố ông sơ của các con cháu trong họ tộc, là người
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
đứng ra đốc suất công của xây cất tháp chuông nhà Thờ, và
Trường Sơ học yếu lược của làng.
Nhà thờ Làng Đơn Sa, vì quá mục nát và bị hư hỏng nhiều
nên đã được xây lại trong năm 2005, do Linh mục Nguyễn
Trọng Thể, Chánh xứ Đơn Sa vận động tiền bạc và điều khiển
xây cất. Lễ khánh thành đã được tổ chức vào ngày 5 Tháng 8
năm 2005 dưới sự chủ tọa của Đức Giám Mục Cao Đình
Thuyên, thuộc Địa Phận Vinh.
Từ một làng xã nghèo khó không được thiên nhiên ưu đãi,
mọi cố gắng và tiết kiệm của người dân đã đưa làng lên một
địa vị khá giả. Có thể nói làng Đơn Sa trước năm 1945 là một
làng giàu có trong Phủ Quảng Trạch, vì dân chúng biết dành
dụm khi đi làm ăn xa ở Sài Gòn. Hơn nữa, tinh thần lo xa tiết
kiệm, biết “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” (tích trữ lúa
gạo phòng đói, tích trữ áo quần phòng lạnh) đúng như Tổ
Tiên đã dạy, giúp cho bà con tránh được nỗi oan khiên của
thời thế chiến tranh và nạn lũ lụt đói khổ hằng năm, còn đưa
làng nước lên địa vị khá giả trong địa phương.
Năm Ất Dậu 1945, khi quân Nhật Bản thu vét lúa gạo của
dân, dùng luá gạo để đốt lửa thay than đá tại các xưởng máy,
đồng thời cấm vận chuyển lúa gạo trong Miền Nam ra Bắc,
nên đã đưa đến một trận đói khủng khiếp, làm cho cả nước có
gần hai triệu người chết, phần đông là các tỉnh ở miền Bắc và
Bắc Trung phần Việt Nam.
Đây là một tội ác chiến tranh mà chính quyền Nhật Bản phải
gánh chịu trách nhiệm với nhân dân Việt Nam sau này…
Lúc bấy giờ dân làng Đơn Sa vẫn sống bình an, không một ai
bị chết đói cả. Trong khi những làng chung quanh, như làng
Thổ Ngọa, làng Thọ Đơn, làng Phan Long (có Thị xã Ba Đồn)
bị nạn đói hoành hành dữ dội, có nhiều nạn nhân chết thê
thảm. Trong các phiên chợ Ba Đồn (10 ngày nhóm họp một
lần) vào thời kỳ có nạn đói, tôi thấy có những xe chở hàng
hai bánh kéo tay, đi lượm các xác chết tập trung vào một nơi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Những người chết trong phiên chợ là do bội thực (ăn nhiều
quá trong khi đói). Các người bán hàng vì lòng thương người,
thường cho những người đói đi xin ăn nhiều quá. Người đói
không kềm hãm được sự thèm khát của mình, nên cố ăn vào
và bị chết vì bội thực.
Làng Đơn Sa là một làng thuần túy công giáo. Dân chúng
trong làng chỉ có một hai gia đình theo đạo giáo khác. Tuy
nhiên cuộc sống vẫn hài hòa và không bao giờ có sự kỳ thị
hay tranh chấp về tôn giáo. Chẳng những thế, tình cảm giữa
dân làng rất thắm thiết với nhau bất kể thuộc tôn giáo nào, và
không có sự kỳ thị trong cưới hỏi dựng vợ gả chồng.
Khi phong trào Việt Minh cướp chính quyền, dân làng không
theo VM, lý do đơn giản VM là cộng sản, mà cộng sản đã bị
Giáo Hội Công Giáo lên án, những ai theo cộng sản sẽ bị “dứt
phép thông công” (Excommunication) có nghĩa là bị tuyệt
giao với Giáo Hội, không còn được liên hệ gì với Giáo Hội
Công Giáo nữa. Đây là một hình phạt lương tâm rất nặng đối
với giáo dân trong đạo.
Vì lý do đó, trong thời kỳ đầu VM cướp chính quyền, dân
chúng đã tự động rào làng chống, không cho VM xâm nhập
vào làng tuyên truyền, thu thuế, bắt dân, v.v. . . VM tại địa
phương thù ghét dân làng Đơn Sa từ thủa ban đầu.
Sở dĩ VM thù ghét dân làng Đơn Sa, vì ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất Làng Đơn Sa là một làng Công Giáo. Thứ hai làng
Đơn Sa là một làng khá hơn các làng khác, nên thường bị dòm
ngó tỵ nạnh; và thứ ba làng Đơn Sa an ninh đã rào làng chống
Việt Minh ngay từ đầu.
Vì có sự thù hận và ghen ghét đó, nên khi Đất Nước bị Hiệp
Định Genève chia đôi tại vĩ tuyến 17, vào năm 1954, nhóm
cán bộ địa phương đã quyết định như sau:
a- Đổi danh xưng Xã Đơn Sa thành Thôn Đơn Sa. Một Xã có
trên 4 ngàn dân đinh tráng, không kể đàn bà con nít, ông già
bà cả mà lại gọi là Thôn. Sự đặt lại danh xưng này đã tỏ ra sự
ấu trĩ, non nớt, đã đặt sự ghen ghét không đúng chỗ, mục đích
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
để trả thù, hạ phẩm giá làng Đơn Sa, mà còn làm nhục cho sĩ
phu và giới có học Việt Nam.
b- Sự thù ghét thứ hai mà bọn VM địa phương đã áp đặt cho
các làng Công Giáo, từ làng Đơn Sa, Diên Phúc xuống làng
Mỹ Hòa, là cắt đứt đoạn quốc lộ số 1, từ ngã ba làng Thọ Đơn
xuống đến Phà Sông Gianh. Chúng cho quốc lộ chạy thẳng
từ làng Thọ Đơn qua làng Phan Long, Thổ Ngọa xuống làng
Thuận Bài rồi bắc cầu qua làng Cao Lao Hạ, chạy về Quảng
Khê nối tiếp vào quốc lộ 1 như cũ. Trong khi quốc lộ 1 cũ từ
Thọ Đơn xuống Mỹ Hòa đã bị bỏ phế, không được tu bổ sửa
chữa để có thể trở thành một Tỉnh lộ khả dĩ vấn đề lưu thông
được nối tiếp với các làng trong vùng không bị gián đoạn.
Hiện tại khi tôi viết bài này, đoạn quốc lộ cũ bị bỏ phế và bị
phá hủy trầm trọng. Không biết trong tương lai, nhà cầm
quyền sẽ quyết định thế nào.
Đây là một quyết định sai lầm rất đáng tiếc của các cán bộ
VM đương quyền tại địa phương mà chúng tôi nghĩ là khi họ
cắt đứt mạch giao thông này là họ có ý cô lập hóa các làng
này, đặt các làng này xa cách với sự lưu thông toàn quốc, tức
là họ cắt đứt sự liên lạc với văn minh của thế giới bên ngoài.
Mạch giao thông bị gián đoạn gây nên sự khó khăn trong vấn
đề vận chuyển hàng hóa, nền kinh tế trở nên đình trệ, nhu cầu
chuyển vận vật liệu cho sự phát triển các công tác xây dựng
tại các làng xã trong vùng sẽ vô cùng trở ngại vì các phương
tiện chuyển vận không thể đến được địa điểm như ý muốn.
Muốn đưa các vật liệu đến địa điểm như ý định thì phải tốn
kém nhiều, có khi gấp ba bốn lần đắt hơn và chậm trễ hơn, vì
chỉ còn dùng nhân công khuân vác là phương tiện duy nhất
mà thôi. Do đó các kế hoạch đại quy mô rất khó có thể thực
hiện được.
Hy vọng trong tương lai, đoạn quốc lộ này sẽ được mở lại vì
nhu cầu thực tiễn cho nền kinh tế quốc gia và sự lưu thông
tiện lợi của các làng địa phương trong vùng. Đồng thời tiết
kiệm nhiên liệu về lâu về dài cho các đoàn xe chạy suốt Bắc
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Nam (xuyên Việt), khỏi phải chạy vòng vo khá dài một đoạn
đường quanh co không cần thiết.
Chúng tôi ngạc nhiên không biết tại sao vào thời kỳ đó, một
số nhân sự của các làng địa phương đi theo VM, giữ những
chức vụ quan trọng trong chánh quyền địa phương, lại không
dùng ảnh hưởng của mình để tranh đấu cho quyền lợi của dân
chúng trong các làng liên hệ. Đó là một sơ sót đáng tiếc mà
cũng là một lỗi lầm đối với quê hương và nhân dân tại địa
phương.
Tuy nhiên đây là một sự đã rồi chỉ vì sự hận thù và thất học
của nhóm cán bộ địa phương thời bấy giờ. Hy vọng ngày nay,
đoạn đường quốc lộ này đã được phục hồi vì nhu cầu lưu
thông và kinh tế quốc gia.
Nói một cách tổng quát, thì làng Đơn Sa ở vào một vị trí địa
dư tốt, nhưng về canh nông thì đất đai trồng trọt quá hạn hẹp,
kém màu mỡ, lại hay bị bão lụt hằng năm, nên lợi tức thu
hoạch rất thấp, do đó có thể nói Đơn Sa là một trong những
làng nghèo về canh nông. Vì sự nghèo khó này, mà dân làng
Đơn Sa từ trước đến nay hay di cư kiếm công ăn việc làm tại
Sài Gòn để mang của cải tiền bạc về nuôi sống gia đình, làm
cho dân làng trở nên giàu có sung túc, khỏi bị cảnh đói khát
hằng năm. Tuy đi lập nghiệp phương xa, nhưng người dân
làng Đơn Sa vẫn lưu luyến nơi chôn nhau cắt rốn, nên vẫn lui
về quê cũ, mang tiền bạc và phương tiện về xây dựng nhà
cửa, làng xóm. Vì vậy làng Đơn Sa có bộ mặt rất sầm uất,
sung túc: Nhà cửa phần nhiều xây gạch, lợp ngói khang trang,
sân nhà tráng xi măng sạch sẽ; dân làng ăn mặc gọn gàng
tươm tất, trội hẳn hơn dân các làng lân cận.
Phủ lỵ của Phủ Quảng Trạch là thành phố Ba Đồn, thuộc làng
Phan Long. Nơi đây có Phủ lỵ Quảng Trạch tọa lạc. Ba Đồn
cách làng Đơn Sa khoảng 3 cây số (Km) nếu đi theo quốc lộ,
còn nếu đi băng đường hương lộ thì chỉ gần 2 cây số, phải đi
băng qua làng Thổ Ngọa, đến làng Phan Long. Ranh giới đất
ruộng của làng Đơn Sa lên gần sát đến làng Thổ Ngọa.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tôi rất ngạc nhiên tại sao lại có một dãi đất chạy ngược lên
sát làng Thổ Ngọa, gần đến xóm Dinh của làng này! Khi tìm
hiểu thì các cụ cao niên cho biết: ngày xưa khi tranh chấp
ranh giới giữa hai làng, không ai nhịn ai. Do đó các cụ của
hai làng đã đồng ý mỗi làng đưa ra một con gà trống cho chọi
nhau, con gà làng Đơn Sa thắng và đuổi con gà Thổ Ngọa
chạy lên đến gần sát xóm Dinh của làng này. Do đó ranh giới
đất làng Đơn Sa mới đi sâu vào làng Thổ Ngọa như vậy!
Đi ngược dòng thời gian, từ xa xưa, Quảng Bình thuộc châu
Ô, được vua Chiêm Thành Chế Mân (Jaya Simhavarman)
dâng cho nước Đại Việt dưới triều đại Trần Anh Tông, làm
sánh lễ để cưới công chúa Huyền Trân vào đầu tháng 06 năm
Bính Ngọ 1306. Khi về Chiêm Quốc, công chúa Huyền Trân
được phong tước Hoàng Hậu Paramecvari.
Tiếng nói ở vùng này còn lại nhiều cổ ngữ Mường Việt (Theo
học giả Thái Văn Kiểm), chẳng hạn các câu ca dao dưới đây
:
Ba Đồn là đất châu Ô
Một đoàn vợ lính
Trảy vô thăm chồng (trảy = đi, chạy)
Gặp trộ mưa giông (trộ mưa= trận mưa)
Đàng trơn gánh nặng (Đàng = Đường)
Mặt trời đã lặn
Đèo Ngang chưa trèo
Khớp hòn đá cheo leo (Khớp = Khiếp sợ)
Chân trèo chân trợt
Gặp o gánh ló (O = Cô ; Ló = Lúa)
Chộ chú chăn trâu (Chộ = Thấy)
Ba Đồn quân lính ở đâu?
Hoặc :
Trâu ăn giữa vạt ló lỗ (Ló=lúa. Lổ= trổ bông)
Ai mà nỏ chộ, đã ngụy chưa tề (nỏ chộ = không thấy; Ngụy
= lạ lùng)
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
(Trâu ăn giữa rộng lúa đang trổ bông, ai mà chẳng thấy, đã lạ
lùng chưa kìa).
Tuy nhiên, văn chương bình dân của tổ tiên, cho chúng ta
thấy câu ca dao trên gồm đủ 4 nước: Trâu là nước của Mạnh
Tử, Lỗ là nước của Khổng Tử, và thêm hai nước Ngụy và Tề
nữa. Ý nghĩa chữ cổ Việt cũng thâm trầm lắm thay!
ĐIỀU 2 : ÔNG MỆ NỘI TÔI:
Khi tôi lớn lên, vừa có trí khôn, tôi đã thấy và nhận biết ông
mệ nội. Tôi không được thấy ông mệ ngoại, có lẽ các ngài đã
quá vãng.
Ông nội tôi có hình dáng cao lớn, như người Âu Châu, mũi
cao, mắt sâu và rất khỏe mạnh. Ông tên là Nguyễn Văn Kim,
dân trong làng thường gọi là ông Bản Kim (Bản là một chức
vụ trong làng). Mệ nội tên Nguyễn Thị Em, người trong làng
thường gọi là mệ Bản. Theo quan niệm xưa của người Việt
Nam thì một khi người đàn bà đã đi lấy chồng, thì chỉ còn
dùng tên của người chồng mà thôi, do đó tên của người đàn
bà không còn được dùng đến nữa, họa hoằn lắm mới được sử
dụng đến. Mệ nội tôi vóc người cũng cao lớn hơn những
người phụ nữ Việt Nam bình thường. Có một điều lạ là mệ
nội tôi có cặp mắt với con ngươi màu vàng, giống mắt của
những phụ nữ người Đức Quốc ở Âu Châu.
Ông mệ nội tôi có một cuộc sống rất đạo đức, hiền lành, chân
thật, rất thương yêu con cháu. Mỗi lần tôi chạy qua nhà chơi
thăm, thế nào ông cũng hái cho vài trái ổi chua hoặc vài trái
khế ngọt. Ở nhà quê chỉ có vậy.
Theo lời Ba tôi kể lại, khi còn trai trẻ, ông nội tôi cũng theo
bạn bè đi vào Đồng Nai (Sài Gòn) làm ăn. Thông thường thì
người dân làng vào Sài Gòn, vì không có nghề chuyên môn,
nên chỉ làm phu khuân vác, bốc rỡ hàng tàu tại bến tàu thủy
Sài Gòn. Tại các bến tàu thường có một đám du đãng do một
tên cầm đầu, thường được gọi là “nhóm anh chị”. Bọn du
đãng này thường bắt nạt nhân công phải đóng tiền lệ phí hằng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ngày cho bọn chúng. Ai không tuân lệnh là chúng nó đánh
đập, hành hạ một cách dã man, có khi còn nguy đến tánh
mạng. Đặc biệt là chúng không cho phép lai vãng xin việc
làm tại bến tàu nữa. Vì sự ác ôn của bọn du đãng nên tất cả
nhân công khuân vác bốc dỡ hàng tàu đều kinh sợ và tuân
lệnh chúng, không ai dám than vãn hay hé miệng khiếu nại
điều gì.
Ông nội tôi đến bến tàu xin việc thì được người cai thầu chấp
nhận ngay, vì vóc dáng ông to lớn khỏe mạnh và có hình dáng
Âu Châu. Sau giờ làm việc, ông nội tôi lãnh tiền ra về, bị tên
đầu đảng anh chị chận lại bắt đóng tiền lệ phí. Thực ra, ông
nội tôi không biết thủ tục làm ăn của nhóm du đãng “anh
chị”này. Bị chận bất ngờ với cử chỉ hỗn xược như muốn gây
sự, ông nội lễ phép:
- “Thưa anh, chúng tôi làm việc cực nhọc từ sáng đến giờ,
lãnh được từng này tiền, mà anh đòi lấy một phần ba, thì
chúng tôi còn gì để ăn?”
Chẳng thèm trả lời, tên đầu đảng nhảy vào đánh ông. Đồng
thời bọn lâu la bộ hạ cũng hùa theo. Trước thế nguy, ông nội
phải ra tay đối phó. Với sức mạnh phi thường của ông, ông
chụp ngay tên đầu đảng, túm vào ống chân nơi mắt cá của nó,
ông xoay cả thân hình nó như một cái gậy để vừa đỡ vừa đánh
mấy tên khác. Cả bọn thất kinh.
Thằng đầu đảng van lạy gần chết, ông nội túm áo sau gáy
thằng đầu đảng đặt nó xuống đất một cách nhẹ nhàng. Nó quỳ
sụp xuống lạy ông xin tha chết, cả bọn cùng quỳ xuống xin
lỗi ông, vì không biết sức mạnh siêu phàm của ông và suy tôn
ông lên làm “Anh Hai” của bọn chúng, sẵn sàng tuân theo
mệnh lệnh của ông.
Ông nội tôi chẳng để ý chúng nó nói gì. Ông đe mặt chúng,
nhất là thằng đầu đảng, bảo chúng rằng:
- “Các anh đừng ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ đông hiếp cô. Đây là bài
học để các anh nhớ đời.”
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Từ đó, bọn này không còn dám hó hé khi có mặt ông nội tôi
và rất nhiều nhân công đã nhờ ông tôi can thiệp khi bị ức hiếp.
Vào thời kỳ đó, nhóm du đãng không có súng như bây giờ,
nếu chúng có súng thì có lẽ ông nội tôi đã không bảo toàn
được tính mạng.
Bọn nhà thầu tại bến tàu chứng kiến cảnh tượng và thấy được
sức mạnh phi thường của ông nội tôi, nên đã đề nghị ông nội
tôi lên làm “cai” (Supervisor) điều khiển công nhân tại bến
tàu tại đó, nhưng vì bẩm tính hiền hòa, hơn nữa ông mới từ
quê vào, chưa am hiểu công việc nên ông từ chối và chỉ xin
làm công nhân bình thường mà thôi.
Đúng là “Mạnh được yếu thua” và câu ngụ ngôn của La
Fontaine ứng nghiệm trong hoàn cảnh này “La raison du plus
fort est toujours la meilleure !” (Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ
cũng thắng!).
Tất cả con cháu chúng ta sau này, đọc đến đoạn này, ai cũng
mừng vì nếu sự việc xảy ra trong thời buổi này, thì ông nội
chúng tôi làm sao giữ được mạng sống?
ĐIỀU 3 : VÀI NÉT VỀ CÁC CÔ CHÚ, CON CÁI CỦA
ÔNG MỆ NỘI TÔI:
Ông Mệ nội tôi có tất cả 10 người con, sau đây là tên của các
cô chú:
Trước khi nêu tên của các cô chú, tôi cũng xin trình bày là
ông nội tôi có hai đời vợ, mệ nội trước của tôi đã quá vãng
khi mới có một con với ông, người con đó là:
1- O Nguyễn Thị Hòa, thường gọi là o Giáp Phúc (chồng là
Hồ Phúc). O dượng Phúc có 4 người con gái, đó là các chị
Khơi (tên chồng), chí Quí (chồng tên Tán), chị Thảo và chị
Qui. Chị Tán có các con là anh Tịnh (đi tu dòng Tabert, đã
quá vãng; anh Thanh định cư tại tại Baton Rouge, Lousiana,
(USA); và chị Vựng (chồng là anh Lệ) hiện định cư tại
Lincoln, Nebraska (USA). O Dượng Giáp Phúc rất hiền lành,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
đạo đức và thương yêu con cháu, do đó tôi hay lui tới thăm.
Dượng Phúc quá vãng sớm.
O Hòa sau nầy có các ngón tay bị rút cong lại. Theo lời O kể
lại thì khi trời quá lạnh, O hay hơ tay vào lửa, nên sức nóng
của lửa đã rút các ngón tay quá lạnh của O lại. Do đó sau này,
O thường khuyên con cái, cháu chắt phải cẩn thận khi hơ tay
vào lửa lúc trời lạnh buốt.
Sau khi tục huyền với mệ nội sau, ông mệ nội tôi có 9 người
con :
1- O Nguyễn Thị Hiệp, thường gọi là o trùm Duyên (chồng
là dượng trùm Duyên). O dượng Dưyên có những người con
có tên ghi sau:
Chị Trùng, anh Quý, chị Thanh, anh Lâu, anh Văn và anh Lý.
O và các con cái rất kính sợ dượng, trong khi đó thì O rất hiền
lành. Mặc dầu dượng nghiêm khắc cứng rắn với con cái trong
nhà, nhưng dượng cũng hiền lành và vui vẻ với bà con cháu
chắt chúng tôi. Dượng bị bán thân bất toại qua vụ bị đứt mạch
máu não, sống được mấy năm sau thì qua đời.
2- Ông Nguyễn Thủ là thân phụ tôi, thường gọi là ông Bát
Thủ, “Bát” là một phẩm trật vua ban khi Ba tôi làm việc trong
Đại Nội ở Huế dưới đời vua Khải Định. Má tôi là Nguyễn Thị
Quyến. Ba má tôi có 9 người con trai: Xướng, Suất, Trí, Tuệ,
Thông, Minh, Sáng (Toàn), Láng. Khi Má tôi quá vãng, ba
tôi đã tục huyền và sinh thêm được một người con nữa là
Nguyễn Hồng Thịnh. Ngoài ra, Ba Má tôi có toàn là con trai,
không có con gái, trong khi song thân rất muốn có con gái
nhưng trời không cho, nên ba má tôi đã nuôi ba dưỡng nữ.
Đó là chị Thơ, chị Nguyện và chị Tám.
- Chị Thơ thì đi lấy chồng khi tôi còn bé nên ít khi gặp, cho
đến khi tôi đã khôn lớn có gia đình và con cái, tôi mới gặp lại
chị. Chồng của chị là anh Đào Trọng Thành, khi tôi viết bài
này thì anh đã khá trọng tuổi, anh mới 96 xuân xanh, và anh
qua đời sau đó vào ngày 23 November / 2009, thọ 102 tuổi.
Anh chị có những người con sau đây: Chị Thanh, chị Hoa,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chị Hiền, anh Sỹ. Chị Hiền (chồng là anh Nguyễn Văn Thông,
một cựu Đại Úy QLVNCH). Anh chị Thông Hiền có hai
người con, một gái đầu tên là Nguyễn Đào Uyên Phương và
một trai tên Nguyễn Văn Thái, hai người con xinh đẹp giống
bố mẹ ngày xưa. Anh chị Thông Hiền định cư tại vùng Thủ
Đô Hoa Thịnh Đốn. Cháu Nguyễn Đào Uyên Phương đã có
chồng, một thanh niên đẹp trai, người Nam Mỹ, có 1 con trai
tên Tony sinh năm 2007.
Chị Nguyễn Thị Thơ đã quá vãng tại Sàigòn vào năm 1982
vì bạo bệnh.
-Riêng chị Nguyện thì tôi thường gặp lúc tôi còn nhỏ cho đến
khi lớn lên có trí khôn. Sau đó khi đất nước chia hai thì không
còn gặp lại, và anh chị Nguyện Thuyết đã quá vãng trong thời
kỳ này.
Anh Chị Nguyện Thuyết có khá đông con cái, nhưng vì chúng
tôi và anh chị sống cách xa nhau khá lâu, tôi không còn nhớ
hết tên các cháu được. Tôi chỉ biết anh chị có người con gái
đầu lòng, tính tình hiền lành, nhỏ nhẽ, có tên là Út Nậy, lấy
chồng người làng Thuận Bài, làm nghề thợ điện (nhà), có
tiệm buôn bán đồ điện ở Sài Gòn. Lại còn anh Vui và anh Vẻ
thường hay liên lạc với gia đình các cậu. Ngoài ra còn lại một
số các cháu nhỏ, chúng tôi chưa được gặp kể từ khi đất nước
chia đôi, chúng tôi phải tha phương cầu thực, nên chưa được
biết mặt. Anh chị Thuyết đã quá vãng trong thời kỳ phân chia
đất nước.
-Vì cuộc chiến tranh nên chị Tám đã thất lạc không biết hiện
sinh sống nơi đâu, sống chết ra sao. Chị Tám hơn tôi vài ba
tuổi, người hiền hậu, khuôn mặt xinh xắn, tính tình rất dễ
thương và thương yêu các em. Chứng tôi không biết chị còn
sống hay đã mất.
3- Chú Nguyễn Hứa (Khôi): Người em kế cận của Ba tôi, tên
ông mệ đặt cho là Khôi. Chú Khôi được ông mệ cho đi tu làm
Linh Mục. Vì không có ơn kêu gọi nên chú đã hoàn tục. Chú
không muốn lấy tên Khôi, vì hay đi với anh chú tên Thủ (tức
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ba tôi), thì người ta thường truê ghẹo nói lái lại chẳng đẹp đẽ
tí nào. Thủ Khôi là “thổi khu”... do đó chú nhất định đổi lại
là Hứa. Tuy nhiên, chú tôi vẫn bị lận đận về cái tên. Vì khi
làm việc trong cung, chú được vua Bảo Đại ban cho phẩm
trật “Thất phẩm Triều Đình”. Thông thường người ta hay gọi
là ông Thất Hứa, nên chú tôi muốn thiên hạ gọi ông là Đội
Hứa.
Chú thím có ba người con: Chú Nguyễn Niệm (còn gọi là
Tùng), o Nguyễn Thị Cúc (chồng là dượng Nguyễn Xanh) có
con trai là Nguyễn Dương cùng vợ con đang định cư tại
Dallas TX, và o Nguyễn Thị Lài (chồng là dượng Hồ Quyết).
4- O Nhất, O đi lấy chồng xa, chồng là Dượng Đinh Kiệt, một
đông y sĩ nổi tiếng tại địa phương về thuốc Bắc, văn hay chữ
tốt, nhưng lại vắn số vì hơi nặng chén. Cô dượng có ba người
con: Đinh Lực, Đinh Thị Nhì và Đinh Thị Tam.
5- O Nguyễn Thị Nhơn (chồng là dượng Nguyễn Thống) thợ
điện làm việc tại Huế. O dượng có hai người con gái: Nguyễn
Thị Nết và Nguyễn Thị Na. Khi dượng qua đời, có một bà
bạn lo lắng mọi việc tang quan ở tại Huế.
6- O Quế (chồng là Nguyễn Quế) Dượng Quế là Supervisor
cho Công Ty trồng cây “Phi Lao” trong động Cát của làng
Đơn Sa. Chúng tôi không rõ nhũ danh của O là gì. O dượng
có ba người con: Chú Phong, O Nậy và O Chút. Khi còn là
một thiếu nữ, O Qưế là một thiếu nữ đẹp nhất làng. Bao nhiêu
thanh niên đương thời đều mơ ước, nhưng đã lọt vào mắt xanh
của dượng Quế. Vì khi còn thanh niên, Dượng Quế là một
chàng trai lanh lẹ, đẹp trai, biết cách ăn nói. Tuy nhiên khi về
già dượng đã sinh tật hút xách bàn đèn tiên nâu” (Thuốc
phiện) nên đã tiêu tan sự nghiệp, hư hại cả cuộc đời.
7- Chú Nguyễn Tạo, có hai người con: Chú Thành và một
người con gái quên tên. Vợ chú Thành là chị ruột của cô chủ
tiệm may Thiết Lập nổi tiếng ở Sàigòn, tọa lạc tại đường
Công Lý, trước mặt Institute Pasteur Sài Gòn. Di cư sang Hoa
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Kỳ, tiệm Thiết Lập mở tại Đường Brookhurt, Westminster,
California.
8- Chú Nguyễn Hóa có bốn người con: Chú Hồng, O Hoa
(quá vãng khi còn nhỏ), O Quả (vợ dượng Đê) và O Dấu (Vợ
dượng Bình, mẹ của Hiệp, 2 mẹ con đang ở Colorado Spring).
Chú thím Hồng và gia đình hiện định cư tại thành phố Lincoln
Nebrasca. Chú thím Hồng thường hay liên lạc với gia đình
tôi, nay chú Hồng cũng đã qua đời, chú có 1 con gái tên Lý
chồng là Bình và 2 con ở Denver, CO.
Chúng tôi ít gặp chú Hóa vì chú thường làm ăn ở Sàigòn và
chúng tôi chỉ nghe tin chú Hóa bị té thang khi leo lên cột điện
đường và bị tử nạn tại Sàigòn
9- Chú Nguyễn Tán, Chú Tán là một võ sĩ, chú biết cả đánh
côn, đánh quyền, một người có sức mạnh vô địch, có lẽ sức
mạnh của chú không thua sức mạnh của ông nội tôi lúc còn
trai tráng. Rất tiếc võ nghệ của chú đã không truyền lại cho
một ai trong gia đình con cháu, do đó tài nghệ võ sĩ của chú
đã bị mai một. Chú thím có 4 người con: O Đạc, chú Điền, O
Xích và O Hoàng. Khi tôi viết bài này thì gia đình của chú
còn lại O Hoàng, còn các người khác đã quá vãng. O Hoàng
vẫn sống tại quê hương Đơn Sa, không di chuyển hay tản cư
đi đâu hết.
10- Chú Nguyễn Tường (Sáng), Người chú út trong gia đình
ông mệ nội tôi, chú đổi tên là Sáng trong các giấy tờ căn cước,
trong lý lịch tại sở làm. Sở dĩ chú đổi tên như vậy là vì trong
làng tôi có một người khác cũng tên là Tường, rượu chè be
bét, cuộc sống luộm thuộm. Chú không muốn trùng tên với
người đó khi tiếp xúc với xã hội bên ngoài, có lẽ vì sợ lầm
lẫn với người đó chăng? Cũng vì sự đổi tên của chú tôi, mà
em tôi tên là Sáng phải đổi lại tên Toàn. Con cháu đâu được
phép đặt trùng tên với các bác các chú, đó là điều tối kỵ. Tuy
nhiên trong hiện tại, nhất là tại Hoa Kỳ, con cháu đặt tên tùm
lum, muốn tên gì thì đặt tên nấy, dù có trùng tên ông bà, cha
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
mẹ, bà con cô bác, chúng cũng chẳng ke (care). Chúng nó lại
quan niệm rằng đặt tên như vậy để nhớ đến người đã khuất.
Có một điều tôi nhận thấy là các chú tôi rất thích uống rượu
đế. Nhất là chú Tường (Sáng). Mỗi buổi sáng ra là đã súc
miệng một xị (chai nhỏ) rồi. Thích uống rượu, nhưng ít khi
thấy các chú tôi say, chỉ chếnh choáng ngất ngư như con tàu
trên sóng nước biển lặng. Rượu các ông uống phải là rượu
“bọt” có “tăm”, tức là phải rượu ngon thượng hạng, rượu
thường hoặc dở, không bao giờ các chú tôi uống.
Gia đình chú thím Tường (Sáng) có 5 người con: Chú Tuyết,
O Đào, Chú Thịnh, chú Thạnh và Chú Thuận (Gia đình chú
Thuận hiện ở Mỹ). Chú Tuyết đã quá vãng cùng thời với chú
Điền con chú Cửu Tán.
Ngoài ra theo sự hiểu biết của tôi, thì ông mệ Nội tôi có ba
người em ruột của ông: hai gái, một trai, có tên sau đây: Mệ
Quảng, Mệ Thập Bộ và ông chú Nguyễn Bình.
* Mệ Quảng sinh một người con trai đó là ông chú Nguyễn
Nguyên (tôi gọi là chú Sáu Nguyên)
* Mệ Thập Bộ sinh ra chú cửu Di và O Hương Ngọc.
Nhắc đến Ông Thập Bộ, chúng tôi còn nhớ một chuyện vui.
Hôm đó một ngày mùa hè nóng bức, chúng tôi, Thông và
Minh, rủ nhau vào thăm ông mệ Thập Bộ và chú thím Cửu
Di. Chúng tôi thấy trước nhà có một cái giếng mới đào và xây
kiên cố phần trên mặt, nước nhiều và trong mát. Chúng tôi
gặp ông đang loay hoay làm việc ngoài vườn trước sân.
Chúng tôi chào ông và chạy lại xem cái giếng mới xây. Chúng
tôi khen ông có cái giếng mới xây đẹp, nước nhiều và trong
mát, tha hồ tắm giặt. Ông trả lời rằng: “Phải đó, nhưng tôi
được một cái là ít tắm”. Chúng tôi cười với nhau mãi về câu
nói của ông. Ông Thập Bộ có thói quen là không bao giờ đội
nón, dù nắng hay mưa, vì vậy trong làng có câu “Ông Thập
không nón”.
* Ông chú Nguyễn Bình, em ruột của ông nội tôi, không lập
gia đình, sống độc thân trơ trọi một mình, nhưng có tình ái
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
với một người bạn gái, sinh ra được ông Nguyễn Huế mà
chúng tôi gọi là chú Huế. Chú Huế khi lớn lên lập gia đình
và sinh các con là Đậu, Kiểng, Trang và một người con gái...
tôi quên tên.
Đặc biệt Ông Chú Nguyễn Bình làm ăn khá giả ở Sàigòn, khi
về thăm làng xóm quê hương, ông thấy nhà thờ không có ghế
ngồi, giáo dân phải ngồi chiếu, nên ông chú đã xuất tiền đặt
mua ghế ngồi trong nhà thờ cho giáo xứ. Việc này xảy ra đã
lâu trong đời nhà thờ trước. Ông chú Bình là người giàu có,
khá giả, nhưng cương trực, oai quyền, nên ba tôi và các cô
chú tôi đều phải kính nể, sợ sệt. Bọn con cháu chúng tôi đều
phải khép nép trước uy quyền của ông Chú. Trong thời kỳ đó,
tôi thấy ông Chú tôi thường mặc đồ tây (complet) trắng, đội
mũ trắng và đi giày trắng, giống hệt một công tử Bạc Liêu ở
Miền Tây Nam Kỳ Việt Nam cùng thời.
* Chú Sáu Nguyên, con trai mệ Quảng, có hai người con, là
cô Duyên (lập gia đình với một sĩ quan QLVNCH, đó là
Trung Tá Viên, người Miền Nam qua đời năm 2003 tại Cali,
và chú Nguyễn Văn Nở hiện ở Aurora, Colorado. Chú thím
Nở có các con, trong đó có có cháu Nguyễn Long thường hay
chơi với các con tôi là Thọ, Trường. Mặc dầu các cháu quen
nhau đã lâu, nhưng không biết có bà con, cho đến khi Chú
Sáu Nguyên và cô Duyên qua Hoa Kỳ nói chuyện hỏi tin tức
mới vở lẽ. Chú Sáu Nguyên cũng đã quá vãng tại California
vào năm 2003.
Trong vườn ông mệ nội tôi, có đào một cái giếng công cộng,
gọi là giếng ông mệ Bản. Giếng được ông mệ cho mọi người
sử dụng, vì nước rất nhiều và trong trẻo mát mẻ. Bà con lối
xóm đều đến đây gánh nước.
Bên cạnh giếng, ông mệ có đào một cái ao trồng môn khá
rộng. Mệ nội tôi nổi tiếng về việc trồng và muối môn, tức là
làm môn chua để nấu canh hoặc kho cá. Hằng ngày mệ tôi
mang môn chua ra chợ bán. Đó là một trong những lợi tức
nhỏ hằng ngày của mệ tôi ở nơi thôn dã. Sau khi bán môn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
xong, mệ tôi dùng số tiền thu được để mua các thức ăn và vật
liệu cần thiết cho gia đình xử dụng.
ĐIỀU 4; GIA ĐÌNH BA MÁ TÔI:
Gia đình Ba Má tôi là một gia đình quyền quí trong làng, vừa
có của lại vừa có tiếng. Không phải có danh tiếng tại làng mà
thôi, mà cả tại tỉnh phủ địa phương. Do đó, thời gian trước
năm 1945, gia đình Ba Má tôi thường tiếp đón quan khách
sang trọng từ Tỉnh hoặc từ Phủ đến. Có khi còn phải tiếp
khách khứa từ các nơi xa đến nữa.
Ba tôi là con trai trưởng trong gia đình ông mệ tôi, do đó Ba
tôi rất có uy quyền đối với các chú thím cô dượng... khi ông
bà nội tôi đã già, giao quyền điều khiển gia đình cho con trai
trưởng là Ba tôi, đó là luật “Quyền Huynh Thế Phụ”.
Nhiều lần, có những việc lộn xộn xảy ra giữa các gia đình cô
chú tôi, đặc biệt là giữa các bà thím dâu, ba tôi phải tập họp
các người trong cuộc và quyết định dàn xếp công việc như
một vị quan tòa. Các đương sự đều tuân lệnh một cách kỷ luật
và trật tự đúng theo sự phán quyết của ông.
Theo Ba tôi kể lại, thủa thiếu thời vì cảnh nghèo khó tại quê
hương “cày lên sỏi đá”, Ba tôi đã giang hồ phiêu bạt để kiếm
kế sinh nhai. Ba đã phải xin phép ông bà nội thoát ly gia đình
thủa mới 12 tuổi, để theo các vị lớn tuổi đi bộ vào Sàigòn
kiếm công ăn việc làm.
Thủa xa xưa không có phương tiện di chuyển, chưa có đường
quốc lộ cũng như chưa có thiết lộ và các phương tiện không
vận. Phương tiện duy nhất là ghe thuyền, nhưng muốn đi ghe
thuyền, lại thiếu tiền bạc. Do đó đi bộ là phương tiện tự túc
thông dụng nhất.
Thời gian đi bộ từ làng vào đến Sàigòn cũng mất gần ba tháng
trời, trong khi nếu có tiền đi ghe thì chỉ mất vào khoảng một
tháng. Sự đi bộ rất khổ nhọc, còn phải lo lắng đến thú dữ và
đề phòng bọn cướp giật. Do đó, người di chuyển bằng đường
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bộ phải có những phương tiện để chống đỡ với bọn cướp và
thú dữ.
Mỗi người đi bộ đường xa, ngoài cái nón lá chắc chắn đội
đầu, phải có một cái tơi dài, gọi là tơi chằm, một loại áo mưa
đan bằng lá kè. Cái tơi này rất quan trọng, được sử dụng để
che mưa gió và chống nắng. Cái tơi được xử dụng như là một
cái nhà di động. Đêm lại, người đi bộ nằm trong cái tơi mà
ngủ.
Ngày đi đường, trong tơi có đủ dụng cụ cần thiết như lược,
kéo, dao cạo râu, khăn, xà phòng v.v... Ngoài cái tơi ra, người
đi bộ đường xa phải mang theo một cái gậy để chống, đề
phòng thú dữ và khi cần quảy gói hành lý.
Hành lý phải gọn gàng và hạn chế nhu cầu tối đa, gồm có vài
bộ áo quần, lương thực và tiền bạc đi đường cùng nồi niêu để
nấu ăn. Tất cả phải nhẹ nhàng tiện lợi dễ di chuyển. Trong
chuyến di hành, nếu gặp sông vào chiều tối là điều rất tốt để
tắm giặt và tạm nghỉ qua đêm, chuẩn bị cho cuộc hành trình
sáng ngày mai. Nếu gặp sông mà trời mưa là một điều chẳng
may, tiếp tục đi nếu trời còn sáng, để chờ con sông khác.
Trong đoàn người có nhiều thành phần, người khỏe mạnh, kẻ
yếu đuối, do đó kẻ đi mau, người đi chậm. Họ tự động chia
ra từng nhóm để đi với nhau. Tuy nhiên khi chiều tối thì họp
mặt tại một địa điểm nghỉ đêm, để cùng nhau cầu nguyện xin
Thượng Đế ban bình an khỏi gặp giặc cướp và thú dữ.
Vì tin tưởng vào Thiên Chúa và Mẹ Maria, nên hầu hết trong
cái tơi của mỗi người đều có mang theo ảnh tượng Chúa và
Mẹ, đặc biệt là tràng chuỗi Mân Côi để cùng nhau họp mặt
cầu nguyện sốt sắng hằng đêm.
Theo lời Ba tôi kể lại thì trên khoảng đường di hành, vùng
đáng sợ nhất là qua khỏi huyện Lệ Thủy vào ranh giới Tỉnh
Quảng Trị, gặp Truông Nhà Hồ và Phá Tam Giang là hai nơi
đất rộng, người thưa, có lắm giặc cướp, đạo tặc. Vì vậy trong
dân gian đã có câu:
“Thương em anh cũng muốn vô,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
(nhưng) sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.
Truông là một khoảng đất hoang rộng, như là một bãi sa mạc
nhỏ, đất đai cằn cõi không trồng trọt được gì, chỉ có cây rừng
hoang dại mọc. Vì là đất hoang không trồng trọt được, nên
dân chúng không ai muốn sống tại đây. Dân Việt Nam phần
đông sống về nông nghiệp, do đó vùng này trở nên hoang vu,
vắng vẻ. Phường vô lại sử dụng để hành nghề trộm cướp.
Khoảng đất hoang này ở vào địa đầu tỉnh Quảng Trị giáp ranh
giới Tỉnh Quảng Bình. Tôi không rõ tại sao lại gọi là Truông
nhà Hồ. Không biết có phải ngày xưa khi nhà Hồ (Hồ Quí
Ly) thất thế, phải chạy vào cái Truông này để ẩn dật?
Phá là một cái hồ thiên nhiên lớn. Tam Giang là tên của cái
phá đó, Phá Tam Giang chạy dài theo bờ biển và cuối cùng
ăn thông ra biển. Thuyền bè cũng có thể vào ra được. Vùng
đất này cũng thuộc vùng đất Quảng Trị.
Truông nhà Hồ và Phá Tam Giang là những địa danh hoang
vu, ngày xưa dân chúng không ai ở, do đó phường giặc cướp
dùng làm nơi sinh hoạt bất lương để trộm cướp kiếm sống
qua thời gian.
Khi đi qua đoạn đường này, bà con cô bác đề phòng cẩn thận,
phải chia đều trai tráng trong đoàn để đề phòng giặc cướp.
Khi có báo động, các thanh niên trai tráng phải sẵn sàng ứng
phó và bảo vệ cho đoàn người di tản, nhất là cho các nữ nhi
và các em nhỏ.
Những sự khổ cực vất vả trên suốt dọc đường cuộc hành trình
không sách vở nào ghi cho hết, không bút mực nào tả cho
cùng. Thời gian khốn khổ qua mau và những người di hành
cuối cùng cũng đã đến được Đồng Nai (Sàigòn).
Ba tôi là một trong những người di hành ấy, lúc tuổi mới 12,
cái tuổi nhỏ bé, lẽ ra được cắp sách đến trường, nhưng vì quê
hương nghèo, đất cày lên sỏi đá, phương tiện giáo dục thiếu
thốn, miếng cơm manh áo đang đòi hỏi cấp bách hơn việc học
hành, do đó ông bà nội tôi đành phải để cho thằng con bé nhỏ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
phải giã từ quê hương, làng xóm và cha mẹ họ hàng để ra đi
kiếm sống.
Vào đến Sàigòn vì còn nhỏ quá chưa thể đi làm được, Ba tôi
phải ở với ông chú Tư Bình, em ruột của ông nội tôi. Ông chú
cho Ba tôi đi học, vừa học chữ vừa học nghề. Là người thông
minh, Ba tôi học rất nhanh và tấn tới.
Trong thời gian này, sau khi đi học về, Ba tôi hay đi ra bến
tàu Sàigòn xem các chuyến tàu từ ngoại quốc đến. Vì có máu
giang hồ khi còn ở tuổi thiếu thời, có lần Ba tôi mạo hiểm
trốn lên một chiếc tàu Pháp chạy qua Hồng Kông. Khi tàu đã
chạy ra khơi, ông trở nên lạc lõng trong tàu. May mắn vì sự
lanh lẹ, Ba tôi được ông Chef cook cho xuống phục vụ trong
nhà bếp, nhờ đó mới có cơm ăn và được trả tiền “tip” chút ít.
Khi tàu trở lại Sàigòn, Ba tôi sợ ông chú Tư Bình la, nên đã
xin với ông quan Tây để được lên tàu qua Pháp luôn. Tuy
nhiên vì không có giấy tờ cũng như còn quá nhỏ, nên lời yêu
cầu của Ba tôi không được chấp thuận.
Ba tôi mò về nhà, bị ông chú cho một trận đòn nên thân. Theo
lời Ba kể lại thì từ đó Ba tôi không còn dám đi hoang nữa, mà
cố gắng học hành vâng lời ông chú. Ba tôi lớn lên trong khuôn
khổ phép tắc mà ông nội và ông chú đã hướng dẫn trong thời
kỳ đó. Công việc của Ba tôi lúc đó là lo học hành về văn hóa
cũng như chuyên môn nghề nghiệp, những phép tắc lễ nghĩa
trong gia đình và ngoài xã hội.
Khi đến tuổi trưởng thành, nhờ sự hiểu biết uyên thâm và rành
mạch về điện thế và sau một thời gian nghiên cứu học hỏi, Ba
tôi được chủ hãng nhà đèn SIPÉA Sàigòn chỉ định vào chức
“Cặp Rằng” (Caporal) tức là chức “Giám thị” (Supervisor).
Càng làm việc, Ba tôi lại càng am hiểu tinh thông nghề
nghiệp. Mọi công việc đều được ông chủ nhà đèn tin cậy và
khen ngợi. Ông chủ nhà đèn đã đề bạt ba tôi vào những công
việc quan trọng trong hãng. Ba tôi kêu gọi các chú em ở ngoài
làng xin phép ông mệ để vào Sàigòn làm việc tại hãng nhà
đèn Sipéa.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Vì kiến thức chuyên môn giỏi, công việc làm chăm chỉ và có
nhiều kinh nghiệm cũng như tinh thần trách nhiệm và óc lãnh
đạo (Leadership), nên Ba tôi được ông giám đốc hãng điện
Sàigòn chỉ định là người lãnh nhiệm vụ “Đem Ánh Sáng Văn
Minh Đến Kinh Đô Huế”, thiết lập hệ thống điện đường, điện
nhà và nhà máy điện tại đó.
Ngày nay gia đình chúng tôi rất hãnh diện, vì ba tôi chính là
người đem điện lực đến miền Trung thuở khai sơ.
Khi hệ thống điện được thiết lập xong tại thành phố Huế, vua
Khải Định rất hài lòng, và nhà Vua muốn gặp riêng Ba tôi để
bàn việc thiết lập hệ thống điện trong Thành Nội. Ngày xưa,
một thường dân được nhà Vua cho yết kiến là một điều rất
hiếm hoi, và là một hãnh diện cho người dân.
Hôm đó, Ba tôi chuẩn bị sẵn sàng, áo quần tây lịch sự, một
người trong Cung Điện mang xe ngựa ra đón. Ba tôi tả lại là
rất hãnh diện sung sướng, nhưng cũng rất e dè sợ sệt. Tuy
nhiên khi vào Cung Điện gặp Đức Vua thì Ngài lại hiền từ,
ăn nói nhỏ nhẹ.
Đức Vua hỏi về kỹ thuật điện như thế nào? Việc thiết lập điện
cho Thành Phố Huế xong chưa? Nếu xong rồi thì Đức Vua
muốn thiết lập điện tại Cung Nội, nơi Đức Vua ở.
Ba tôi cung kính giải thích cặn kẽ... và sau đó Đức Vua đã ra
lệnh phải thiết lập điện trong Cung Nội, và phải ở lại làm việc
trong Cung cho nhà Vua luôn.
ĐIỀU 5. BA TÔI LÀM VIỆC TRONG CUNG NỘI:
Khi đã được bãi chầu, Ba tôi phải trình lại với ông Chủ nhà
đèn, và xin nghỉ việc tại hãng Sipéa. Ông chủ rất tiếc, nhưng
vì có lệnh vua, bắt buộc phải thi hành, không từ chối được.
Ba tôi làm việc tại Cung Nội cho đến hết đời vua Khải Định.
Khi nhà vua băng hà, vua Bảo Đại lên ngôi, Ba tôi đã tiến cử
ông chú tôi là Nguyễn Hứa vào thay thế cho Ba. Chú Hứa đã
làm công việc này cho đến ngày Việt Minh tiếm quyền, và
vua Bảo Đại thoái vị.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sau khi thôi việc tại Đại Nội, Ba tôi đã ra ngoài phố mở một
cửa tiệm buôn bán phụ tùng xe hơi, và độc quyền nhập cảng
xe đạp Saint Étienne, cùng là cho thuê xe hơi du lịch cho du
khách đến Huế đi thăm viếng thắng cảnh.
Cửa tiệm buôn bán của Ba tôi tại Đường Paul Bert, ngang cửa
Thượng Tứ đi ra (Thành Phố Huế), lấy tên là Quảng An. Thời
kỳ ấu nhi, tôi đã sống tại đây lâu ngày, và vì vậy tôi đã nói
tiếng Huế một cách sành sỏi.
Sự buôn bán của Ba tôi ngày càng phát triển nhanh chóng.
Ngoài việc cho thuê các xe nhỏ cho du khách thăm viếng các
nơi danh lam thắng cảnh thành phố Huế, và các nơi lăng tẩm
của vua chúa như Lăng Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh,
Thiệu Trị, Minh Mạng, Khải Định, v.v... Còn những nơi khác
như cửa Thuận An, núi Ngự Bình, Chùa Thiên Mụ... và các
danh lam thắng cảnh thuộc đất Thần Kinh.
Việc cho thuê xe (Rental car) tại Việt Nam không giống như
Hoa Kỳ, vì ở Việt Nam hãng cho thuê phải cung cấp luôn cả
tài xế. Vì vậy trong hãng phải có nhiều tài xế. Các anh tôi đã
trưởng thành, đều là những tài xế cho xe du lịch.
Trong số các tài xế, có anh Nguyễn Chọn là một tài xế giỏi,
cẩn thận. Anh coi Ba tôi như dưỡng phụ, gọi Ba tôi bằng
Thầy. Vợ hai của anh Chọn là chị Hai, chị Hai giúp việc cho
Ba tôi, đi chợ, nấu nướng cho gia đình Ba Má tôi và trông
nom mấy đứa tôi, vì lúc đó mấy đứa tôi chỉ mới 4, 5 tuổi.
Chị Hai nấu ăn ngon vì chị có tài bếp núc. Anh chị Chọn đàng
hoàng và có lễ nghĩa. Đặc biệt anh chị có hiếu với Ba Má tôi,
và thương mến tụi tôi. Vì vậy nên Ba Má tôi cũng thương anh
chị như con cái. Anh em chúng tôi cũng vậy. Anh Chọn có
một người vợ cả ở Vỹ Dạ (Huế) có nhiều con, nhưng chúng
tôi ít liên lạc, do đó không biết về chị Cả.
Số du khách thuê xe, không chỉ đi thăm thắng cảnh chung
quanh cố đô Huế, mà có khi còn yêu cầu lái xe đi Lào,
Campuchia hoặc ra Hà Nội, Hải Phòng. Thỉnh thoảng trong
những chuyến đi xa, Ba tôi tự làm tài xế.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Có lần xe lên Lào, theo lời Ba tôi kể lại, khi xe chạy đến gần
thành phố Savanakhét, xe đậu lại nghỉ dọc đường cho khách
thoải mái theo yêu cầu. Dân chúng Lào sống gần đó chạy ra
xem. Vào thời kỳ đó xe hơi là một sự lạ, nhất là đối với dân
chúng thuộc các nước kém mở mang. Họ bu lại chung quanh
xe, lấy tay sờ mó xe và đưa tay cùng nhau nhắc chiếc xe lên.
Tất cả đều la to “Nắc thè thẹ, nắc thè thẹ".
Ba tôi cũng như các du khách chẳng hiểu họ nói gì, nhưng
cũng lặp lại “Nắc thè thẹ". Sau này hỏi ra mới biết câu đó có
nghĩa là “Nặng lắm, nặng lắm”!
Công việc buôn bán thương mại trong gia đình Ba Má tôi rất
phồn thịnh. Hàng buôn bán nhập cảng từ Pháp quốc. Các đồ
phụ tùng xe hơi, các phụ tùng đồ điện, nhất là độc quyền nhập
cảng xe đạp hiệu Saint Étienne của Pháp, một hiệu xe đạp nổi
tiếng khắp thế giới lúc bấy giờ. Đó là không kể các xe hàng
chở hành khách và xe du lịch bao thuê hằng ngày.
Cửa hàng “Quảng An” tấp nập nhộn nhịp suốt ngày đêm. Sở
dĩ phải làm việc ban đêm là vì các xe du lịch và xe hàng đi
công tác trở về, các toán lau rửa xe (clean up), và thợ máy
phải làm việc ngay khi xe mới trở về, cho kịp các chuyến
công tác ngày mai.
Công tác làm sạch sẽ và điều chỉnh máy móc phải làm suốt
đêm, có khi đến 2, 3 giờ sáng mới xong việc. Ba tôi vẫn hiện
diện với toán thợ máy để theo dõi, hướng dẫn việc tu chỉnh
hoặc sửa chữa máy móc. Không bao giờ Ba tôi đi nghĩ trước
khi xong việc.
Thời gian trôi qua mau chóng, khoảng năm 1940, Ba tôi giao
công việc điều hành buôn bán và việc cho thuê xe cho các
anh tôi trông nom trách nhiệm.
Ba tôi về quê mua một đồn điền (Plantation) tại Thủy Vực,
dưới chân núi Hoành Sơn, gần Đèo Ngang. Thời kỳ đó, tôi
cũng là một thanh niên 15, 16 tuổi. Tôi hỏi Ba tôi:
- “Vì sao Ba về hưu sớm?”
Ba tôi đã trả lời với tôi và Minh, em tôi rằng:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- "Ba có đủ tiền cho ba má tiêu dùng đến già, không cần bôn
chải nữa!”
Do đó Ba tôi mua đồn điền để về hưu dưỡng già.
Đây là một đồn điền khá rộng lớn, nếu tình hình cho phép và
tổ chức chu đáo thì có thể trở thành một nơi trồng trọt và chăn
nuôi lý tưởng. Tuy nhiên vì hoàn cảnh những năm kế tiếp, khi
VM cướp chánh quyền, tình hình đã trở nên bất ổn. Ba tôi chỉ
nuôi bò và trồng trọt qua loa và làm nơi cho chúng tôi tập cày
bừa làm ruộng, và vui chơi trong những dịp nghỉ hè.
Anh Nguyễn Dưỡng, dưỡng tử của chú Sáng (Tường) được
Ba tôi mượn ra trông coi đồn điền này. Khi cuộc chiến bùng
nỗ, không biết anh đi về đâu, chỉ nghe phong phanh rằng anh
di tản ra Kỳ Anh (Hà Tỉnh), lấy vợ và ở luôn ngoài đó, không
biết giờ này sống chết ra sao.
Phong cảnh đồn điền này thật là đẹp, ngoài phần đất canh tác
khá rộng đang phải bỏ hoang, phần đất về phía Bắc giáp núi
Hoành Sơn, có những thác nước với cây rừng như những bức
tranh thiên nhiên tuyệt mỹ.
Những thác nước chảy xưống các hồ rộng, rồi chảy xuôi về
những con suối xa xăm hết sức thơ mộng. Những phiến đá
dài rộng, mặt phẳng phiu nằm dài trên mặt nước, dưới những
rặng cây quít thiên nhiên, cành nặng trịu những quả chín
vàng, làm mồi cho chim chóc và sóc rừng. Hai bên bờ suối
có vô số các loại cây ăn trái, như mít, ổi, xoài, cam, chanh,
mận v.v... không biết ai trồng từ khi nào.
Đặc biệt là sim, sim ở đây quả to bằng đầu ngón tay cái, no
tròn và ngọt lịm. Chuối thì quá lớn, có trái chuối dài cả hai
gang tay. Một người khỏe chỉ có thể ăn một trái là đã ngất
ngư con tàu rồi. Sự kiện cho thấy đất đai tại đồn điền rất phì
nhiêu, màu mỡ tự nhiên, không cần phân bón.
Trong các dịp nghĩ hè, chúng tôi ra đồn điền này chơi đùa
thỏa thích, đi tắm ở các thác nước và ăn hoa quả no nê. Tuy
nhiên phải cẩn thận khi uống nước suối, hoặc bị muỗi đốt là
bị sốt rét ngay. Nước ở đây rất độc. Trong khu vườn của đồn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
điền nhà tôi, có một suối ngầm. Nghĩa là có một cái suối nước
phun lên, rồi chảy ngầm xuống lòng đất, mà không phun chảy
ra ngoài. Nước suối trong veo. Áo quần giặt nước suối này
không cần đến xà phòng mà vẫn trắng tinh. Vì vậy, mỗi lần
ra đồn điền, chúng tôi tập trung áo quần trắng đem ra giặt rồi
mang lại về làng. Sở dĩ phải mang áo quần đi giặt xa như vậy
vì lúc bấy giờ xà phòng rất khan hiếm trên thị trường.
Một điều cần lưu ý là nước suối trong như vậy, nhưng nếu
múc nước này đem đun sôi lên thì nước ấy trở nên đen xì. Vì
nước suối độc như vậy, nên trong khu nhà ở tại đồn điền Ba
tôi có xây một bể cạn (Cistern) lớn để hứng nước mưa, dùng
vào việc ăn uống suốt cả năm.
Việc canh tác tại đồn điền rất hạn chế vì thiếu nhân công, hơn
nữa hoa màu bị thú rừng phá, đặc biệt là heo rừng và các loại
khỉ. Trong trang trại có trồng một ít bắp, nhưng khi đến mùa
thu hoạch, thì bị đàn khỉ xâm nhập phá hoại. Riêng chăn nuôi
thì phát triển mạnh. Ba tôi đã mua và chăn nuôi hằng trăm
con bò. Các đàn bò lại hay bị chó sói tấn công. Hai chân trước
của chó sói có móng dài và rất sắc nhọn. Hễ gặp bò là chúng
táp mạnh chân vào mông con bò, lôi ra cả ruột gan ra, bò quỵ
xuống và chó sói xúm lại ăn ruột con bò bị chúng hạ.
Trong đàn bò, có những con đầu đàn. Gặp trường hợp này,
con bò đầu đàn chạy lại đứng chạng chân lên con bò bị nạn
và quyết chiến, không cho con sói nào nhảy vào ăn ruột con
bò bị nạn được. Nó đứng giữ cho đến khi có người chạy đến
cứu. Người cấp cứu chỉ rửa sạch vết thương, nhận ruột bò vào
bụng và lấy kim chỉ lớn may vết thương lại, sau đó đâm củ
nghệ với tí muối xoa vào vết thuơng. Vài tháng sau, vết
thương lành lại như cũ, bò vẫn khỏe mạnh.
Cuộc sống tại nông trại Thủy Vực rất lý thú, vì được xem
thấy nhiều loại chim và thú rừng rất đẹp và hiếm có. Đặc biệt
có những loài khỉ thông thường chúng tôi chưa bao giờ thấy,
kể cả trong các sở Thú danh tiếng, nhưng chúng lại xuất hiện
tại nông trại chúng tôi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trở lại chuyện anh Chọn và chị Hai:
Vào năm 1945, khi cách mạng bùng nổ, sự buôn bán trong
gia đình tôi bị hạn chế, ba má tôi dự định di chuyển về quê ở
Quảng Bình. Má tôi đã đi về sửa soạn trước. Một hôm anh
Chọn bưng một khay bánh và rượu đặt trên bàn, mời Ba tôi
ra chủ tọa. Anh long trọng chấp tay lạy Ba tôi và xin được
phép từ giã gia đình đi làm việc khác, vì tình hình buôn bán
trong nhà đã bị khựng lại. Và tình thế ngày càng khó khăn
trong việc buôn bán, Ba tôi chấp thuận, và hỏi anh định đi
làm gì ở đâu ? Bấy giờ chúng tôi mới biết là anh được ông
Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng Chính Phủ Xã Hội Chủ Nghĩa
Việt Nam, tuyển chọn làm tài xế riêng cho ông. Ba tôi và anh
em tôi mến chúc anh may mắn trong công ăn việc làm mới.
Anh Chọn và Chị Hai có sinh được một người con gái, đó là
chị Vân, có chồng là anh Khôi, hiện ở San Diego (CA). Có
lần trong bất ngờ, chị Vân đã đến giúp “Baby sit” cho Hiếu
và Thảo con của Huy - Hoa (con gái tôi) tại San Diego. Sở dĩ
nhận ra được là do bức hình của chúng tôi mà Huy Hoa treo
trong nhà. Chị em mừng rỡ và thương yêu quí mến nhau quá
chừng.
ĐIỀU 6 : KỶ LUẬT GIA ĐÌNH
Gia đình Ba Má tôi là một gia đình rất trọng lễ giáo. Có lẽ vì
Ba tôi chịu ảnh hưởng cuộc sống trong Cung Nội nhà Vua,
nên Ba tôi dạy dỗ con cái rất nghiêm khắc, tinh thần trách
nhiệm rất cao. Ba tôi đã dạy con cái phải biết làm mọi công
việc từ trong nhà, ra đồng áng, cũng như công việc buôn bán.
Ba tôi thường dạy chúng tôi rằng:
- "Các con phải hiểu biết và làm được mọi công việc, để sau
này có thể làm Thầy được, và làm Tớ cũng được, tùy theo
hoàn cảnh và thời gian. Các con phải nhớ một điều là chỉ cần
chịu khó học hỏi mà thôi".
Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1943, 1944, thời kỳ Nhật xua
quân xâm chiếm các nước Á Châu, Ba tôi tiên đoán chiến
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
tranh sẽ xảy ra, và Ba tôi bắt tất cả các con phải biết nấu ăn.
Trong gia đình mọi người phải ra đồng làm việc, và hằng
ngày, một người luân phiên ở nhà lo việc nấu ăn cho cả gia
đình. Hơn nữa, khi chiến tranh xảy ra, có thể thất lạc mỗi
người một ngả, lúc đó mạnh ai phải tự lo cho mình, nếu không
biết nấu ăn thì thì có gạo đó, làm sao ăn, lúc đó ai sẽ lo cho.
Má tôi là một người đàn bà đảm đang, mặc dầu trong nhà có
người giúp việc, nhưng má tôi nấu ăn ngon, nhất là các món
kho cá mặn kiểu Huế và các món nhậu. Có lẽ vì thế nên các
anh em tôi đều biết nấu ăn, mà nấu ăn ngon mới là đáng nói!
Tuy nhiên, sau này vì anh em chúng tôi có các hiền thê lo
lắng việc nấu nướng, nên vấn đề bếp núc của các ông bị xao
lãng. Ba tôi có thói quen ăn cơm rất lâu, gần hai tiếng đồng
hồ. Trong bữa ăn, ông thường uống một ly rượu đế nhỏ, khi
bắt đầu là Ba tôi nhắm rượu với thức ăn (món nhậu). Ông vừa
nhậu vừa giảng giải việc đời cho con cái nghe. Những tiết
mục thường bao gồm hiếu thảo, lễ nghĩa, bổn phận làm trai,
tinh thần trách nhiệm, lễ giáo gia đình, công ăn việc làm, hiếu
nghĩa con cái đối với cha mẹ v.v...
Mới đầu tôi còn chú ý nghe Ba tôi nói, nhưng ngày này qua
tháng khác, cũng một đề tài ấy, nên đâm ra nhàm chán. Tuy
nhiên, vì kỷ luật gia đình, chúng tôi không dám nêu thắc mắc
hay tỏ ra không nghe lời của Ba tôi dạy. Ba tôi nói thì cứ nói,
còn con cái phải làm thinh mà nghe, không được có ý kiến
hay có lời phản đối. Đó cũng được xem như là kỷ luật trong
gia đình. Tuy nhiên, những lời dạy của Ba tôi đã ảnh hưởng
sâu đậm vào tâm hồn chúng tôi.
Một vấn đề trật tự khác, đó là trong anh em chúng tôi có người
nào làm việc sai trái, phải bị trừng phạt bằng roi. Roi là một
hình phạt thông thường được xử dụng ở Việt Nam. Trong khi
ăn, Ba tôi giảng giải lý do tại sao. Và anh em chúng tôi người
nào có tội là phải bị phạt bằng roi.
Bởi vậy, nếu tội nặng thì phải vác cái roi, chờ Ba tôi ăn cơm
xong là nằm xuống, để cái roi trên mông và chờ trị tội. Ba tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lúc đó cầm cái roi lên và giảng giải phải quấy. Khi giảng giải
xong Ba tôi hỏi đã hiểu đạo lý của gia đình và xã hội trong
vấn đề chưa? Tội nhân phải đáp “Thưa Ba con hiểu rồi”, sau
đó Ba chỉ quất một roi cho có lệ, rồi tha.
Bấy giờ người có tội phải quỳ lên, khoanh tay hứa “Thưa Ba,
con xin chừa, không dám tái phạm”. Kỷ luật này chỉ áp dụng
cho con cái khoảng 14, 15 tuổi trở xuống, khi đã lớn rồi thì
Ba chỉ giảng giải cho mà nghe, ít khi sử dụng đến roi vọt.
Thực ra, đây chỉ là khuôn phép trong gia đình mà thôi. Ở Việt
Nam, theo phong tục tập quán xưa, việc dạy dỗ con cái phải
dùng đến roi vọt, vì thế mới có tục ngữ “Thương cho roi cho
vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Vì thế, chúng ta thấy ở Việt
Nam trước 75, con cái trong các gia đình đều có lễ phép trong
cách ăn nói, hành động cử chỉ.
Bởi vậy, dạy dỗ con cái là bổn phận của cha mẹ. Không dạy
dỗ con cái, nuông chiều chúng quá sức, hoặc dạy quá trớn
bằng roi vọt, chửi bới quá lỗ mãng trong cách ăn nói, đều
không nên!
Do kỷ luật nghiêm khắc như vậy, con cái cũng như người
giúp việc trong gia đình đã tỏ ra rất khuôn phép, rất kính trọng
và nể sợ Ba tôi. Ba tôi thường nói: “Để duy trì kỷ luật nguyên
tắc trong gia đình thì cha mẹ thương con đừng cho con biết,
chồng thương vợ đừng cho vợ hay!”
Sở dĩ có câu sau, vì ngày xưa ông bà ta quan niệm rằng
“Chồng Chúa, vợ tôi”. Một người đàn ông có thể lấy nhiều
vợ, năm thiếp bảy thê, nhiều nàng hầu. Nếu ông chồng tỏ ra
thương yêu bà vợ nào, nàng hầu nào thì sẽ có sự phân bì ghen
tuông gây nên sự chào xáo trong gia đình. Quan niệm đó nay
đã lỗi thời, cổ hủ, chế độ đa thê không còn áp dụng tại các
nước văn minh tiền tiến nữa.
ĐIỀU 7 : SỰ NHÂN ĐỨC CỦA MÁ TÔI:
Má tôi tên Nguyễn Thị Quyến, trùng tên với nhạc mẫu tôi,
tức là má của bà xã trước của tôi Nguyễn Thị Hạnh, người vợ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
yêu quí của tôi đã quá vãng khi vừa đến Hoa Kỳ chưa đầy
một năm với tuổi đời vừa 44.
Má tôi nhân đức, hiền hậu và rất thương người. Tình thương
đã thể hiện qua những năm đói kém, đặc biệt là năm Ất Dậu
1945. Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này sau.
Má tôi sống cuộc đời bình dân, thương yêu nuông chiều con
cái muốn gì được nấy. Có thể nói má tôi quá cưng chiều
chúng tôi. Vào khoảng cuối năm 1947, không hiểu tại sao, cái
tủ đựng áo quần của má tôi để trong buồng riêng bị mối xông
lên làm tổ và cắn hết tất cả áo quần và trang sức cũng như
những đồ vật quí giá, tiền bạc giấy tờ của má tôi, đến nỗi má
tôi không còn một bộ quần áo nào tương đối tốt còn nguyên
vẹn để mặc khi đi ra ngoài. Sự việc này xảy ra trong thời gian
ngày mùa gặt lúa, bới khoai .
Tất cả mọi người, kể cả Ba Má tôi, đều bận rộn cho mùa gặt,
không có thì giờ coi ngó việc trong nhà, nên đã xảy ra tai nạn
mối xây tổ vào tủ áo má tôi như vậy. Theo sự tin tưởng của
người xưa, thì đây là một điềm xấu cho má tôi và cho gia
đình.
Sau đó, má tôi đã hơn một lần nói với chúng tôi là nếu có thể
may cho má tôi một bộ đồ dài đen “vải ú”, một loại vải bình
dân mà người dân quê rất ưa thích lúc bấy giờ, để má tôi mặc
đi xem lễ hoặc khi cần thiết đi ra ngoài. Lúc bấy giờ, chúng
tôi đã không có khả năng thực hiện được lời yêu cầu của má
tôi.
Cho đến hôm nay, khi ngồi viết mấy hàng này, nước mắt lưng
tròng mà lòng tôi vẫn còn ân hận, vì đã không đền đáp được
công ơn má sinh thành nuôi dưỡng thương yêu, dù là thực
hiện một yêu cầu quá nhỏ bé thế kia của người mẹ đáng yêu,
trong cơn thất thế gặp hoạn nạn.
Sở dĩ tình trạng tồi tệ như vậy là vì lúc bấy giờ VM vừa lên
cướp chánh quyền, không có một món hàng nào tồn tại mà
không bị tịch thu, sung công. Điềm xấu thấy rõ: Qua năm
1948, má tôi bị bịnh cảm cúm thông thường, nhưng tại quê
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nhà không thể nào mua được thuốc uống, không có bác sĩ
chăm sóc, nên má tôi đã trút hơi thở cuối cùng trong sự
thương tiếc vô ngần của các anh em chúng tôi.
Tôi còn nhớ má tôi mất vào ngày mồng 10 Tháng Giêng Âm
Lịch (Năm 1948) Khi liệm má tôi vào hòm, chỉ có hai anh
em, tôi và chú Minh lo lắng. Chú Toàn lúc đó còn nhỏ, chỉ
chạy quanh làm các công việc vặt.
Không có một miếng vải nào tương đối lớn đủ để bọc thi hài
má tôi. Chúng tôi đành quyết định dùng cái mền bông mà má
tôi thường dùng đắp ngủ, để quấn thi hài má tôi liệm vào hòm.
Vì dù sao thì cái mền bông tương đối lớn đủ để tẩm liệm.
Trong khi viết mấy hàng này con cũng nguyện xin má dấu
yêu tha thứ cho chúng con, vì hoàn cảnh lúc bấy giờ, chúng
con không biết xoay sở làm sao hơn. Có lẽ má tôi cũng thông
cảm tội nghiệp cho chúng tôi, nên sau khi quá vãng, má đã
phù hộ cho chúng tôi trở nên khá giả, làm ăn phát đạt hơn.
Chúng con không bao giờ quên ơn Má.
Trong tâm tư chúng con vẫn hối tiếc, âm thầm mơ ước chớ gì
Má còn sống để chúng con còn có dịp đền ơn báo hiếu, hoặc
má nán sống thêm vài chục năm sau, thì chúng con đã lo lắng
đầy đủ cho má hơn gấp bội. Và với thời gian tuổi thọ thêm
đó, Má cũng sẽ hãnh diện về các con đã khôn lớn, ăn nên làm
ra, không còn vất vả như những ngày trước kia, ngày mà Má
chỉ xin một bộ đồ “vải ú” đơn sơ hèn mọn mà cá nhân con lo
không nỗi. Thật là thậm tệ và ray rứt!
Trở lại nạn đói năm Ất Dậu 1945, những người đương thời
vẫn còn kinh hoàng về cảnh chết chóc, mà tổng số người chết
đói lên đến hai triệu nạn nhân, làm cho mọi người đều kinh
hoàng lo sợ.
Để giúp đỡ cứu đói phần nào, hằng ngày má tôi phải nấu cơm
nhiều hơn, có khi còn kèm thêm một nồi cháo, để phân phát
cho những người kém may mắn. Tuy nhiên người đói quá
nhiều, sự phân phát cứu đói chỉ là tượng trưng, không có đủ
lương thực để phân phát cho hết mọi người.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trong làng Đơn Sa, phần đông đồng bào không bị cảnh đói
khát, tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng của nạn đói đó. Ba tôi
thì lo xa, không biết nạn đói bao giờ mới chấm dứt, do đó Ba
dặn dò trong nhà phải tiết kiệm đến mức tối đa.
Đúng là “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” (Giữ lúa gạo
phòng đói, giữ áo quần phòng lạnh). Má tôi cũng lo xa vậy,
nhưng mỗi lần có người làng đến thăm, bề ngoài nói là thăm,
nhưng thâm ý là hy vọng có được một vài món thực phẩm,
cầm lòng không đậu, do đó mỗi lần như vậy là Má tôi cũng
giấu diếm Ba gói cho vài ba lon gạo, năm ba củ khoai, hoặc
vài lon bắp khô v.v.. .
Sở dĩ má tôi phải giấu giếm vì nếu Ba tôi bắt gặp thì thế nào
cũng có chuyện chào xáo trong gia đình. Má tôi thường nói:
“Mình nhịn một chút cũng chẳng sao, nhà kia đàn con còn
nhỏ dại, chúng không nhịn đói được, tội nghiệp cho chúng!!!”
Lòng thương người của má tôi đã nổi tiếng, do đó những
người bà con nghèo đói trong làng thường đến thăm Má tôi
trong những dịp không có Ba ở nhà.
Vì sự hiền hậu và nhân đức đó, Má tôi được mọi người trong
làng kính trọng và thương yêu, từ người già đến người trẻ, từ
người sang trọng giàu có đến người nghèo hèn. Đó là một
điều hãnh diện cho gia đình tôi mà chúng tôi được thơm lây.
Vì sự nhân đức của Má tôi như thế nên con cái được hưởng
phước đức của Ông Bà: "Con gái nhờ phúc Cha, con trai nhờ
phúc Mẹ”. Đó là câu phương ngôn thông thường ở cửa miệng
người dân Việt.
Ba Má tôi có Tám người con trai. Tương đối anh em chúng
tôi có sự may mắn thành công trên trường đời. Phải chăng
chúng tôi đã nhờ phúc đức của Bà Mẹ hiền?
Sau khi Má tôi đã quá vãng, Ba tôi bị liệt vào hàng địa chủ,
nhà cửa bị tịch thu, Ba tôi bị bắt bỏ tù. Hai người em nhỏ là
Minh và Toàn phải chạy vào Đồng Hới với chúng tôi.
Khi ở tù về, Ba tôi bơ vơ lạc lõng. Buộc lòng Ba tôi phải tục
huyền để có người lo lắng trong ruộng vườn, nhà cửa. Mối
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
tình sau của Ba tôi đã đưa đến một em trai được đặt tên
Nguyễn Hồng Thịnh sinh năm 1953. Đây là người em cùng
Cha khác Mẹ. Như vậy Ba tôi có tất cả chín người con trai.
ĐIỀU 8 : CÁC ANH CHỊ EM TÔI
Các anh em tôi được cha mẹ sinh ra đều là con trai, Ba Má
tôi rất muốn một con gái, nhưng số trời không cho, bởi vậy
Ba Má tôi đã nuôi nhiều dưỡng nữ mà tôi sẽ đề cập đến các
chị sau. Một cách tổng quát, tất cả các anh chị em tôi đều rất
thương yêu nhau, kính nể nhường nhịn nhau, và luôn sẵn sàng
giúp đỡ đùm bọc nhau trong mọi hoàn cảnh. Trong gia đình,
không bao giờ có sự tranh chấp cãi lộn vì bất kỳ một công
việc hay một vấn đề gì, dù lớn hay nhỏ.
1*- Người anh cả là Nguyễn Xướng, sinh năm 1912, và đã từ
trần ngày 23/03/1968. Anh là người con trưởng của gia đình
ba má tôi, một người rất tháo vát, lanh lẹ, mẫn cán. Tánh tình
anh hiền lành chân thật, thương yêu em út. Anh dễ xúc động,
gặp trường hợp mủi lòng là anh hay chảy nước mắt. Anh giỏi
tiếng Pháp, vì ngày xưa Ba Má cho anh đi học trường Tây.
Anh nói tiếng Pháp như Tây. Hơn nữa dung nhan anh giống
như người Âu Châu với mũi cao, tóc quăn, mắt hơi sâu, nên
người lạ tưởng anh là Tây thật. Anh lập gia đình với chị
Nguyễn Thị Phi, sinh năm 1916, chị đã quá vãng vào ngày
21/02/2000 con Ông Bà Nguyễn Di, một gia đình giàu có
trong làng, “Môn đăng hộ đối”. Anh chị sinh được 8 người
con. Lúc anh chị Xướng Phi cưới nhau, tôi còn nhỏ, tôi không
biết rõ mối tình anh chị “Xướng Phi” ra sao, và vì cơ duyên
nào anh chị đã thành lập gia thất với nhau. Tôi chỉ nghe phong
phanh rằng trước khi anh chị lập gia đình, Ba Má tôi đã có ý
định cưới chị Hồng (con Ông Mệ Cửu Nhự) cho anh Xướng,
nhưng việc không thành, tôi không biết lý do tại sao. Chị
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồng sau này lập gia đình với anh Phương, em chị Phi. Anh
chị Xướng Phi có tám (8) người con sau đây:
- Chị Nguyễn Thị Chánh, con gái đầu lòng, chị lập gia đình
với anh Cung, con ông bà Thứ, người cùng làng Đơn Sa. Anh
chị sinh hạ được một người con trai tên Khuê, đẹp trai, học
giỏi, đã tốt nghiệp Đại Học với bằng Kỹ Sư. Anh Cung bị nạn
và mất tích trong thời kỳ chiến tranh. Sau này được tin anh
đã tử thương trong một cuộc phục kích... Mẹ góa con côi, chị
Chánh và con lên đường tị nạn Hoa Kỳ cuối tháng 4 năm
1975. Tại đây, chị đã gặp một người bạn đời tâm đầu ý hiệp
cùng nhau kết nghĩa trăm năm. Đó là anh Bang Tươi, một cựu
Sĩ quan QLVNCH. Cuộc tình duyên đã đem lại cho anh chị
một cô con gái tên Ánh. Nghe đâu cháu Ánh có khả năng về
âm nhạc, đàn piano giỏi, nhưng chưa có dịp biểu diễn cho bà
con cô bác thưởng thức nghe chơi. Hiện anh chị Tươi Chánh
định cư tại Houston, Texas. Khi viết về gia đình anh chị năm
2000, thì anh đang chuẩn bị để trở thành một Bác sĩ Đông Y
và nghiên cứu về khoa châm cứu (Acupuncture). Ngoài ra
cũng nghe nói anh chị mở cơ sở thương mại ở Houston.
- Anh Nguyễn Ngọc Nhiệm, người con thứ hai nhưng là trai
trưởng trong gia đình và cả trong họ tộc. Anh là Sĩ quan Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh bị kẹt lại trong mùa quốc nạn
tháng 4/1975 nên bị tù đày trong các trại Tập Trung Cải Tạo
tại miền Bắc Việt Nam. Được chánh quyền Mỹ can thiệp, anh
được thả ra, và được đưa qua định cư tại Houston, Texas (Hoa
Kỳ) theo chương trình H.O. Cuộc sống của anh bị xáo trộn
nhiều, từ tinh thần đến vật chất, vì ảnh hưởng nhiều của
những năm tháng tù đày trong lao tù cộng sản. Khi còn ở Sài
Gòn anh đã kết duyên với chị Liên và sinh hạ được hai gái,
tôi biết một cô tên Nguyễn Lưu Ly Thảo hiện định cư tại
Houston, Texas. Khi định cư tại Houston, anh chị Nhiệm đã
ly hôn.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sau này, anh kết hôn với chị Phương Lan, sinh ngày
06/07/1941, gốc An Cựu, Huế. Cầu chúc cho anh chị có được
cuộc sống sung mãn và thành công tốt đẹp.
- Chị Nguyễn Thị Trinh, người con gái có nhan sắc của gia
đình anh chị cả. Chị Trinh khi còn ở Việt Nam đã có chồng
tên Tòng, và sinh hạ được một người con trai tên Long. Tuy
nhiên, vì hoàn cảnh năm 1975, chồng chị thất lạc, chị phải dắt
con thơ chạy loạn theo mọi người, và đã tị nạn sang Hoa Kỳ,
sau đó nghe nói kết hôn với một bác sĩ người Mỹ.
- Anh Nguyễn Đức, một thanh niên cao ráo, thành công trong
công ăn việc làm. Anh kết duyên với cô Nga, con gái anh chị
Như, có được một ái nữ.
- Anh Nguyễn Hiếu, bị kẹt lại Việt Nam và đã quá vãng năm
1997 vì một cơn bịnh nan y. Theo tin tức cho biết thì anh đã
kết hôn và có một con gái 14 tuổi.
- Chị Nguyễn Thị Thiện, cũng đã lập gia đình và nghe đâu có
một con trai. Chị Thiện đã chăm sóc cho bác Gái trong cơn
bịnh hoạn cho đến khi Bác trút hơi thở cuối cùng.
- Anh Nguyễn Khánh, người con thiêng liêng do tôi làm bố
đỡ đầu rửa tội. Anh nhỏ con, nhưng rất lanh lẹ, thông minh,
đã thành công trong công ăn việc làm ở Hoa Kỳ. Anh Khánh
lập gia đình với cô Phượng và có ba con. Anh đã cũng cố sự
liên lạc với Bố đỡ đầu kể từ cuộc Họp Mặt Gia Tộc năm 1999.
- Chị Nguyễn Thị Hương, người con gái út của hai Bác.
Chồng của chị là anh Bùi Thiết Hùng, cựu Sĩ Quan Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, bị ở tù cải tạo & đã qua Hoa Kỳ theo
diện HO. Anh chị Hùng Hương đã có một cháu tên Long.
Các anh chị con Bác Xướng đã lập gia đình và con cháu đầy
đủ, ăn nên làm ra và hiện đa số sống tại Texas Hoa Kỳ (Thành
phố Houston).
Bác Xướng trai trước đây hút thuốc lá nặng và uống nhiều
rượu mạnh, nên bị bệnh đau gan và đã từ trần. Theo Bác sĩ
cho biết thì Bác trai bị chứng ung thư gan nặng. Thời gian
này tôi được chỉ định theo học khóa chuyên môn Binh Chủng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ngành Quân Vận tại Hoa Kỳ, không thể dự đám tang anh
được.
Anh Xướng đã gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, sau
đó bị gãy chân phải băng bó nhiều ngày tại Bệnh viện Đồng
Hới, thời gian sau đó được giải ngũ.
2*- Người anh thứ hai là Nguyễn Suất, cao ráo, đẹp trai, tóc
quăn, mũi cao, nói tiếng Pháp giỏi vì được Ba Má cho học
trường Tây. Tánh tình anh vui vẻ, nghịch nhưng hiền, đã tỏ
ra thương yêu và rộng rãi đối với em út. Sở dĩ tôi nói anh
nghịch là vì có một lần ở Huế, lúc đó tôi khoảng 7 tuổi đang
ở trong nhà vệ sinh. Anh mang mặt nạ, mở cửa cầu tiêu nhát.
Tôi thất kinh hồn vía vì chưa thấy cái mặt nạ ghê gớm đó bao
giờ. Ba ngày sau tôi không dám vô lại cầu tiêu.
Tôi còn nhớ một kỳ nghỉ hè, tôi vào Huế ở với anh Suất, lúc
bấy giờ anh Xướng đã ra ở riêng, vào Sài Gòn làm ăn và anh
Suất quản lý cơ sở thương mại của Ba Má ở Huế. Đó là dịp
Ba Má cho may sắm áo quần hằng năm. Thông thường thì Ba
bảo may hai bộ áo quần dài, nhưng năm đó anh Suất đã may
cho tôi ba bộ áo quần dài và nhiều áo quần lót. Anh bảo: "Anh
may cho nhiều áo quần để em lo học cho giỏi.” Tôi vui và
cảm động quá, chỉ trả lời nhỏ nhẹ “cám ơn anh”.
Một lần khác, tôi đi ra học trường Probatorium ở Phủ Diễn
(Nghệ An) sau kỳ nghĩ hè. Khi đi qua Vinh, trời tối, tôi phải
ngủ tại phòng trọ. Tôi bị kẻ gian moi lấy hết tiền bạc để trong
túi áo, khoảng $10.00. Đây là một số tiền lớn lúc bấy giờ. Ba
Má cho để tiêu dùng suốt năm học về sách, giấy bút mực v.v..
.Tôi phải nhờ bạn cho mượn tiền đi xe về Trường. Tôi đã thưa
trình với Ban Giám Đốc nhà Trường. Cha Le Galle, thầy dạy
học tôi, ngài quá thông cảm, đã cho tôi 1 đồng. Tôi phải viết
thư cầu cứu các anh ở Sài Gòn mà không dám trình sự việc
cho Ba Má biết sợ bị rầy. Anh Suất đã gửi cho tôi $5.00, một
số tiền tương đối lớn thời bấy giờ, tương đương gần cả một
tháng lương công thợ. Cử chỉ của anh đã làm cho tôi vô cùng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
cảm động, lòng mong ước có dịp gặp lại anh để nói lời cám
ơn và cùng là đền ơn đáp nghĩa. Nhưng số trời định, tôi đã
không được gặp lại anh từ dạo ấy.
Nhắc lại chuyện cũ. Anh thành lập gia đình với chị Nguyễn
Thị Huệ, con ông bà Đội Nguyễn Giai, Thủ chỉ làng Đơn Sa
lúc bấy giờ, (Cước chú: Thủ chỉ là chức vụ lớn nhất trong
làng). Câu chuyện tình cảm của anh chị Suất Huệ rất là vui
và hi hữu. Thực ra vào thời kỳ đó, “cha mẹ đặt đâu con ngồi
đó”. Chuyện dựng vợ gã chồng đều do cha mẹ quyết định,
con cái chỉ vâng lời theo mà thôi, không được bàn cãi.
Ngày đó anh Suất ở Huế về làng và anh biết chị Huệ rất e
thẹn và nhát gan. Anh bảo tôi:
- “Ê, Thông, mầy có biết mặt chị Huệ không?”
Tôi giả làm bộ ngây ngô:
- “Chị Huệ nào?”
- “Thì chị Huệ con Ông Mệ Đội Giai đó!”
Tôi trả lời ra vẽ mơ hồ:
- "Em biết chứ, nhưng không rành lắm”.
Anh Suất năn nỉ tôi:
- "Mày làm ơn đưa tao ra nhà Ông mệ Đội, vào nhà bất ngờ
và nhớ chỉ chị Huệ cho tao xem mặt nghe, tao cho 1 đồng”.
Được $1.00 mừng quá, tôi đưa anh đi ngay. Vừa vào đến cửa
vườn, gặp Ông Đội đang chặt cây tre, tôi lên tiếng chào và
giới thiệu anh với Ông Đội, vì đây là lần thứ nhất hai cha con
mới gặp nhau. Chị Huệ trong nhà lăng xăng chạy ra, có ý giúp
Ông, vì không biết có người đến. Tôi liền nói nhỏ với anh:
- "Chị dâu ra kìa!”
Anh ngớ ngẩn:
- "Chị dâu nào?”
- “Thì vợ tương lai của anh chứ còn nào với gì nữa?”
Thực ra thì chị Huệ cũng chưa thấy anh Suất bao giờ. Nhưng
lúc ấy chị thấy tôi, linh tính cho chị biết đó là anh Suất. Ấy
thế là chị chạy một mạch vào nhà trốn biệt, trong khi đó anh
đang phải đỡ cây tre trong nhiệm vụ “làm rể”, anh chỉ mới
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thấy thoáng qua, chưa kịp nhìn rõ mặt vợ. Cứ mỗi lần như
vậy là tôi lại phải đi với anh. Không biết tại sao, chị quá e lệ
mắc cỡ, hễ cứ mỗi lần anh đến nhà là chị chạy trốn. Có lần
anh bảo tôi:
- "Mầy đi với tao, mầy chận lối này, tao đuổi lối kia, thế nào
cũng bắt được!”
Mối tình “Tìm Trốn” này không biết đến bao giờ, nhưng kết
cuộc anh chị đã cho cho ra đời một ái nữ xinh xắn, mủn mỉm
tóc quăn giống Ba, xinh đẹp nhất là ở tuổi Búp Bê và tuổi con
gái dậy thì. Người con duy nhất yêu quí đó là Nguyễn Thị
Sen (Vợ anh Hồ Khắc Nghiêm). Anh chị Nghiêm Sen đã sinh
được nhiều cháu. Sau đây là các cháu trai: Hồ Khắc Hoàn,
sinh năm 1956, đã lập gia đình và mất vì bịnh ung thư ở
Chicago năm 2013. Hồ Khắc Dũng, sinh năm 1958, vì bạo
bệnh đã qua đời sớm ở tuổi thanh xuân. Hồ Khắc Chí, sinh
năm 1960, lận đận tình duyên trong mối tình đầu. Hồ Khắc
Tâm, tự cu Tèo, sinh năm 1967, một thanh niên khỏe mạnh,
thích nhậu... Con gái Anh Chị Nghiêm Sen gồm có: Hồ Thị
Tuyết Mai (1954); Hồ Khoa Diệu Hương (1962); Hồ Khoa
Diệu Xuân (1964) và một cặp song sinh Hồ Khoa Anh Linh
và Hồ Khoa Diệu Linh (1970) Hai cô bé song sinh này giống
nhau như hai giọt nước, nếu không quen rất khó phân biệt.
Các chị em gái đã lập gia đình và đã có con cái.
Bác gái Suất và anh chị Hồ Khắc Nghiêm hiện định cư tại
Hanover, New Jersey, USA. Anh chị Suất Huệ chỉ sinh được
một người con gái duy nhất, đó là cháu Nguyễn Thị Sen mà
thôi. Sở dĩ anh chị Suất Huệ chỉ sinh được một cháu là vì khi
chị về quê sinh cháu đầu lòng tại nhà Ông Mệ Đội theo phong
tục tập quán “Con So Về Nhà Mẹ”, sau đó thì chiến tranh
loạn lạc khắp nơi bắt đầu, sự liên lạc giữa Sài Gòn và Miền
Trung bị gián đoạn. Một mình anh ở lại nơi đất khách trong
thời gian Quân Đội Pháp trở lại Sài Gòn. Anh bị đau cảm
nặng, không người chăm sóc lo lắng thuốc men, không nơi
trú ngụ, nên anh đã quá vãng trong đau thương buồn tẻ, không
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
có một người thân bên cạnh, xác anh được chôn cất nơi nào?
Không ai biết được để tiện bề hương khói và viếng thăm.
Em rất buồn và đau khổ khi viết tin này về anh, một người
anh mà em út luôn luôn kính trọng và quí mến. Em ước mong
có dịp đền đáp tấm lòng thương yêu của anh đối với em,
nhưng hoàn cảnh đã ngăn cách. Cầu xin Chúa thương ban cho
anh hạnh phúc trường cửu nơi cõi trường sinh.
3*- Người anh thứ ba là Nguyễn Trí. Anh Trí có tầm vóc
thấp hơn hai anh Xướng và Suất, nhưng lại có sự chững chạc
về bề ngang. Anh cũng rất thương yêu em út. Khi mới đến
tuổi trưởng thành, tức là lúc khoảng 20 tuổi, anh đã lập gia
đình với chị Nguyễn Thị Khánh, con gái của Ông Mệ Bang
Nghiệp, nhà ở sát sau lưng nhà ba má tôi. Sau khi cưới vợ,
Ba má cho anh vào Huế tập sự công việc với anh Suất trong
việc buôn bán và điều hành xe cộ. Mới ở quê vào thành phố,
nhưng anh cứ nài nỉ anh Suất cho tập lái xe hơi. Vì để cho
anh quen việc và quen cuộc sống trong thành phố, hơn nữa
anh Suất quá bận việc, nên luôn miệng bảo anh Trí: “Hãy từ
từ đã nào!” Tuy nhiên ở cái tuổi 20, nôn nóng muốn biết lái
xe ngay nên một buổi chiều nọ, anh Trí tự động lên ngồi vào
tay lái chiếc xe mới “Citroen” của Ba vừa mua ở Pháp mới
mang về. Anh tự động mở máy, sang số, đạp ga và xe chạy
nhanh đâm vào một gốc cây to bên đường, thường gọi là cây
“Bút, bút.” Đầu xe bị dẹp dúm, máy xe bể, thùng xe bị cong
queo, v.v... May không đụng phải người nào. Ba đang ở
ngoài làng, một mình anh Suất lo lắng mọi công việc. Tuy
nhiên anh Trí sợ quá, nên đêm hôm đó anh đã khăn gói trốn
đi Sài Gòn luôn. Trong khi đó, cả nhà không biết anh đi đâu.
Mọi người đi tìm anh tán loạn. Đêm hôm đó anh Suất phải
viết thư báo cáo cho Ba biết sự việc. Anh Trí đã đi rồi, tránh
nợ. Riêng tội nghiệp anh Suất đã bị Ba cho một trận la nên
thân. Đúng là “Ách giữa đàng, mang vào cổ”, “Con mèo đập
bể nồi rang, con chó chạy lại mà mang lấy đòn”. Trước sự
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thịnh nộ của Ba, Anh Suất chỉ im lặng nhận tội, không dám
nói năng gì.
Khi còn nhỏ, tội nghiệp anh Trí không được Ba cho đi học
trường Tây, Ba bắt anh đi học chữ Nho. Ba bảo rằng: “Mấy
đứa lớn học chữ Tây rồi, thằng Trí phải học chữ Nho để còn
đọc mấy cái khế ruộng (Khế ruộng là giấy tờ mua bán ruộng
đất). Do đó, trên nguyên tắc anh Trí giỏi chữ Nho. Tuy nhiên,
vì không dùng đến hằng ngày, năm thì mười họa mới nhìn
đến khế ruộng một lần, nên “chữ nghĩa đã trả lại cho thầy
hết.” Vào làm ăn ở Sài Gòn một thời gian, công ăn việc làm
khó khăn, khó sống nên anh đi sang Vạn Tượng (Vientiane,
Lào) làm nghề thợ điện ở trên đó. Lý do là vì ở Lào có anh
Nguyễn Khôi, là anh ruột chị Khánh làm việc ở trên đó, có
gửi thư gọi anh Trí lên. Nhờ vậy mà anh Trí biết khá tiếng
Lào và phong tục tập quán của họ. Anh đã vào làm thợ điện
trong Đài Phát Thanh Vientiane, một thành phố lớn tại Lào
quốc. Sau đó vì chiến tranh loạn lạc, anh đã trở về lại Việt
Nam sống với gia đình vợ con.
Tánh tình anh Trí hiền lành, siêng năng, chăm chỉ. Anh có
tính nghịch ngầm. Khi còn nhỏ, anh quan sát con gà mái đẻ,
anh nói rằng: “Không cho nó đẻ, để mình moi trứng ra”. Anh
bắt con gà mái ra và lấy tay moi trứng, trứng bị giập. Con gà
này, thường ngày đẻ một trứng để Ba ăn sáng, ngày hôm đó
không có trứng. Hỏi ra thì vì anh Trí nghịch moi trứng, nên
đã bị má la một trận nên thân. Từ đó anh không còn dám
nghịch moi trứng nữa. Một lần khác anh bắt một con chuột
nhắt ăn luá trong nhà, anh may đít nó lại, rồi thả nó ra. Anh
bảo rằng: "Con chuột bị may đít, nó ị không được, sẽ cắn tất
cả các con chuột khác và bầy chuột sẽ chạy tán loạn, khỏi cần
bẫy hay bắt làm gì cho mất công!!!”
Khi lớn anh cũng hay chén tạc chén thù, mỗi lần có chút rượu
là nói thầm, phải lắng tai mới nghe được anh nói gì. Anh cũng
rất thảo và rộng rãi với em út. Tôi còn nhớ ngày anh từ
Vientiane trở về lại làng, khoảng năm1945, 1946, những năm
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
mà áo quần vải bông đều quí hiếm, anh mở valise ra, anh bảo
chú muốn mặc áo quần nào thì tùy ý chọn mà lấy. Anh thật
tốt và rộng lượng, tuy nhiên tôi đâu dám đụng tới, tôi chỉ xin
anh lấy cho một cái quần tây. Anh đã chọn cho em một quần
tây tốt nhất. Những cử chỉ ưu ái đó làm sao tôi quên được.
Nghề điện chuyên môn của anh rất giỏi. Anh phụ trách về
điện trong đài Phát Thanh Vientiane trước khi về lại Việt
Nam. Vì tình hình tại quê hương ngày càng bất ổn, không có
công ăn việc làm, nên anh phải đăng vào Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, đóng tại Ba Đồn cùng với anh Cả. Sau khi Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉnh đốn lại, anh đã được bổ sung
vào ngành Quân Vận, phụ trách Trưởng Ga Hỏa Xa Quân Đội
Đà Nẵng. Công việc tương đối cũng lai rai, hơn nữa trước
đây, trong trận bị phục kích tại Ba Đồn, anh trật xương mắt
cá, chân sưng nên đi đứng rất bất tiện và hơi chậm chạp khó
khăn.
Khi anh ở Lào về Làng, anh chị mua lại cái nhà và nương
vườn của Ông Mệ Thông Tương, vùng đất tọa lạc tại phía
Nam, sát cạnh nhà của Ba Má tôi và cũng sát cạnh nhà Ông
Mệ Bang Nghiệp. Vì vậy, việc đi lại giữa các gia đình rất
thuận tiện.
Trở lại câu chuyện tình của anh chị Trí, kể ra cũng hy hữu.
Sau vườn nhà Ba Má tôi là vùng nương vườn của Ông Mệ
Bang Nghiệp. Hai nhà được xây dựng trên hai vườn sát cạnh
nhau, cách một hàng tre ngăn cách.
Thời kỳ đó, sau nhà tôi có một cái hồ nhỏ. Ngày xưa khi làm
nhà, ba má tôi đã thuê thợ đào để lấy đất làm nền nhà, nên
chỗ đào lấy đất đã trở thành một cái ao nhỏ. Ao đầy nước, và
tương đối sâu. Chúng tôi thường tụ tập nhau lại để chơi các
trò con nít trẻ con, đặc biệt là chơi trò làm “Ba Má”. Trong
số trẻ em họp bạn đó, có anh Trí và chị Khánh là lớn nhất,
phải đóng vai Ba Má, còn bọn tôi theo thứ tự làm các con cái
anh em trong nhà.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Có nhiều lần, chúng tôi lấy cả tấm ván lớn làm thuyền, chèo
qua lại trên mặt hồ để chở Ba Má đi chợ. Có một đôi lần tấm
ván lật, cả lũ rơi xuống ao, ướt cả quần áo như chuột lột. Vì
sự chơi đùa này mà anh chị Trí Khánh biết nhau, và quen thân
nhau quá nhiều, không như trường hợp của anh chị Suất
Huệ.
Hai bên gia đình Ông Mệ Bang Nghiệp và Ba Má tôi đều đã
đồng ý thỏa thuận cho cuộc hôn nhân của cặp trai tài gái sắc
này để kết hợp nên duyên vợ chồng. Tôi nói trai tài gái sắc
không ngoa, vì dù sao vào thời kỳ ấy, anh Trí là một chuyên
viên giỏi về điện và máy móc kỹ thuật, số chuyên viên này
rất hiếm hoi tại Việt Nam lúc bấy giờ. Khi cần thiết, tìm mãi
không ra được một người có khả năng hiểu biết về điện như
anh Trí. Còn chị Khánh khi đang ở vào “tuổi cặp kê,” ít có
cô gái nào sánh kịp về vẻ đẹp nết na và sắc nước hương trời
của chị, cộng với cái duyên dáng mặn nồng, tính tình khiêm
nhượng nhu mì đạo đức của một người con gái nơi thôn dã.
Anh chị kết thành đôi lứa trăm năm, và có đông con cái . Sau
đây là danh sách các con của anh chị Trí Khánh:
a- Chị Nguyễn Thị Mai (Nick name là Mánh), khi đã 7, 8 tuổi
còn chạy theo mẹ đòi bú. Chị là một người biết thương yêu
và lo lắng cho chồng con. Chồng của chị Mai là anh Hồ Công
Bình, nguyên trước là một Sĩ quan Không Quân QLVNCH,
con Ông Mệ ấm Hồ Định, một người lanh lẹ tháo vát. Đặc
điểm là hai anh chị rất hiếu khách. Con cái của anh chị qui tụ
sống quanh cha mẹ ở quận Cam California, công ăn việc làm
thành công, có hiếu với Cha Mẹ.
Con cái anh chị Bình - Mai gồm có:
-Hồ Thị Trâm Anh, chồng là Hảo, đã có con cái, làm ăn phát
đạt.
-Hồ Công Thành, vợ là Nguyệt, đã có con cái, việc làm vững
chắc, đời sống gia đình tốt đẹp.
-Hồ Quốc Hưng, vợ là Phượng, công việc, gia đình con cái
hạnh phúc.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
-Hồ Công Lý, vợ là Đào Hồng Vân, con cái sẽ đầy đàn... Vì
Ông Thông được hân hạnh tham gia với tư cách đại diện họ
nhà trai, trong dịp lễ thành hôn cho cháu này.
-Hồ Trang Anh, đã lập gia đình.
-Hồ Mai Anh, đã lập gia đình.
-Hồ Trà My, đang học Đại Học khi Ông Thông đang viết Hồi
Ký này.
b- Anh Nguyễn Liên, con trai trưởng của gia đình, rất được
cha mẹ nuông chiều. Khi anh vừa 4, 5 tuổi, ngủ đến nửa đêm
thức dậy khóc và vòi bánh: “Bánh, bánh, bánh… là có bánh
sẵn để cung ứng, mới im và ngủ lại". Hiện nay anh là một Kỹ
Sư điện tử, và vẫn còn đi học thêm... Cuộc đời anh Liên tình
duyên không được suông sẻ... nhưng anh có nhiều con cái,
chắc chắn sẽ tốt đẹp trong tương lai. Hiện anh thành hôn với
chị Kim Liên.
c- Chị Nguyễn Thị Cảnh, một thiếu nữ hiền thục, duyên dáng.
Chị kết duyên cùng anh giáo sư Trần Mạnh Hùng (gọi là anh
Ngọc), sinh hạ được 4 người con. Anh Hùng bị bịnh nan y
mất sớm, để lại đàn con còn nhỏ. Nay các cháu đã khôn lớn,
phần đông định cư tại Australia. Bước đầu, chị sang định cư
tại Úc Đại Lợi, và ở lại đó luôn... Tôi còn nhớ vào khoảng
năm 1969, anh Hùng (Ngọc) và chị Cảnh chạy vào Sài Gòn,
gặp chú thím Thông và yêu cầu nhờ chú thím Thông giúp đỡ
cho việc thành hôn của hai anh chị. Lý do vì ở Đà Nẵng, Huế
anh chị gặp khó khăn trong việc xúc tiến hôn nhân về phần
đạo. Tôi biết rõ hoàn cảnh khó khăn của anh chị, hơn nữa
chính bà má của anh Ngọc cũng vào Sài Gòn gặp tôi. Tôi rất
thương yêu cháu Cảnh và cũng có rất nhiều cảm tình với anh
Ngọc, trong khi Ba của cháu Cảnh (Bác Trí trai) đã mất. Vì
có uy tín với cha sở Phú Nhuận, tôi chỉ nói một tiếng là cha
chấp thuận ngay. Sau đó mọi công việc cưới hỏi đã được diễn
tiến suông sẽ. Anh chị Ngọc Cảnh mừng quá làm cho chú
thím Thông cảm động theo. Bốn người con của anh chị có
tên:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- Trần Ngọc Phương Thảo, con gái đầu lòng, đã được di tản
với mệ ngoại, thoát khỏi Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ.
Cháu Phương Thảo đã học xong Đại Học ở California, sau đó
kết hôn với một chàng trai Hồng Kông, tên Brian Wong, có
hai con song sinh năm 2002.
- Người con thứ hai là Trần Ngọc Long, đã lập gia đình với
Ngọc Phượng.
- Người con thứ ba là là Trần Ngọc Huy
- Người con Út là Trần Ngọc Thúy Nga, đã lập gia đình với
Thanh Hải.
Hiện nay, chị Cảnh và các cháu sống tại Australia, ngoại trừ
Phương Thảo và Brian Wong ở California.
d- Anh Nguyễn Tân, đẹp trai nhưng mất sớm.
e- Chị Nguyễn Thị Nguyệt, lập gia đình với anh Phát. Anh
chị có với nhau một cháu trai và một cháu gái... thành công
trong công việc.
f- Anh Nguyễn Hoàng, một thanh niên thích về ngành thẩm
mỹ, chịu khó hoạt động trong thương trường. Anh Hoàng đã
kết duyên với Thanh (Linh) nay cũng đã li dị. Anh chị có ba
con, hai trai, một gái. Alvin Nguyễn, Daryl Nguyễn và một ái
nữ Kayleen. Anh hiện làm việc tại North Carolina.
g- Người con Út trong gia đình Bác Trí là Diễm Trang, Trang
có một cháu gái. Hiện nay, Trang đang sống với chồng là
Bryan Schade.
Bác Trí Trai đã quá vãng vào ngày 28/05/1965 vì bị áp huyết
cao, bác bị té lúc ở nhà một mình. Khi biết được, đem vào
nhà thương thì đã quá trễ, không còn cứu kịp. Tội nghiệp cho
Bác Trí trai, càng lớn tuổi càng hiền hậu và ít nói. Bác Trí gái
cũng đã mất tại California ngày 16 tháng 7 năm 2008.
4* Nguyễn Tuệ là người anh thứ tư của tôi, một thiếu niên
xuất sắc thông minh.Tôi gọi anh là một thiếu niên vì anh đã
qua đời vào lúc mới 12, 13 tuổi. Anh Tuệ là một thần đồng
về trí thông minh. Người ta bảo anh Tuệ bị bịnh “thuốc độc”.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Anh chỉ ngồi, không nằm được, kể cả lúc ngủ. Ba má tôi phải
mua một cái gối xếp, để nguyên gối xếp không mở ra, anh
ngồi dựa vào gối mà ngủ. Cả khi anh qua đời, anh cũng kê
đầu vào ghế xếp mà nhắm mắt lại và trút hơi thở cuối cùng.
Anh Tuệ khi chưa lâm bịnh là một học sinh thông minh, học
rất giỏi. Anh là học sinh Trường Paul Bert, tọa lạc tại phía
ngoài cửa Thượng Tứ, trên đường Paul Bert, sau này đổi lại
là Đường Nguyễn Hoàng. Cùng đi học chung với anh có anh
Phạm Giao, con trai cụ Thượng Thư Phạm Quỳnh, là bạn rất
thân thiết của anh.
Cụ Phạm Quỳnh lúc đó là Thượng Thư Bộ Giáo Dục trong
Triều Đình Huế (chánh phủ Bảo Đại). Mặc dầu anh còn nhỏ,
nhưng chúng tôi, phận làm em, rất kính trọng và nể sợ anh.
Anh nói gì là phải vâng lời ngay và phải vâng dạ một phép.
Tôi để ý chính Ba Má và các anh lớn của tôi cũng nể vì anh
giỏi quá. Điều gì ai nói ra thì anh đã biết rồi, anh còn giảng
giải rộng thêm về vấn đề ấy.
Anh qua đời để lại cho tôi một số sách vở, trong đó có cả
quyển tự điển “Larousse” của Pháp. Mặc dầu tôi còn nhỏ,
nhưng khi anh Tuệ qua đời, tôi khóc rất nhiều và rất thương
tiếc anh. Chính anh Tuệ đã hướng dẫn và chỉ vẽ cho tôi nhiều
trong sự học hành và hướng dẫn cho tôi về tư cách làm người,
mặc dầu anh còn nhỏ để có thể đề cập đến các vấn đề đó. Anh
qua đời tại thành phố Ba Đồn, trong một căn phố của Ba Má
tôi, ngó mặt ra chợ. Giờ này tôi không còn nhớ căn phố đó là
của Ba Má tôi hay là thuê. Nhưng tôi biết Ba Má và từ chúng
tôi trở xuống đều ở tại căn phố đó trong suốt thời gian anh
Tuệ đau ốm. Sau đó anh qua đời và được đưa về làng và chôn
cất tại khu đất bên cạnh mộ của Ông Mệ Nội tôi ở khu đồng
ruộng gọi là Cửa Mương. Tôi không được biết giờ này mộ
phần của Ông Mệ Nội và của anh Tuệ tôi còn tại chỗ hay đã
bị di chuyển đi một nơi nào. Cầu nguyện xin Ông Mệ và anh
Tuệ, chỉ vẽ cho em để có thể dời mồ mả vào động rú cát để
an nghỉ cho yên hàn.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
5* Người con thứ năm của Ba Má tôi là Nguyễn Đình Thông,
chính tôi. Nguyên khi được sinh ra vào ngày 11 Tháng 12
năm 1925, Ba Má tôi đã đặt tên tôi là Nguyễn Văn Thông.
Nhưng khi 10 tuổi, được Ba Má cho đi học tu ở Trường
Probatorium ở Phủ Diễn, Nghệ An, khoảng năm 1935, 1936,
có một thầy giáo tên Quế một giáo viên trong Ban Giảng
Huấn nhà Trường, nói với tôi rằng: "Trò Thông nên đổi tên
lót, chữ Văn thường quá, không đẹp. Hãy đổi lại chữ Đình
đẹp hơn.” Lúc đó tôi khoảng 10 tuổi, chưa suy nghĩ nhiều,
nên thầy nói sao, nghe theo vậy. Từ đó tên lót Đình đi với tôi
mãi cho đến ngày hôm nay đã hơn 85 tuổi đời. Đồng thời các
con tôi đều cũng mang tên lót Đình, khác với các bác, các
chú. Tôi sẽ đề cập về tôi nhiều hơn trong mục gia đình tôi sau
này.
6* Người em thứ sáu của tôi là Nguyễn Văn Minh, lúc còn
nhỏ được gọi "nick name" là Mảy Nậy. Chú Minh khi còn
tuổi đi học, được Ba Má cho lên học nội trú ở Trường tư thục
Chợ Tràng. Đây là một Giáo xứ lớn có mở một trường Trung
Tiểu học Công Giáo do các vị giáo sư phụ trách giảng huấn.
Trong số giáo sư có thầy Đông làm hiệu trưởng. Sự học hành
bị gián đoạn vì chiến tranh. Chú Minh phải nghỉ học từ năm
1945.
Chú Minh là người có đầu óc kinh doanh từ lúc còn nhỏ. Bởi
vậy khi lớn lên chú đã có lý khi đi vào đường thương mãi. Và
khi còn nhỏ, Ba biết tính tình và khả năng của từng người
con, nên Ba đã giao cho chú nhiệm vụ kiểm soát thu xuất luá
gạo trong gia đình.
Tôi còn nhớ ngày anh chị Trí ra cửa nhà riêng, Ba bảo gánh
cho anh chị bốn gánh luá (một gánh hai thúng). Tôi và chú
Minh có nhiệm vụ xúc, gánh và giao luá cho anh chị Trí. Khi
xúc luá tôi cố lắc thúng và đổ tràn vun lên cho anh chị có
được càng nhiều càng tốt. Trong khi chú Minh thì xúc và
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
đong đúng tiêu chuẩn theo lời ba dặn, nghĩa là xúc ngang
thúng và gạt bằng miệng thúng, tôi thì cứ xúc vun lên, chú e
ngại nhắc rằng “Coi chừng Ba la”. Nghe cũng ớn vì đứa con
nào cũng sợ Ba, nên mạnh ai nấy xúc theo kiểu riêng mình.
Anh chị Trí cũng sợ Ba nên làm thinh không có ý kiến. Một
điều cũng nên nhớ là ngày còn sống trong gia đình, con cái
của Ba đều thi hành đúng luật, đúng lời Ba dặn. Vì lúc bấy
giờ, uy quyền của Ba rất lớn đối với các con. Một lời Ba nói
là một nghiêm lệnh. Chú Minh lúc đó còn nhỏ nên tuân lệnh
Ba một cách tuyệt đối, hơn nữa, chú Minh đang là người trách
nhiệm vựa lúa của gia đình, nếu sai sót thiếu luá gạo, chú là
người phải chịu trách nhiệm với Ba. Do đó chú không dám
sai lời dặn.
Thời kỳ chúng tôi mới lớn lên, cũng là thời kỳ loạn lạc. Ba
tôi bị Việt Minh bắt vì tội địa chủ, nhà cửa bị tịch thu, thóc
luá, của cải, vật dụng đồ đạc bị sung công và trưng dụng. Căn
nhà lớn ba gian hai chái mà ngày xưa Ba Má tôi cất công mua
từ huyện Lệ Thủy đem về xây dựng tại làng, đã bị Việt Minh
ra lệnh tháo gỡ và di chuyển lên Ba Đồn, kể cả việc họ tịch
thu chiếc xe Citroen mà Ba tôi mua khi còn buôn bán ở Huế,
đem về làng xử dụng. Gia đình tôi lúc đó ở ngoài làng chỉ còn
hai em tôi là Minh và Toàn. Ba bị bắt rồi, nhà cửa, đồ đạc, tài
sản bị tịch biên. Hai chú Minh, Toàn phải ngụy trang mang
oi đi bắt cá, với áo quần lem luốc như dân làm ruộng trốn vào
Đồng Hới.
May mắn là chú Minh có mang theo được một số tiền của Ba
cất giấu ở bụi tre sau vườn để lo cho gia đình. Chú Toàn lúc
bấy giờ còn nhỏ chưa biết gì. Sau thời gian ổn định, chú Minh
đã lập gia đình với cô Nguyễn Thị Lê, con Ông Mệ Cửu Nhự.
Chú Minh đi làm việc cho một cửa hàng buôn bán của một
người Tàu lai tên chú Ngâu. Mục đích của chú Minh là vừa
làm vừa học việc, để sau này tự làm chủ cho riêng mình. Quả
thật, vào năm 1953, chú Ngâu vì làm ăn thua lỗ nên đã sang
cửa hàng lại cho chú thím Minh Lê.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Lúc bấy giờ chú thím Minh Lê đã có một người con tên
Nguyễn Văn Tâm, năm sau, thím mang thai cháu Nguyễn Thị
Phước. Cháu Tâm bị bịnh Polio (bịnh bị động thần kinh). Nếu
Tâm còn sống thì cùng tuổi với anh Nguyễn Đình Tuấn nhà
tôi.
Tháng 9 năm 1953, sau khi tốt nghiệp Trường Võ Bị Liên
Quân Đà Lạt và thụ huấn về các khóa chuyên môn Binh
Chủng Quân Vận, tôi được thuyên chuyển ra Đồng Hới, làm
Trung đội trưởng Trung Đội 3 Vận Tải đóng tại Bungalow,
sau lưng tư dinh của Thiếu Tá (Người Pháp) Tiểu Khu
Trưởng Tiểu Khu Đồng Hới.
Năm 1954, sau khi Hiệp Định Genève chia cắt làm hai đất
nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17 (Bến Hải, Quảng Trị). Bầu đoàn
thê tử nhà chú Minh bồng bế nhau chạy vào Đà Nẵng.
Chú thím Minh đã bỏ nhiều hàng hóa, của cải lại Đồng Hới.
Lúc bấy giờ chỉ cốt chạy lấy thân. Vào Đà Nẵng, chú thím lại
mở một cửa hàng khác tại chợ Cồn để buôn bán gạo.
Gia đình tôi di chuyển vào Huế bằng LCU, một giang thuyền
loại lớn, đi đường biển. Riêng cá nhân tôi thì dẫn đoàn xe
bằng đường bộ vượt sông Nhật Lệ, chạy thẳng vào Huế. Sở
dĩ tôi không để gia đình đi theo xe vì sợ rằng đi đường bộ
nguy hiểm, nếu đoàn xe bị phục kích thì rất khó tránh khỏi
tang thương.
Khoảng năm 1955, cháu Tâm con chú thím Minh đau quá
nặng, cháu Phước thì mới chập chững tập đi, cứ lại chơi với
anh Tâm. Phước đút chuối vào miệng anh, anh không ăn,
Phước lại đút vào miệng mình, bịnh Polio truyền nhiễm qua
nước miếng. Lúc bấy giờ cháu Lộc đang được bồng ẵm, chưa
biết đi. Sau đó, thím Lê lại có chửa và vì muốn cho con cái
sau này khỏe mạnh, khỏi có bịnh tật, thím Lê đã đi bác sĩ tiêm
thuốc dưỡng thai. Bác sĩ đã cho liều lượng thuốc quá mạnh,
do đó đã làm cho các đường máu trong cơ thể của của thím
bị bể, băng huyết khắp châu thân, nên cả mẹ lẫn con đều bị
tử thương đáng tiếc.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Đáng lý ra ông Bác sĩ cấp và tiêm thuốc đã bị kiện, nhưng vì
có sự dàn xếp nên sự việc đã được bỏ qua. Vì ở Huế, lúc đó
tôi rất bận rộn tổ chức một đơn vị vận tải mới, tôi không thể
theo dõi sự việc rõ như thế nào. Tuy nhiên đây là một kinh
nghiệm rất đắt giá đã đưa đến sự tử vong của hai nhân mạng
thân thương của gia đình.
Cháu Tâm đã qua đời và sau đó cháu Phước lây bịnh anh đau
nặng, nằm liệt giường. Năm 1956, chú thím Minh Lê đã sinh
được cháu Nguyễn Thị Bích Lộc. Khi Bích Lộc mới đi chập
chững, lại hay chạy tới chỗ chị Phước để chơi với chị. Từ Huế
vào thăm chú thím và các cháu, thấy cảnh các cháu như vậy,
tôi đã lo sợ cảnh giác chú thím ngay: “Cháu Phước đã lây
bịnh của cháu Tâm, giờ chú thím lại muốn cháu Lộc bị lây
cháu Phước hay sao? Chú thím nên bớt làm ăn để ý đến sức
khỏe của con cái.”
Tôi buộc lòng phải quyết liệt với chú thím, tôi bảo chú thím
là sẽ mang cháu Lộc ra Huế chiều nay, nếu chú thím không
gửi cháu Phước vào nhà thương Saint Paul ngay bây giờ. Tội
nghiệp, chú thím Minh dù quá bận rộn trong việc buôn bán,
cũng đã lo sợ vội vã thu xếp mang cháu Phước vào nhà
thương Saint Paul ngay, trước khi tôi trở ra Huế. Cháu Lộc
lúc bấy giờ ở một mình với Ba Má tại nhà Chợ Cồn Đà Nẵng.
Mỗi lần tôi vào thăm cháu Phước ở nhà Thương Saint Paul,
cháu mừng lắm, cười luôn miệng. Tội nghiệp cháu không nói
được và sau một thời gian cháu Phước cũng qua đời.
Trong nhà Ông Mệ cửu Nguyễn Nhự, con cái đều được Ông
Mệ đặt tên bằng trái cây: Hồng, Bưởi, Thơm, Lê, Lựu, Na.
Sau khi thím Lê qua đời, chú Minh đã tục huyền với Nguyễn
Thị Bạch Lựu. Lựu là em ruột của thím Lê. Lúc bấy giờ chú
Minh buôn bán vững vàng, đã thành lập công ty mễ cốc. Chú
hùn hạp với Ông Nguyễn Đình Hân và bà Nguyễn Bưởi
(Tình). Tổng số vốn riêng của chú đã có trên Bảy triệu đồng
Việt Nam (Khoảng US$800,000.00). Việc buôn bán đang ở
tình trạng phát triển mạnh với tên hiệu là Trung Bắc Công
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ty. Những năm tiếp theo đó, chú Minh mở các công ty nhập
cảng phân bón hóa học, các loại thực phẩm cho gia súc, nhập
cảng xi măng và phụ trách cả các công ty bốc rỡ hàng tàu.
Ngoài ra chú còn mua một Hotel lấy tên là khách sạn Đồng
Khánh, nằm ngay trại trung tâm thị trấn Đà Nẵng. Trên lầu là
khách sạn, dưới nhà là văn phòng các công ty nhập cảng. Tại
Thanh Bình Đà Nẵng chú thím mở một Bảo Sanh Viện, lấy
tên là “Bảo Sanh Viện Têrêxa”, tại đây có nhiều Bác sĩ và y
tá chăm lo săn sóc cho các bịnh nhân và các sản phụ thuộc
hàng khá giả.
Sở dĩ mua được khu đất để làm bệnh viện này là của Ông Phi
Long. Vì hoàn cảnh gia đình sao đó, Ông Phi Long sang nhà
tôi mở lời muốn bán lại khu đất và một căn nhà nhỏ trên đó
với giá là $140,000.00 VN. Ông Phi Long nói đây là giá đặc
biệt, tôi chỉ bán cho Đại Úy mà thôi, còn người khác thì giá
phải cao hơn. Tôi có tiền và dự định mua. Nhưng bà xã tôi
thấy chú thím Minh chưa có nhà ở, trong khi đó tôi đã có một
villa mới xây ngoài bãi biển Thanh Bình, trên đường Thanh
Long, nên chúng tôi giới thiệu chú Minh mua căn nhà trên
với giá như Ông Phi Long đã hứa với tôi. Chú Minh mừng
quá xúc tiến mua ngay. Căn nhà cũ được phá đi xây lại một
Bảo Sanh Viện. Việc buôn bán của chú thím Minh ngày được
phát triển mạnh, vốn liếng lên đến cả mấy tỉ bạc Việt Nam
(Hối suất 1US Dollar lúc bấy giờ là khoảng sáu chục đồng
VN). Ở Sài Gòn, chú đã xây dựng một biệt thự ở góc đường
Duy Tân - Phan Thanh Giản với kinh phí dự trù vào khoảng
150 triệu VN. Đặc biệt, tôi có tặng chú Minh hai cột sắt chống
đỡ cái balcon xây đằng trước building.
Việc xây cất sắp hoàn tất thì biến cố 30/04/75 xảy ra một cách
bất ngờ và nhanh chóng ngoài sự tưởng tượng của mọi người,
ai nấy phải vội vàng bỏ lại tất cả để thoát thân. Ngoài cái
building mới xây cất này, chú Minh có bán cho chính phủ
Việt Nam Cộng Hòa một chung cư, chung cư này chú thím
mua của cô Năm (Bát Viếng). Trước cho người Mỹ thuê, sau
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bán cho chính phủ để làm Đại Học Quảng Đà, với giá Tám
Trăm Triệu Bạc Việt Nam, tương đương trên Mười Ba Triệu
US đô la. Nhưng vào giờ chót chạy loạn, chính phủ chưa trả
cho chú Minh xu nào, tất cả tài sản đã lọt vào tay chính phủ
Miền Bắc.
Vì hoàn cảnh đất nước, nhà chú Minh đã lại một lần nữa di
tản sang Hoa Kỳ. Cuộc di tản của gia đình chú thím Minh rất
là trần ai, vất vả. Chú đã kể lại cho tôi nghe, nhưng không
còn nhớ rõ lắm các chi tiết. Chú cho biết là đã mang theo hai
valise, một cái đựng vàng, một cái đựng toàn sữa hộp để dành
cho con bú, vì phần đông các cháu còn nhỏ. Vì nặng quá, chú
phải nhờ một anh lính xách giùm. Hai valise giống nhau như
đúc. Anh lính xách giùm bị lạc vì người trên tàu đông đúc
quá. Vì thế cái valise đựng vàng cũng bị lạc theo anh luôn.
Định cư tại Hoa Kỳ, vùng bắc Virginia (Quận Arlington).
Việc đầu tiên là phải mua ngay một căn nhà cho các con cái
ở. Việc mua nhà cũng gây nên một giai thoại buồn cười. Theo
phong tục Việt Nam, mua nhà là phải trả tiền hết một lần
trước khi lấy nhà. Chú thím Minh thấy căn nhà ở Arlington
đẹp và thuận lợi cho gia đình, chú thím quyết định mua, vì
thời giá lúc bấy giờ chỉ khoảng một trăm hai chục ngàn Mỹ
Kim. Chú thím định trả tiền mặt luôn. Nhưng người môi giới
bán nhà khuyên nên trả một trăm ngàn, còn mượn lại
US$20,000.00. Chú thím OK ngay.
Thời gian mới đến Hoa Kỳ, chưa làm gì, chú thím thấy bà
con người Việt đi xin Medicaid, thẻ trị bịnh miễn phí của
chính phủ, chú cũng đi vào Văn Phòng làm đơn xin
(application). Khi được nhân viên phụ trách hỏi về tiền mặt
hiện có, chú suy nghĩ và cuối cùng đề đại vào khoảng trống
US$50,000.00 (Năm chục ngàn Đô La). Bà Mỹ phụ trách
(case worker) xem vào cứ tưởng là chú đề sai, chắc là $50.00
(năm chục) hỏi đi hỏi lại, bà ta hỡi ôi, bà ta bảo: “Cả đời tôi
chưa bao giờ có số tiền lớn như thế này, làm sao ông xin
Medicaid được!” Kết cục chú lại ra về tay không.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Qua tháng 10 năm 1975, chú quyết định tổ chức một siêu thị
bán thực phẩm Á đông. Chú điện thoại cho tôi và đề nghị tôi
lên Hoa Thịnh Đốn giúp chú.
Việc đầu tiên là đặt tên cho cơ sở thương mại. Sau khi suy
nghĩ, tôi đã đề nghị lấy tên MêKông. Vì sông MêKông chạy
dài từ Cao nguyên Trung Hoa qua các nước Trung Hoa, Miến
Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và kết thúc tại Việt Nam.
Sông MêKông tượng trưng cho các nước Á Châu, nhất là các
nước ở Đông Nam Á. Hơn nữa, lúc bấy giờ chưa có cơ sở
thương mại nào dùng chữ MêKông cả. Chú thím đồng ý ngay.
Sau đó, vì tình thương em út, tôi đã từ biệt gia đình lên Hoa
Thịnh Đốn giúp chú thím phát triển thương mại, nhất là giấy
tờ Anh ngữ cho gia đình chú thím lúc mới khởi đầu.
Công việc buôn bán phát đạt, vì là đã tổ chức một ngôi chợ
bán thực phẩm Á đông đầu tiên tại vùng Hoa Thịnh Đốn.
Công việc buôn bán có thể nói là thành công hàng đầu trong
vùng Thủ Đô Hoa Kỳ và vùng Bắc Virginia lúc bấy giờ. Báo
chí Mỹ tại địa phương đã đề cử nhân viên đến phỏng vấn chú
và tôi. Báo chí Mỹ đã đăng lời khen ngợi một cách chân
thành. Tuy nhiên trong khi vấn đề thương mại đang phát triển
một cách mạnh mẽ, thì vì nội bộ gia đình lủng củng đã bị
xuống dốc một cách thê thảm, kéo xuống luôn cả vấn đề
thương mại, không làm sao có thể cứu vãn được nữa. cho dù
các con cái của chú thím rất ngoan ngoãn... Tuy nhiên lúc bấy
giờ các cháu còn quá nhỏ, chưa dám có một ý kiến gì.
Năm 1993 khoảng tháng 5, chú về Việt Nam để làm thương
mại, nhưng việc chưa thành, chú đã từ trần tại Long An, Việt
Nam vì bệnh nghẹt động mạch máu chảy về tim. Cháu Bích
Liên và chồng là Greg Kaldahl đã về Việt Nam để mang linh
cữu Ba về chôn cất tại Hoa Kỳ, nghĩa trang Virginia.
Sau đây là các con của chú thím Minh.
Các con của chú Minh và thím Nguyễn Thị Lê :
a, Nguyễn Văn Tâm, sinh năm 1953, mắc bệnh Polio, từ trần
khi còn nhỏ.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
b, Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1954, cũng bị Polio và đã
mất khi còn nhỏ.
c, Nguyễn Thị Bích Lộc, sinh năm 1956, hiện là nha sĩ ở
Virginia, có chồng là nha sĩ Vũ Thế Ban. Bích Lộc là một cô
gái duyên dáng lịch sự. Anh chị Ban - Lộc tánh tình giống
nhau, vui vẻ, hiếu khách. Anh chị đã thành công trong sự
nghiệp, rất hạnh phúc với ba cháu, một gái hai trai. Ba cháu
gồm có:
- Cháu trai đầu lòng Charles Châu Thế Vũ sinh 1985, cao ráo,
đẹp trai, tương lai đầy hy vọng, nay có vợ tên là Binna cùng
1 con trai tên Joshua Vũ sinh năm 2014.
- Cháu gái thứ hai Tracy Bích Trân Vũ sinh 1987, học rất giỏi
ở những trường danh tiếng Hoa Kỳ. Hy vọng có một thành
quả vẻ vang trong tương lai, có chồng là Jonathan Fulton, con
gái tên Isabella Fulton sinh năm 2014.
- Cháu trai Út sinh 1989 là Brian Huân Thế Vũ, khi còn bé
rất dễ thương. Lớn lên đẹp trai cũng không thua gì anh cả
Châu.
Brian khi còn bé tí, đã làm một câu chuyện buồn cười. Hôm
đó Ông Bác Thông lên Hoa Thịnh Đốn, ở lại nhà anh chị Ban
Lộc. Trong khi đang ngồi nói chuyện ở phòng khách, không
biết Brian nhỏng nhẽo gì đó bị Ba đánh nhẹ một cái vào
mông. Thế là Brian vừa khóc vừa chổng mông lên, lấy tay chỉ
vào đít, bảo Ba “Kiss, kiss”. Bác Thông ngạc nhiên không
hiểu Brian làm gì? Hỏi ra thì mới biết cu cậu được Ông Nội
cưng quen rồi. Mỗi lần phá bị Ông Nội đánh tay, Brian hay
khóc được Ông Nội thương bảo: "Đưa Ông Nội Kiss cho hết
đau”. Thế là Brian quen sự nuông chiều của Ông Nội, nên khi
bị Ba đánh đau, cu cậu chổng đít lên, bắt Ba kiss cho hết đau
là vậy.
Bích Lộc đã học xong ngành Nha Khoa và làm việc cho chánh
phủ một thời gian khá dài. Tuy nhiên vào khoảng năm 2002,
đã mở Văn Phòng Nha Khoa riêng ở vùng Fairfax, Virginia.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Mến chúc Bích Lộc & Ban thành công trong nghề nghiệp
chuyên môn.
d, Người con kế tiếp của chú thím Minh - Lê đã bị chết trong
bầu thai mẹ, khi thím bị Bác sĩ tiêm thuốc dưỡng thai quá
trọng lượng. Do đó, hai mẹ con đã qua đời luôn.
Sau khi thím Lê quá vãng, chú Minh tục huyền với Nguyễn
Thị Bạch Lựu là em ruột của thím Lê. Lúc ban đầu Ông Nội
và anh em chúng tôi có hơi lo sợ, lý do là vì máu huyết của
hai gia đình không hợp, khi sinh con hay bị bịnh polio. Mặc
dầu thím Nguyễn Thị Bạch Lựu lúc bấy giờ là một cô gái có
nhan sắc. Tuy vậy cuối cùng cũng phải chiều theo ý của chú
Minh.
Chuyện xảy ra là trong cuộc đính hôn và lễ cưới tiếp theo,
chú Minh đã nhờ Bác Trí mua bốn lít rượu đế rất ngon, thứ
thượng hạng, mang đến nhà Ông Mệ cửu Nhự với đồ sánh lễ
đầy đủ. Anh Thơm, con trai của Ông Mệ Cửu Nhự, nghĩ rằng
trong nhà không ai biết uống rượu, liền trút rượu đế ra chai
khác để uống, vì anh là một tay nhậu có hạng, đồng thời đổ
nước lạnh vào bốn chai kia và cho rằng không ai biết. Nhưng
sau đó mệ cửu Nhự nếm thử thấy toàn nước lạnh, mệ lại hồ
nghi là nhà trai chơi khăm vì không muốn cuộc hôn nhân
thành tựu. Và anh Thơm thì mãi sau nầy khi có hơi men mới
tiết lộ chuyện đó!
Chú Minh và thím Bạch Lựu có các người con sau đây:
e, Nguyễn Hữu Vinh, một thanh niên hoạt bát, có học lực khá,
đã thành lập gia đình với cô Anh Phương Nguyễn là người
con gái tư cách đạo đức. Hiện Vinh Phương đã có hai con,
một trai một gái. Đó là cháu trai đích tôn của Ông Mệ Minh,
Justin Hiển Minh Nguyễn, cháu có cặp mắt sáng ngời, hứa
hẹn một tương lai rực rỡ. Rất tiếc Ông Nội Minh chưa kịp
bồng cháu nội đích tôn của mình, đã vội vã ra đi một cách bất
ngờ.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trong năm 1997, Vinh Phương lại có thêm một cháu gái đặt
tên là Maryann Nam Phương Nguyễn, xinh xắn dễ thương.
Như vậy là đã có đủ trai, đủ gái đề huề rồi.
f, Nguyễn Thị Bích Liên sinh ngày 10 tháng 6 năm 1961, một
thiếu nữ duyên dáng thông minh lanh lẹ, làm việc hữu hiệu
cho hãng Hàng Không Continental với chức vụ khả quan.
Bích Liên kết hôn với Greg Kaldahl sinh năm 1957. Greg rất
đứng đắn, là con trai của một nhà tài phiệt về ngành hàng
không Hoa Kỳ. Greg và Bích Liên đã có hai con. Một trai tên
Taylor Kaldahl sinh tháng 10 ngày 5 năm 1990, một gái sinh
ngày 19 tháng 10 năm 1993 Casey Kaldahl rất là “cute”. Tội
nghiệp cháu bé Casey, có lẽ nhớ Ông ngoại Minh nhiều, nên
ngày Ông Bác Thông tổ chức lễ thọ “Thất Tuần” (Bảy mươi),
cháu cứ tưởng Ông Thông là Ông ngoại, nên đòi ông Bác
bồng hoài. Khi được bồng, cháu có vẻ thích thú vui vẻ lắm.
Cử chỉ của cháu nhớ ông ngoại đã làm cho người lớn phải
mũi lòng theo.
g, Nguyễn Thị Bích Lan sinh năm 1963, tốt nghiệp nha khoa
Bác sĩ, có phòng mạch hành nghề riêng. Bích Lan đẹp, hiền
lành, ít nói, nhưng rất khôn ngoan. Bích Lan nói chuyện nhỏ
nhẹ như chị Lộc. Bác Thông gái (trước) là Mẹ đỡ đầu rửa tội
cho Bích Lan. Có chồng là Trần Đình Lộc, một kỹ sư hoạt
bát, đẹp trai sinh năm 1957. Lộc Lan đã có ba người con, một
gái đầu tên Ashley Quế Anh Trần sinh 1993 rất xinh xắn. Sau
này lớn lên, cháu Quế Anh có thể trở thành hoa hậu trong
vùng Hoa Thịnh Đốn nếu cháu đi thi. Bé trai thứ hai sinh năm
1995 là Brandon Khôi Trần. Bé Khôi có nét mặt và bàn tay
rất đẹp tướng. Đường thông minh không ai sánh bằng. Bé trai
thứ ba là Christopher Việt Trần sinh 1999. Bé còn nhỏ, chưa
đi học, nhưng nét mặt cháu sáng sủa, khôn ngoan. Tuy nhiên
bé Việt còn nhỏ quá, các nét chỉ tay chưa phát triển. Trong
tương lai Lộc Lan còn tăng nhân số nữa hay thôi? Đó là câu
hỏi của Bác Thông hỏi Lộc Lan, nhưng cả hai đồng thanh
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
phát biểu: “Xì tốp, xì tốp! Chúng con có đủ rồi và cũng sợ
lắm rồi!!!”
h, Nguyễn Thị Bích Liễu, một thiếu nữ thông minh và lanh
lẹ. Liễu đã kết duyên và trở về sinh sống tại Việt Nam một
thời gian, sau đó gặp trở ngại trong đời sống riêng tư, nên
đường ai nấy đi. Ðến nay 2014, Liễu vẫn còn sống độc thân.
i, Nguyễn Hữu Quang, lúc nhỏ rất dễ thương với cặp mắt tròn
và sáng như sao, nhưng Quang bị bệnh gia truyền, cơ thể ngày
càng ốm yếu gầy còm. Ngày đưa đám chú Minh, Quang khóc
nhiều, quá tội nghiệp, vì Quang thương Ba nhất. Chắc chắn
Ba sẽ thương yêu và phù trợ cho Quang. Bác cầu nguyện cho
Quang nhiều ơn phúc may mắn trong cuộc đời. Nhưng năm
2013, Quang cũng đã qua đời vì bịnh tật!
k, Nguyễn Thị Bích Long tánh tình vui vẻ, dễ thương, chắc
chắn thành công trong công việc trong xã hội. Bích Long hiện
là Dược Sĩ. Cầu mong cho Bích Long gặp nhiều may mắn và
hạnh phúc trong đường đời. Mối tình đầu của Bích Long đã
đâm bông kết trái, đó là ngày lễ thành hôn của Bích Long và
Nguyễn Văn Đại đã được tổ chức vào ngày Thứ Sáu 26/07/02
tại Nam California. Đám cưới đã được diễn ra rất vui vẻ tốt
đẹp, với sự tham dự đông đủ của bà con cô bác họ hàng, nhân
dịp cuộc họp mặt của gia tộc họ Nguyễn năm 2002 tại Nam
California.
l, Nguyễn Thị Bích Lân, thường gọi là Bé Xí, một cô gái lanh
lẹ và rất dễ mến. Tánh tình dễ thương. Bích Lân tốt nghiệp
Đại Học và hiện đang làm Finance cho hãng địa ốc của anh
Vinh. Bích Lân đã thành lập gia đình với Brandon DeCaro,
một thanh niên khỏe mạnh, đẹp trai. Đám cưới cử hành vào
ngày 14 tháng 06 năm 2003 tại Hoa Thịnh Đốn. Bác Thông
được hân hạnh lên Hoa Thịnh Đốn tham dự đám cưới của
Bích Lân và Brandon Decaro. Bích Lân nay đã có hai con,
một gái tên Madison & một trai tên Lukey Vinh.
m, Nguyễn Christine, người con gái út của chú thím Minh,
tánh tình đơn sơ, hiền lành... hiện đã có gia đình, chồng là
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Bruce Le và một đưá con trai tên Travis. Bác Thông luôn luôn
cầu mong cho GĐ Christine thành công và gặp mọi điều may
mắn tốt đẹp nhất.
7* Người em thứ 7 của tôi là Nguyễn Văn Toàn, lúc còn nhỏ
thường được gọi Nick name là Mảy Con. Tên thật của Mảy
Con là Nguyễn Văn Sáng. Tuy nhiên sau đổi tên thành
Nguyễn Văn Toàn. Vì lẽ Ông Chú Tường đã dùng tên Sáng
để gọi tên mình. Chú Toàn nhỏ con, nhưng rất lanh lẹ và dễ
mến. Trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, tất cả anh em chúng
tôi phải chạy về quê lánh nạn. Người làm việc này, kẻ làm
việc khác về việc đồng áng. Riêng Toàn vì còn nhỏ nên tình
nguyện công việc chăn bò. Công việc này tương đối nhàn và
có nhiều dịp đi đây đi đó trong làng ngoài ruộng, nên biết rất
nhiều tin tức. Tuy vậy, một đôi khi việc cày bừa và các công
tác đồng áng rảnh rỗi, tôi và Minh vẫn thay thế Toàn trong
việc chăn bò. Riêng tôi chỉ chăn bò bằng cách ngoặc lá tre
cho bò ăn, ít khi dẫn bò ra đồng.
Trước khi viết về chú Toàn, chúng tôi muốn kể ra đây một
vài chuyện đồng quê ngoài lề, mà chỉ người đi chăn bò mới
biết. Chúng tôi biết được cũng nhờ chú Toàn kể cho nghe.
Giữ bò có thú vui là đem bò ra đồng cho chạy đua. Nhà Ông
mệ Cửu Nhự (Ông mệ ngoại của chị Lộc, anh Vinh) có mua
được một con bò đực to lớn, khỏe mạnh khi Ông mệ tản cư
về làng. Ông mệ sắp đặt giao cho cậu Thơm giữ. Ai cũng biết
cậu Thơm nghịch và liều mạng có tiếng. Bò của Ông Mệ cửu
Nhự “u bờm” to béo, khỏe mạnh nhất làng. Ngày nào cậu
Thơm cũng bắt bò chạy đua, vì vậy bò không có thì giờ ăn
cỏ, uống nước. Khi bắt đầu cho bò chạy đua, cậu Thơm lấy
một ngọn lá dứa có nhiều gai cột vào giữa đuôi và đít bò. Bò
bị gai dứa châm vào đít, thế là cứ đâm đầu chạy miết. Bò cậu
Thơm bao giờ cũng chạy về nhất. Tuy nhiên, vì không có thì
giờ ăn cỏ và uống nước, nên bò càng ngày càng gầy trơ
xương. Một hôm bò đang chạy đua, bị ngã quỵ xuống và
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
không còn đứng lên được nữa. Báo cáo về Ông mệ phải cho
làm thịt tại chỗ. Cũng từ ngày đó cậu Thơm bị truất phế chức
vụ chăn bò. Giữ bò còn có nhiều thú vui, chẳng hạn cho bò
qua sông để bò đi xuống đồng Mỹ Hòa có nhiều cỏ cho bò
ăn. Đồng Mỹ Hòa tọa lạc về phía Nam làng Đơn Sa. Khi dắt
bò qua sông, các người giữ bò phải cởi bỏ hết quần áo, đội áo
quần lên đầu đễ lội qua sông khỏi bị ướt.
Tuy nhiên các anh con trai, khi lội qua sông rồi, liền cất giấu
áo quần trong các bụi rậm, cho bò lên ruộng ăn cỏ và cùng
nhau ra bờ sông bôi trét bùn lên thân thể mặt mày và sau đó
nằm yên như những cục bùn bên gốc các cây bần. Mục đích
của các cậu là chờ đoàn con gái giữ bò lội qua sông cũng phải
trần truồng như nhộng. Sau khi nhìn ngắm xong là các cậu
vùng dậy chạy ùa ra sông làm cho bọn con gái thất kinh hồn
vía, chạy tứ tung, có ả phải ngâm mình dưới nước hằng nửa
buổi chờ cho bọn con trai ác ôn đi rồi mới dám mò lên. Tuy
vậy cũng có những thằng con trai cứ lì lợm dậm chân tại chỗ,
và ả con gái mặc sức ngâm mình dưới nước cả buổi, vừa ngâm
nước vừa chưởi, nhưng mấy thằng con trai cứ lì ra như điếc
không chịu đi.
Đó là thú vui của các anh hùng đồng quê “ăn hiếp” con gái
ngày xưa là như vậy. Kể ra thì đó là một trọng tội “công xúc
tu sĩ”. Nhưng ở thôn quê nơi hẻo lánh, có ai can thiệp cho
người yếu thế đâu. Trong khi các anh cho đó là một thú vui.
Ngoài ra người giữ bò còn mang về nhà nhiều tin tức nhất,
tin thời sự trong nước và tin tức trong làng. Bởi vậy, mỗi khi
người giữ bò đưa bò về ngoài cửa thì người trong nhà đã hỏi:
“Hôm nay có tin tức gì lạ không?” Thế là cái Radio bắt đầu
phát thanh, cả nhà xúm lại nghe tin sốt dẻo.
Các chàng thanh niên giữ bò, ban ngày gặp nhau bàn kế hoạch
về cuộc đi nhà thờ đêm nay. Chỉ định tên thằng nào vác cô
nào. Số là ở nhà quê, các thanh niên trai gái thường đêm đi
đọc kinh, nghe giảng lẽ đạo ban đêm vì ban ngày ai cũng bận
công việc đồng áng. Các chàng thanh niên thường rình rập
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
trước cửa nhà các cô gái. Hễ thấy bóng dáng cô gái đi ra là
xốc lại ôm và vác cô gái lên vai chạy một mạch đến nhà thờ
rồi bỏ xuống nhẹ nhàng.
Công tác vác và chạy đến nhà thờ chỉ có thế thôi. Không bàn
tán chuyện yêu đương mà cũng chẳng vuốt ve âu yếm. Có
nhiều hôm, các chàng thanh niên vì trời tối, vác lầm một cụ
già mà anh chàng vẫn tưởng là cô bé. Khi chạy đến nhà thờ,
nhẹ nhàng bỏ cụ xuống, cụ bà mới lên tiếng “Mả cha bây, tại
sao lại vác tao mà chạy như tế ngựa vậy?” Chàng thanh niên
chỉ có đường cút mất dạng. May trời tối, mệ ngoại không thấy
mặt thằng nào. Mà cho dù vác chạy nữa đường mà chàng
thanh niên biết vác lầm mệ ngoại, anh chàng cũng vác chạy
luôn đến nhà thờ mới bỏ cụ xuống, nhưng phải lanh lẹ dông
mất dạng, nếu không mệ biết được mách ba má, thế nào cũng
bị một trận roi nên thân.
Khi còn nhỏ, chú Toàn có nhiều trò chơi bất ngờ. Trong vườn
nhà Ba Má có trồng nhiều loại cây ăn trái như đu đủ, chuối,
khế, nhãn, ổi, v.v.. . Vài ba hôm, chú Toàn gọi tôi và Minh ra
sau chuồng bò, Toàn vui vẻ đưa ra một trái đu đủ chín vàng,
thế là ba anh em chia nhau thưởng thức. Những buổi snack
này do Toàn cung cấp thực phẩm, khi thì chuối, khi thì nhãn,
khi thì ổi, khi thì khế chắm ruốc, v.v..
Ở nhà quê, trong thời chiến, nhiều hôm không thể họp chợ,
nên không mua được thực phẩm. Thế là chiều chiều khi đã
đem bò vào chuồng, Toàn cầm một cái đòng đi một vòng
quanh vườn, nhất là cái ao sâu tọa lạc tại đàng trước nhà nơi
cổng vào, hoặc đi qua ao môn của Ông mệ nội. Khi về, thế
nào cũng có vài con ếch, hoặc vài con cá rô, có khi bắt được
cả cá tràu (cá quả). Buổi cơm chiều hôm đó thêm món ăn
ngoài chương trình thường lệ. Phải công nhận chú Toàn là
người rất lanh lẹ xông xáo và có nhiều sáng kiến kể từ lúc còn
nhỏ... Ở gần chú không sợ đói.
Khi Việt Minh đánh chiếm làng và thi hành chánh sách “đấu
tố địa chủ, cường hào ác bá” khoảng năm 1951. Khi đó Ba đã
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bị Việt Minh bắt giam vì tội địa chủ và bị đem đi giam tù ở
xa. Chú Minh và chú Toàn phải chạy lánh nạn từ làng vào
Đồng Hới. May mà chú Minh nhanh nhẹn đem được một số
tiền của Ba Má vào theo. Tài sản hiện kim của Ba lúc bấy giờ
do chú Minh giữ cho đến khi Ông Nội vào được Đồng Hới
để gia đình chi tiêu.
Chú Toàn sau khi vào Đồng Hới, chung sống với gia đình tôi
lúc chú còn nhỏ, nên tôi cho đi học trường Chân Phước
Phượng tại Cầu Mụ Kề, Tam Tòa, Đồng Hới. Trường này do
các Sư huynh Dòng Trái Tim điều khiển. Sau đó, khi lớn lên,
đến tuổi quân dịch, chú bị động viên vào lính Việt Binh Đoàn,
ngành Truyền Tin. Chú bị thuyên chuyển vào Huế theo học
lớp huấn luyện và sau đó tham gia cuộc hành quân Atlant tại
Miền Nam Trung Phần, dưới quyền chỉ huy của Quân Đội
Pháp.
Chú Toàn lập gia đình. Thời gian trôi qua, chú Toàn đã kết
duyên với cô Nguyễn Thị Châu Cúc, thường gọi là cô Siêu,
con gái Ông Mệ Nguyễn Cẩm. Mệ Cẩm lúc bấy giờ thường
hay liên lạc thân tình với bà xã tôi. Tôi thì lại là bạn thân với
Nguyễn Châu Thạch, con trai mệ Cẩm và là anh ruột của cô
Siêu, do đó việc thành hôn của Toàn Siêu đã được tiến hành
một cách thuận lợi, thông suốt và dễ dàng. Có thể nói việc
thành hôn của Toàn Siêu do chính tôi và anh Nguyễn Châu
Thạch chủ động, sau khi đã có sự thuận ý của Toàn và Siêu.
Tôi còn nhớ mỗi lần mệ Cẩm lên nhà tôi chơi, mệ thường nói
“Cô Siêu nhà tôi cũng có một vài đám ngắm nghía, nhưng
nhất định chỉ ưng một mình cậu Toàn thôi!”
Sau khi giải ngũ, chú Toàn đã vào nghề thương mại. Chú thím
Toàn đại diện cho Trung Bắc Công Ty, một công ty mễ cốc
(có cổ phần của chú Minh) tại Quảng Trị. Lúc bấy giờ chú
thím Toàn còn có xe hàng riêng chuyên chở hàng hóa thực
phẩm từ Đà Nẵng đi Quảng Trị và các nơi khác. Thời gian
nầy tôi cũng cho hai con lớn là Thường và Hương ra ở với
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chú thím đi học trường công Nguyễn Hoàng được 1 năm rồi
về lại Đà Nẵng.
Công việc làm ăn khá phát đạt. Tuy nhiên, tình hình an ninh
Quảng Trị không được ổn định lắm, vì chiến tranh ngày càng
lan rộng, mà Quảng Trị là địa đầu giới tuyến, do đó chú thím
Toàn dọn về Đà Nẵng. Chú vào làm việc tại hãng Hàng
Không Air Việt Nam, còn thím mở tiệm Pharmacy, tại ngay
trước căn nhà villa vừa mới xây cất xong.
Pharmacy này nằm bên cạnh Bệnh viện và Bảo Sanh Viện
Têrêxa của chú thím Minh, nên việc bán thuốc cũng thuận
tiện. Sau một thời gian ổn định công việc làm, đến đầu năm
1975, tình hình an ninh ngày càng rối loạn, chú thím Toàn và
các cháu đã kịp thời chạy vào Sài Gòn, sau đó đã di tản qua
Hoa Kỳ tháng 4 năm 1975.
Chú thím Toàn có tất cả 8 người con và một dưỡng tử tên
Nguyễn Văn Sắt. Tất cả đều đã thành công trên đường đời,
đẹp trai, đẹp gái, khoẻ mạnh, thành công.
Sau đây là danh sách những người con của chú thím Toàn, tất
cả định cư tại Hoa Kỳ:
a, Nguyễn Thị Kim Anh, thường gọi là Vân, người con gái
đầu duyên dáng, hoạt bát, đã thành công trong công việc ở Sở
Bưu Điện Hoa Kỳ. Kim Anh còn là một ca sĩ điêu luyện, đã
xuất bản vài băng nhạc đạo và đời. Đặc biệt Kim Anh có năng
khiếu trình diễn nhạc đấu tranh và tài làm MC.
Kim Anh kết duyên với Trần Kỳ Sơn, có hai người con, một
gái tên Trần Ngọc Trâm (Elizabeth), đã lấy chồng nay có hai
con, và một trai tên Trần Hoài Việt (Jame), biệt danh “Cu Cu”
rất thông minh lanh lợi. Có một lần, Cu Cu về Việt Nam chơi
cho biết quê hương, một người bà con nói đùa: "Mỗi người
đàn ông đều có một Cu, còn cháu có đến hai Cu, làm gì cho
hết?” Cu Cu nghe vậy, bèn hỏi má: "tại sao con có hai Cu?”
Câu chuyện đơn sơ của trẻ con làm mọi người cười quá
chừng. Trong trận chiến tranh Irac, Cu Cu Trần Hoài Việt đã
tham dự cuộc chiến trong Hải Quân Hoa Kỳ vào những ngày
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
đầu. Kim Anh nay đã ly dị & đang sống độc thân tại
California.
b, Nguyễn Quốc Thắng, một thanh niên khỏe mạnh, thông
minh, là kỹ sư điện tử. Lỡ bước trong mối tình đầu, có một
con gái tên Thanh Châu... nhưng sau đó đã kết nối duyên tình
với Thẩm Kim Loan. Cặp Thắng Kim Loan có một cậu trai
đầu rất kháu khỉnh. Hiện anh chị Thắng Loan đang hoạt động
thương mại tại Saint Louis, MO.
c, Nguyễn Thị Mộng Lan, nick name là Bi. Bi xinh xắn và rất
thông minh. Bi cũng phải chia tay cuộc hôn nhân đầu, có 2
đứa con trai... sau đó duyên số đã sắp xếp cho Bi cuộc tình
Việt Nhật Yokohama - Mộng Lan. Yokohama là một kỹ sư.
Anh chị Yo Lan đã sinh thêm một trai, một gái rất là “cute”.
d, Nguyễn Quốc Hùng, trong nhà gọi là Cu Anh, một kỹ sư
điện tử thành công trong nghề. Hùng thành hôn với cô Vương
Thị Bích Hằng, con gái Ông Bà Vương Vĩnh Thịnh, hiện cư
ngụ tại Denver. Bích Hằng cũng là một chuyên viên về tài
chánh xinh đẹp, khéo léo, tốt nghiệp bốn năm Đại Học, đã
thành công trong nghề tại ngân hàng. Hùng Hằng đã có hai
con gái tên Ashley Victoria và Chloe Nguyễn rất dễ thương.
e, Nguyễn Tiến Dũng, thường gọi nick name là Cu Em. Dũng
tốt nghiệp Đại học về ngành Hàng Không. Có lần Dũng đã
mặc áo nhà tu, dâng mình cho Chúa và làm linh mục tại Đài
Loan. Rất tiếc, không có ơn kêu gọi, nên đã hoàn tục trở về
Hoa Kỳ. Dũng kết duyên với cô Trương Thị Lệ Chi, cháu của
linh mục Thơm, thuộc Tổng Giáo phận Đài Loan. Cặp Dũng
Chi rất tâm đầu ý hiệp và dễ thương. Hai người có một con
gái tên Michelle, lúc nhỏ xinh đẹp như một em bé “model”
trong sách.
f, Nguyễn Thị Mộng Hoàng, thường gọi là Út lớn, Mộng
Hoàng đã thành hôn với Nha Sĩ Nguyễn Duy tại Seattle. Duy
Hoàng đã có 3 con, 2 trai 1 gái.
g, Nguyễn Tiến Đạt tự Jack, một thanh niên trắng trẻo cao
ráo. Có thể Đạt là người cao nhất gia tộc họ Nguyễn chúng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ta... Trong tháng 1/2003 Jack đã làm lễ đính hôn với một cô
gái Việt Nam tên Kerry... lễ thành hôn đã thực hiện trong
tháng 7/2003, đã có hai con, một gái và một trai... Mến chúc
hai cháu trăm năm hạnh phúc, sắt cầm hòa hợp, và gặp mọi
điều an lành tốt đẹp nhất.
h, Nguyễn Tiến Nhân (Alan), thường gọi là Út Ụt, là người
con út của gia đình chú thím Toàn. Nhân sinh tại Hoa Kỳ, đẹp
trai, tính tình hiền hòa vui vẻ. Lấy vợ tên Nguyệt và có 1 con
gái xinh xắn.
i, Nguyễn Văn Sắt, là nghĩa tử của chú thím Toàn. Sắt thông
minh, có tài và có trí nhớ bén nhậy. Rất tiếc là khi còn nhỏ,
vì chiến tranh loạn lạc ở quê nhà, Sắt không được đi học đến
nơi đến chốn. Khoảng đầu năm 1976, khi siêu thị Mekong
của chú Minh khai trương, tôi và Sắt đều làm việc tại đó.
Những món hàng bán ra phải biết giá. Sắt là người nhớ giá
hay nhất, tất cả các món hàng mà không cần tham khảo giấy
tờ. Lúc bấy giờ, chúng tôi gọi đùa Sắt là cuốn tự điển về giá
cả.
Sắt đã kết duyên với Nguyễn Thị Nhạn, một cô gái có trình
độ học vấn (tú tài toàn phần Việt Nam). Sắt Nhạn đã bươm
chải làm ăn rất thành công tại Arlington, VA. Anh chị đã có
hai con, một trai và một gái đã có chồng.
8* Người em thứ tám là Nguyễn Văn Láng. Láng vừa được
sinh ra thì đã qua đời, nên chúng tôi không có một kỷ niệm
gì để ghi lại đây.
9* Nguyễn Hồng Thịnh, người em thứ 9 cùng cha khác mẹ.
Má tôi qua đời khoảng năm 1948, năm 1951 Ba tôi bị VC bắt
vì tội địa chủ. Khi được thả ra, ông trở về làng chỉ có một
mình vì con cái đã chạy đi xa hết. Do đó Ba tôi phải tục huyền
với một bà để lo lắng công việc trong ngoài. Chính mối tình
này đã cho ông thêm một người con trai, đó là Nguyễn Hồng
Thịnh, sinh năm 1953, cùng tuổi với cháu Tuấn trong gia đình
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
của tôi. Chú Thịnh đã lập gia đình và nghe nói sinh được ba
con gái hai con trai, nhưng vì không có tài liệu chính xác, nên
không ghi vào đây được.
10* Chị Nguyễn Thị Thơ là một dưỡng nữ của Ba Má tôi.
Như trên đã trình bày, Ba Má tôi không có con gái, nên Ba
Má có vài dưỡng nữ. Nghe đâu chị Thơ khi mới sinh ra khó
nuôi, và gia đình Ba Má chị gặp đại nạn, nên gia đình chị đã
để chị về với Ba Má tôi qua chú Đội Hứa. Chị Thơ rất thương
yêu em út. Khi tôi còn nhỏ thì chị Thơ đã đi lấy chồng xa và
vì chiến tranh không liên lạc tìm nhau được. Khi vào Sài Gòn,
chúng tôi mới có dịp gặp lại nhau. Chúng tôi quí mến chị hơn
cả tình ruột thịt và chị cũng rất thương yêu chúng tôi. Anh
Đào Trọng Thành, người chồng mến yêu của chị, là một
người anh rể đáng kính.
Chị Thơ có tài nấu nướng ngon, nên anh chị đã mở một tiệm
ăn tại Bàn Cờ Sài Gòn trước năm 1975. Việc buôn bán tại đây
rất phồn thịnh, phát đạt. Cả nhà tôi dù có anh Thạnh (là bà
con với chị Thơ, anh chị Thạnh nay ở Củ Chi VN) lo về bếp
núc, nhưng đôi khi cũng lấy cơm tháng tại tiệm của anh chị
về ăn. Sau đây là con cái của anh chị:
a, Chị Đào Trọng Thanh, là người con chồng trước của chị.
b, Chị Đào Thị Hoa, một cô gái xinh đẹp và lanh lẹ. Chị có
óc buôn bán thương mại. Nếu gặp môi trường thuận lợi, chị
Hoa có thể tiến rất xa trên thương trường. Chị Hoa có nhiều
con cái cũng lanh lẹ, dễ thương.
c, Chị Đào Thị Hiền, một cô gái ngoan hiền xinh đẹp, đúng
như tên gọi, thương yêu chồng và chăm lo cho con cái. Hiền
đã kết duyên với anh Thông, một cựu Trung Úy Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa đẹp trai hiền lành và lo lắng công việc.
Anh Chị Thông Hiền đã có được hai cháu, một gái đầu tên
Nguyễn Đào Uyên Phương và một trai tên Nguyễn Đào
Quang Thái. Anh Thông, sau thời gian bị cầm tù tại các trại
học tập cải tạo, được thả ra đã cùng chị Hiền và hai cháu di
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
tản sang Hoa Kỳ, hiện định cư tại tiểu bang Virginia. Có một
thời gian Anh Thông bị đau bệnh ngặt nghèo, nhưng may nhờ
bệnh viện Hoa Kỳ chăm sóc, nên đã được bình phục, cám ơn
Chúa quan phòng.
Nhờ vào tài tháo vát và lanh lẹ, anh chị đã mua một căn nhà
khá rộng rãi, chuẩn bị cho cuộc họp mặt gia tộc vào năm
2004. Thật là mừng và đáng khen cho anh chị. Có lẽ anh chị
Thông Hiền là người hay liên lạc với gia đình tôi nhiều nhất,
nên mọi tin tức trong gia đình đều được thông báo kịp thời và
đầy đủ.
Trong tháng 11 năm 2000, anh chị đã làm lễ vu qui cho
trưởng nữ Nguyễn Đào Uyên Phương, cô con gái xinh đẹp,
sánh duyên cùng cậu Enrique Sarmiento, một thanh niên bảnh
trai người Venezuala.
Cả gia tộc mừng cho anh chị và hai cháu. Uyên Phương nay
có một con trai nhỏ tên là Tony bảnh trai.
d, Đào Văn Sỹ, chàng thanh niên vóc dáng thư sinh, cao trung
bình, nhưng lanh lẹ... Sỹ sống rất bình dân, không bao giờ
khoe khoang, trình diễn hay quan trọng hóa cá nhân. Nghe
nói Sỹ rất thành công trong dịch vụ “Du Lịch Sao Mai Tours”
tại Sài Gòn. Sỹ đã lập gia đình với một cô gái duyên dáng tên
Nguyễn Thị Hoài Thu, anh chị đã có ba người con: Con gái
đầu lòng Đào Vân, con gái thứ hai Đào Tú, và con út Đào
Chương.
Tôi còn nhớ vào đầu tháng 4/75, Sỹ đang học Đại Học Kinh
Doanh ở Đà Lạt. Vì tình hình ngày càng sôi động, khó khăn,
Sỹ và một người bạn học dùng xe gắn máy chạy từ Đà Lạt về
Sài Gòn. Khi ngang qua Long Bình, Sỹ ghé vào thăm cậu
Thông và cũng là dịp ghé thăm chị Hoa là người đấu thầu Câu
Lạc Bộ tại Bộ Chỉ Huy Quân Vận Vùng 3. Tôi biết khoảng
đường Đà Lạt Sài Gòn bất ổn, làm sao các cậu này lái xe chạy
qua được? Sỹ trả lời: "Chúng cháu chạy hết tốc lực, nằm sát
mình trên xe, và như thế phóng đại đi, thế là may mắn chúng
cháu về được đến đây an toàn. Mặc dầu trên đường, một đôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chặng vẫn bị súng bắn theo, chẳng biết ai bắn”. Thật là thanh
niên gan dạ! Hiện nay Sỹ làm ăn khá ở Sài Gòn, sống gần Ba
là anh Đào Trọng Thành (đã mất tháng 3 năm 2009, thọ 102
tuổi).
11* Chị Nguyễn Thị Nguyện, là dưỡng nữ của Ba má tôi. Chị
Nguyện lập gia đình với anh Nguyễn Thuyết và sinh nhiều
con cái. Trong số đó có chị đầu, tôi không nhớ tên thật,
thường gọi tên nick name “Mẹt Nậy”. Mẹt Nậy lập gia đình
với một người Thuận Bài, có phố buôn bán hàng đồ điện tại
Sài Gòn. Một người con thứ hai của anh chị Thuyết thường
hay liên lạc với tôi là Nguyễn Vui. Mặc dầu xa cách nhau quá
lâu, nhưng Vui có tình nghĩa và rất biết bà con cô bác. Cháu
Vui đã có công giúp đỡ Ba tôi, tức là Ông ngoại của Vui trong
những ngày tù tội được thả về. Ngoài ra Vui còn có một người
em tên Vẽ và nhiều em còn nhỏ khác mà tôi không biết tên.
12* Chị Nguyễn Thị Tám, có lẽ chị Tám hơn tôi ba, bốn tuổi.
Chị rất xinh đẹp, hiền lành và đạo đức. Hằng ngày, ngoài
công việc đồng áng, lo gia đình, chị thường giúp má vấn đề
bếp núc, trong khi chúng tôi phải cùng di tản về quê vì chiến
tranh. Một thời gian sau, chị xin Ba Má về quê Hướng
Phương. Vì tình hình ngày càng loạn lạc, chúng tôi mất liên
lạc luôn với chị, hơn nữa thời gian đó tôi còn nhỏ không để ý
theo dõi tình hình. Chị Tám rất thương yêu chúng tôi, săn sóc
cho chúng tôi quần áo và cơm nước. Hôm chị về quê, chúng
tôi bịn rịn trìu mến, sau đó lâu ngày không thấy chị trở lại
nhà. Không biết hiện nay chị ở phương nào, sống chết ra sao?
ĐIỀU 9 : ÔNG BÀ NHẠC TÔI
Tôi phải xin thưa rằng tôi có hai Ông Bà Nhạc: Ông Bà Nhạc
của người vợ trước là Ông Nguyễn Viết Các và Bà Nguyễn
Thị Quyến, Ba Má của Nguyễn Thị Hạnh, người vợ hiền đức,
nhưng vắn số của tôi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Còn Ông Bà Nhạc của người vợ thứ hai Lương Thị Yến là
Ông Lương Văn Sang và Bà Phạm Thị Lành.
Trước khi đề cập đến cá nhân gia đình tôi, tôi xin có một đôi
hàng về gia đình của hai ông bà Nhạc, tức là gia đình cha mẹ
của Nguyễn Thị Hạnh và gia đình cha mẹ của Lương Thị Yến.
1, Ông Bà nhạc phụ thứ nhất của tôi là Ông Bà Nguyễn Viết
Các, người trong làng thường gọi là Ông Bộ Các, vì trước đây
Ông giữ chức vụ Hương Bộ trong làng. Ông có tầm vóc to
lớn và cao ráo, không gầy mà cũng không mập, nước da ngăm
ngăm bánh mật, khỏe mạnh, nhưng lại có thói quen uống rượu
hơi nhiều, có đôi lúc uống quá chén. Khi bình thường, nghĩa
là khi Ông không bị ảnh hưởng bởi ma men, tánh tình Ông
rất cởi mở, hiền từ và thương yêu con cái. Tuy nhiên khi Ông
uống đã ngà ngà thì trở nên khó tính.
Ông có nhiều ruộng đất để canh tác hoa màu và trồng luá. Ở
thôn Đơn Sa, Ông được gọi là giàu về điền thổ. Ông cũng có
hai đời vợ. Bà trước, khi quá vãng đã để lại cho Ông hai người
con, đó là chị Hợp và anh Huệ. Bà vợ sau, cũng có tên như
má của tôi, bà Nguyễn Thị Quyến.
Ba Má vợ tôi có năm (5) người con: Đó là anh Huân, chị Huệ
(dì Ký), anh Huy, anh Hiếu và cô Hạnh, và một người con
nuôi tên là Thanh (dì Thanh). Khi tôi quen biết Hạnh và đến
nhà thăm chơi, ông nhạc tôi đã có đầu tóc bạc phơ (tóc bạc vì
nòi, chứ không phải vì tuổi). Tóc Ông bạc như bạch kim, da
ông ngăm như đồng. Ông là một người khỏe mạnh, nhưng có
lẽ uống nhiều rượu nên đã quá vãng sớm. không biết đúng
không, hay ông có một bệnh gì? Rất tiếc là ông bà nhạc của
tôi mất ngoài làng, khi ấy chúng tôi ở Đà Nẵng, không hay
biết vì đất nước phân chia tại vĩ tuyến 17. Đêm ông Ngoại
mất, nhà tôi đang đọc kinh tối thì bỗng nghe tiếng đàn dương
cầm ngoài phòng khách trổi lên như có ai lấy ngón tay lướt
một đường trên phím. Bà xã tôi hoang mang quá sức vì lúc
đó cửa nẻo đã khoá, các con cũng ngủ ở phòng khác, không
vào phòng khách ăn thông với phòng của chúng tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
được…Chẳng lẽ chuột chạy hay sao??? Sáng sớm hôm sau,
có anh lính cầm vào tờ điện tín ngoài làng báo tin cho hay
ông ngoại đã chết rồi!
Đúng là có điều tâm linh báo cho chúng tôi hay vậy! Chúng
tôi và các cháu vì đất nước chia đôi đã thiếu bổn phận làm
con cháu trong giờ lâm chung của Ông Bà. Kính xin Ông Bà
thông cảm tha thứ cho các con cháu.
Bà má vợ trước của tôi, tên Nguyễn Thị Quyến, như trên đã
trình bày, là một người đàn bà hiền thục, đạo đức như má ruột
tôi. Bởi vậy hai bà rất tâm đầu ý hợp và quí mến nhau. Tôi
nghĩ rằng sở dĩ Hạnh đã có một đời sống đạo đức, thánh thiện
là do ảnh hưởng của người mẹ vậy.
Tôi còn nhớ khi bà xã tôi sinh người con thứ hai, đó là Thanh
Hương tại Thành Nội Huế vào năm 1951, thì má vợ tôi vào
Huế, nuôi nấng ba mẹ con. Tội nghiệp bà cụ yếu kém sức
khỏe, vừa lo lắng chăm sóc cho người con lớn là Nguyễn
Đình Thường, đồng thời lo cho em bé sơ sanh cùng sản phụ.
Trong khi đó tôi đã đăng vào Quân Đội đóng tại An Lỗ, một
tiền đồn địa đầu Tỉnh Thừa Thiên. Mọi công việc đều do cụ
bà quán xuyến. Hình ảnh đó cứ ăn sâu vào tâm tư của tôi,
trong khi tôi chưa có dịp đền đáp. Nay thì cụ Bà đã không
còn nữa, tôi rất thương tiếc.
a, Sau đây là con cái của ông nhạc tôi Nguyễn Viết Các, với
người vợ đầu gồm có:
- Chị Hợp (tên chồng, tôi không biết tên riêng của chị) Anh
chị Hợp có các con sau đây: Chị Phong (tên chồng), chị Lài
vợ anh Hán.
-Anh Huệ, tôi không nắm vững tình hình con cái trong gia
đình của anh chị. Vì sau khi kết hôn với Hạnh, chúng tôi phải
di tản vào Đồng Hới.
b, Các anh chị, con cái của ông nhạc tôi, với bà vợ kế Nguyễn
Thị Quyến, gồm có:
-Anh Huân, có các con là Hòe, Đình, Sum, Quế. Anh Huân
là một nhà thương mại, có óc kinh doanh lớn nhưng số phần
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
không được may mắn, vì sinh không đúng thời lại trong hoàn
cảnh chiến tranh ly loạn. Mọi vấn đề buôn bán đều bị đình
chỉ vì loạn lạc. Tội nghiệp cho anh chị và các cháu. Hiện tại
(năm 2014) chị Hoè con đầu lòng của anh Huân vừa mới mất
ở VN vào cuối tháng 10, chị có 2 người con trai ở California,
một tên Xuân đang ở tại San Diego làm nghề sửa xe. Xuân
lấy vợ Mễ và có vài đứa con, và một người con trai khác ở
San Jose.
-Chị Huệ (dì Ký) có chồng là anh Nguyễn Ký (đã mất), và
anh chị có một người con gái là Nguyễn Thị Tuyết Xuân, gọi
là Phượng (tên này do tôi đặt), vì tên Xuân trùng tên của Ông
bà cố Nội của cháu. Ngày xưa, lấy tên Ông Bà mà đặt cho
con cái là một điều bất hiếu và phạm thượng. Khác hẳn quan
niệm thời nay. Phượng là một cô bé nhanh nhẹn, chịu khó
buôn bán và phát triển mạnh trong thương trường. Đã có
chồng là anh Thái, một nhân viên làm việc tại Bến Tàu Sài
Gòn và có ba người con với anh (một gái, hai trai). Cô gái
đầu lòng tên Ngọc Trân, lấy chồng Việt Kiều tên Thanh, sau
khi kết hôn qua Mỹ sống tại Quận Cam, nay đã có ba con hai
gái, một trai. Hai người con trai kế tiếp tên Thịnh (tháng 12
năm 2014 lấy vợ) và Tuấn. Tất cả đều là những người con
biết lo cho Bà Ngoại và Cha Mẹ. Bây giờ Phượng đã ly hôn
với Thái, đang sống độc thân lo cho mẹ tại Sài Gòn. Dì Ký
năm nay đã 94 tuổi nhưng còn minh mẫn.
-Anh Nguyễn Đức Huy đã kết duyên với chị Việt, con Ông
bà Nguyễn Cừ. Anh chị Huy có các con là Vân, Hoàng (đã
qua đời), Hiệu, Vinh và một số con còn nhỏ khi tôi còn ở Việt
Nam. Nay thì đã lớn và đã lập gia đình. Anh Huy mất cũng
khá lâu...
-Anh Nguyễn Khắc Hiếu, kết duyên với chị Hiếu và đã có sáu
con, trong số đó có Sơn, Phương, Nguyên, Quang, Thúy,
Trung. Người con lớn tên Sơn hiện định cư tại Seattle,
Washington State, người con út tên Trung không may mắn
đã bị bịnh tâm thần khá nặng, phải vào trong dưỡng trí viện
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Biên Hoà điều trị, cuộc sống khổ sở! Nay anh chị Nguyễn
Hiếu cũng đã mất .
-Nguyễn Thị Hạnh, bà xã của tôi, má của đàn con 11 đứa, sẽ
xin trình bày sau.
-Dì Nguyễn Thị Thanh, dưỡng nữ của Ông mệ, đã lập gia
đình với anh Thanh (cũng tên Thanh) và có 2 con gái, nhận
nuôi một con trai, hiện ở Sa Đéc, Việt Nam.
2, Tôi cũng xin nói lên đây là vào năm 1975, gia đình chúng
tôi di tản sang Hoa Kỳ. Năm 1976, ngày mồng 07 tháng 05
năm 1976, bà xã tôi Nguyễn Thị Hạnh bất ngờ bị “stroke”, và
trút hơi thở cuối cùng sau đó hai tháng tại Springs Field,
Missouri (USA). Do đó đến năm 1982, nghĩa là sau 6 năm,
tôi đã tục huyền với Lương Thị Yến, con của Ông Lương Văn
Sang và Bà Phạm Thị Lành, chánh quán ở Nam Định, Bắc
Việt, trú ngụ tại một thành phố phía Nam Denver, tức là thành
phố Pueblo. Bà Phạm Thị Lành, mẹ của Yến đã qua đời lúc
Yến vừa mới sinh ở Nam Định. Gia đình Ông Bố vợ mới của
tôi cũng đông con cái. Ông và Bà Phạm Thị Lành sinh được
4 người con, đó là :
-Lương Thị Phượng, độc thân, hiện ở Hoa Kỳ.
-Lương Văn Long, vợ là Nguyễn Thị Ngà, có ba người con
là: Lương Quốc Hưng, Lương Quốc Hùng và Lương Quốc
Tố Quyên. Hùng và Tố Quyên hiện định cư tại Hoa Kỳ. Riêng
người con cả Lương Quốc Hưng đang sống tại Việt Nam, hy
vọng sẽ đoàn tụ với gia đình khi thủ tục đoàn tụ bảo lãnh
xong. Tất cả các cháu đều đã lập gia đình và có con cái.
-Lương Thị Loan, có chồng là Nguyễn Trung Thành đã mất
tại Việt Nam. Anh chị Thành Loan có 7 người con, là :
Nguyễn Trung Thiện, Nguyễn Lương Thiên Trang, Nguyễn
Long Châu, Nguyễn Lương Thiên Sa, Nguyễn Lương Quốc
Trưởng, Nguyễn Lương Tường Vy và Nguyễn Lương Quốc
Ấn. Các cháu Thiện và Thiên Trang đã lập gia đình và có con
cái.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
-Lương Thị Yến, sau khi kết hôn với tôi đã đổi tên họ thành
Nguyễn Lương Yến. Yến đã có một người con riêng tên
Lương Quốc Luy, đã xong Đại Học và đã đậu bằng Master
Degree về Finance tại School of Mines. Hiện Luy đang làm
việc cho Tòa Hành Chánh Tiểu Bang Wyoming.
*Sau khi người vợ đầu từ trần, cụ Lương Văn Sang đã tục
huyền với cụ bà Phạm Thị Nam. Ông bà sinh được 6 người
con là Lương Văn Vinh, Phạm Thị Chang, Lương Thị Ánh
Nguyệt, Lương Thị Nga, Lương Thế Cảnh, Lương Thị Kim
Thư.
Cụ Lương Văn Sang đến Mỹ năm 1975, tánh tình hiền hậu,
cụ bị ung thư phổi và đã từ trần tại Denver Colorado năm
1995.
ĐIỀU 10: GIA ĐÌNH TÔI :
Tôi sinh ra tại làng Đơn Sa, Phủ Quảng Trạch, Tỉnh Quảng
Bình, vào khoảng 5 giờ chiều ngày 11 tháng 12 năm 1925,
tức là năm Ất Sửu. Ba Má tôi đã đặt tên là Phao Lồ Nguyễn
Văn Thông, Phao Lồ là tên Thánh lúc rửa tội (Baptism, phép
Thánh Tẩy). Khi còn bé nhỏ, trong nhà thường gọi tôi là Cu
Thỉ. Nhưng khi lớn rồi không ai còn gọi tên nick name đó
nữa. Trong khi hai em tôi là Nguyễn Văn Minh được gọi là
Mảy Nậy, còn Nguyễn Văn Toàn được gọi là Mảy Con. Hai
tên này được sử dụng khá lâu, khá phổ thông trong gia đình
và trong làng.
A, Thời kỳ niên thiếu:
Khi còn nhỏ, tôi được ở Huế với Ba tôi tại nhà số 7 Đường
Paul Bert, Huế, gần cửa Thượng Tứ. Tôi ở Huế với Ba tôi và
anh Tuệ. Tôi còn quá nhỏ, chưa được đi học, trong khi anh
Tuệ của tôi đã được học tại trường Tiểu học Paul Bert rồi. Ba
tôi thường về quê mỗi cuối tháng, trong khi má tôi phải ở tại
làng trông coi nhà cửa và tài sản ruộng vườn ở quê nhà. Minh,
Toàn còn nhỏ thì ở ngoài làng với Má.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Như đã trình bày trong phần nói về anh Tuệ. Anh có người
bạn học cùng lớp là Phạm Giao, con của cụ Phạm Quỳnh,
Thượng Thư Bộ Học trong Triều Đình Hoàng Đế Bảo Đại lúc
bấy giờ. Cụ có Dinh Thự tọa lạc gần nhà của Ba Má tôi. Mỗi
lần đi học, Phạm Giao đều qua nhà tôi để cùng anh Tuệ đi
qua Trường Paul Bert. Nhà trường chỉ cách nhà tôi khoảng
50 mét. Trước khi đi học anh tôi thường thưa với Ba: "Thưa
Ba con đi học” thì Phạm Giao cũng nói luôn: "Thưa Ba con
đi học”. Sự việc chứng tỏ các cậu còn nhỏ, khoảng 8, 9 tuổi
rất thân nhau.
Khi tôi lớn lên khoảng 5, 6 tuổi, Ba cho tôi đi học mẫu giáo
tại một trường trong Thành Nội Huế. Tôi đi với một người
bạn đồng tuổi tên Sa, con ông bà Tăng Vinh, một tiệm chụp
hình nổi tiếng tại Huế, cách nhà tôi một căn phố. Lúc bấy giờ
người bạn tôi đã biết ăn xài, vì có lẽ là con nhà giàu. Cứ mỗi
lần đi qua Quốc Tử Giám là sà vào quán cà rem. Lúc đầu còn
tiền thì Sa trả, sau hết tiền thì ăn chịu, biên sổ. Ông bán Cà
rem biết Sa là cậu ấm, con ông bà Tăng Vinh, nên cho ăn chịu
và biên sổ thả dàn. Tôi chỉ là người tháp tùng Sa, chạy theo
ăn ké.
Đến cuối tháng, ông bán Cà rem cầm sổ ra hiệu Tăng Vinh
đòi tiền, Sa hoảng hốt chạy qua tôi báo tin dữ. Chúng tôi chạy
trốn vào gầm xe của Ba tôi. Rốt cuộc cũng bị kéo ra để đối
chứng với ông bán Cà rem, sau đó Sa bị gia đình cảnh cáo
nghiêm nhặt. Việc trả tiền cho ông bán Cà rem ra sao thì
chúng tôi không rõ, nhưng từ đó mỗi lần đi học qua hàng Cà
rem, chúng tôi không còn dám dòm ngó nữa, mặc dầu ông
bán Cà rem vẫn mời mọc ân cần.
Sa có các chị Tăng, chị Vinh, anh Tô và các em nữa mà tôi
không còn nhớ tên. Có lẽ Ba Má Sa đã dùng tên của hai chị
lớn đặt tên cửa hiệu.
Cũng trong thời gian này, tôi có một thằng bạn khác cùng tuổi
tên Vàng, ở phố cạnh phố nhà tôi. Vâng, Vàng là con trai ông
bà Viên Tạo, một tiệm may đồ đầm nổi tiếng tại Huế thời bấy
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
giờ. Vàng có các chị tên chị Khoai, chị Cúc và một người em
gái tên Chanh. Sau này lớn lên tôi có gặp Vàng một lần, Vàng
làm việc tại Nha Tổng Giám Đốc Công An VNCH. Sau đó vì
công vụ mỗi người mỗi khác, chúng tôi chưa có dịp gặp lại
nhau nữa.
Khoảng thời gian tôi lên 7, 8 tuổi, tôi theo Ba về sống tại làng,
vì Ba giao công việc điều hành buôn bán, xe cộ cho các anh
tôi trông coi. Tôi được Ba cho đi học trường Tiểu học Ba
Đồn. Trường học tọa lạc cách nhà khoảng 3 cây số nếu đi
theo quốc lộ, còn nếu đi băng qua làng Thổ Ngọa thì khoảng
cách chỉ 1 cây số rưỡi mà thôi.
Hàng ngày tôi đi học bằng xe đạp, hoặc có ngày xe hư phải
đi bộ. Khi học xong lớp ba, tôi phải dự thi bằng “Sơ Học Yếu
Lược” (Certificat d’étude primaire élémentaire). Ngày đi xem
kết quả, Ba và tôi đi xe đạp lên Ba Đồn, dọc đường gặp cụ
Phạm Văn Nhu là hiệu trưởng Trường Tiểu Học Ba Đồn (Sau
này cụ là chủ tịch Quốc Hội Đệ Nhất Cộng Hòa) cũng đạp xe
đạp lên phố Ba Đồn. Cụ hỏi đi đâu? Ba tôi trả lời đi xem bảng
kết quả thi bằng “Yếu Lược” cho cháu. Cụ đã nói “Cầu
nguyện cho cháu đậu nghe”. Vì Ba tôi phải đạp xe chậm, chờ
tôi, nên cụ Nhu đã đạp xe đi trước.
Ngày hôm đó xem bảng thấy tôi đậu bằng Sơ Học Yếu Lược,
cả nhà mừng rỡ, nhất là Ba Má hãnh diện vì tôi nhiều lắm.
Tôi còn nhớ rõ, nhà tôi có nuôi một con chó, đặt tên con Tô,
nó rất khôn và dữ. Hằng ngày tôi đi học bằng cách cuốc bộ.
Con Tô chạy theo tôi hơn nữa đường, lên đến cái giếng ở
đồng Thổ Ngọa, tôi bảo nó về là nó quay đầu chạy về ngay.
Ấy thế mà buổi chiều khoảng 3 giờ, nó đã nằm chờ tôi tại khu
vực cái giếng đó rồi. Khi tôi về đến giếng là nó ngoắt đuôi,
mừng rỡ theo tôi về nhà. Nó hành động như là bảo vệ tôi vậy.
Sau này, có người tàn ác đâm thủng ruột nó không biết là ai.
Nó chạy về nằm chết dưới gốc cây chanh vườn trước sân nhà.
Cả nhà thương tiếc vô cùng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
B, Thời kỳ đi tu:
Khi tôi khoảng 9, 10 tuổi, có một linh mục quí danh là Chất,
cha chánh xứ, Xứ đạo Nhân Thọ, đến nói chuyện với Ba tôi,
xin cho tôi ra ở với Cha tại Giáo xứ Nhân Thọ, và cha sẽ cho
tôi theo học ở Chủng viện... để học làm Linh Mục. Khi đó tôi
còn nhỏ chưa biết gì, cũng chẳng hiểu “đi tu” là sao. Mọi việc
do Ba Má quyết định, mà tôi không có ý kiến.
Khi ra Nhân Thọ, tôi ở trong nhà với cha, phong cảnh thật là
buồn bã, vì tứ bề vắng lặng như chùa Bà Đanh. Hằng ngày
phải dậy thật sớm, ra mở cửa nhà thờ tham dự Thánh Lễ. Trưa
ăn cơm xong là phải học Latin với cha, và học cách giúp lễ
bằng tiếng Latin. Chiều ra nhà thờ đọc kinh hoặc nghe cha
giảng lẽ đạo với giáo dân. Cuộc sống buồn tẻ và chán chường
đối với thiếu niên tuổi như tôi.
Trong nhà xứ có anh Tám, con ông Đông, em của ông Phú
cũng ở làng Đơn Sa. Anh Tám lớn tuổi hơn tôi. Một hôm anh
Tám nhớ nhà quá, bàn với tôi cùng trốn về. Vì từ Nhân Thọ
về làng Đơn Sa, chỉ băng qua làng Thọ Đơn mà thôi.
Tôi thích quá, tán đồng ý kiến ngay. Thế là chọn một ngày
nắng ráo, cùng nhau chạy trốn. Khi chạy băng đồng đến làng
Thọ Đơn thì y như rằng, cha Chất đi xe đạp chạy đuổi theo
tìm chúng tôi. Chúng tôi liền nấp vào các bụi rậm trên đồng
cha không thấy được, và cha cứ đạp xe dọc quốc lộ thẳng về
Đơn Sa.
Thế là chúng tôi cứ từ từ đi về làng. Tôi không về nhà Ba Má
ngay, mà tôi về nhà chị Suất (Sen), vì tôi biết chắc cha đang
ở nhà Ba Má. Chờ cho cha trở về Nhân Thọ, chiều tối tôi mới
về. Khi bước chân vào nhà, Ba Má cũng chẳng nói gì, chắc
Ba Má biết tôi đi xa nhớ nhà, nhớ Ba Má, anh em.
Nhưng ngày hôm sau, cha lại đạp xe vào nhà Ba Má. Tôi sợ
quá, nhưng cha rất hiền từ, nhẹ nhàng: "Sao con về mà không
cho cha biết, để cha chở về? Thôi, con ở nhà vài ngày chơi,
ngày mốt cha vào chở ra nhà xứ, để kịp sửa soạn ngày lên
đường nhập học.” Nghe nói được đi học nội trú, tôi thích quá,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thế là hăng hái sửa soạn áo quần vào valise, chờ cha vào chở
đi.
Tôi nhập học trường Probatorium (Trường Thử) ở làng Xuân
Phong, Phủ Diễn Châu, Tỉnh Nghệ An. Cha Chất đã mua sẵn
vé xe đò Hồng Ký, chạy thẳng từ Ba Đồn ra Vinh. Xe chạy
một ngày, phải ngủ tại Vinh, sáng ngày hôm sau, xe chạy tiếp
ra Phủ Diễn, là địa điểm tọa lạc trường Probatorium.
Trường Probatorium (Trường Thử) có một phong cảnh tuyệt
đẹp. Ở cổng chính ra vào có hai hàng dương liễu chạy dài hai
bên đường đến một ngôi Thánh Đường khiêm tốn (Nhà
Nguyện thì đúng hơn, chapelle) nằm cắt ngang chia đường ra
làm hai chạy dọc hai bên Thánh Đường và chạy dài vào sân
rộng bên trong. Sau lưng Thánh Đường là một sân rộng. Bên
phải bên trái là hai dãy nhà lầu hai tầng đồ sộ to lớn. Phía
trên các dãy lầu là phòng ngủ của các cha và học sinh. Phía
dưới phòng lầu chia ra làm nhiều lớp học, thư viện, văn
phòng, v.v.
Phía sau sân rộng của nhà nguyện là một kiến trúc đồ xộ, cũng
hai tầng. Tầng dưới dùng làm phòng ăn, nhà bếp. Tầng trên
là bịnh xá học sinh và nhà chơi (Préau) cho học sinh khi trời
mưa. Trước hai dãy nhà lầu phòng ngủ hai bên là sân rộng để
học sinh đi dạo sau khi ăn trưa và tối. Phía ngoài là sân đá
banh rất rộng. Phía sau những dãy nhà ngủ, ngoài sân sau,
nhà Trường dùng lô đất làm vườn trồng trọt rau cải, cà chua
v.v. để phụ thực phẩm cho nhà bếp.
Có một điều, tôi muốn nói là tôi đã học xong lớp Ba và đã
đậu bằng sơ học (Certificat d’étude Primaire élémentaire) ở
Trường Ba Đồn như tôi đã trình bày trên. Nhưng ra đây, nhập
học trường này, các cha trong Ban Giảng Huấn, bắt tất cả học
sinh phải học lại lớp 5 hết (tức là lớp 1 bây giờ), nhưng theo
chương trình Pháp ngữ, môn gì cũng dạy bằng Pháp văn, trừ
môn Việt văn được dạy bằng tiếng Việt mà thôi (Việt văn
được coi là tiếng ngoại quốc, langue étrangère). Cũng vì
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chương trình được dạy nặng về Pháp văn như vậy, nên phần
đông chúng tôi đều có căn bản khá vững chắc về môn đó.
Tôi là một học sinh còn nhỏ, khoảng 9, 10 tuổi. Hơn nữa tôi
là một học sinh mới, nên nạn “ma cũ bắt nạt ma mới” rất thịnh
hành ở đây. Tôi sợ nhất trò chơi “Circulus” (vây tròn). Mấy
anh lớp lớn, cầm tay nhau vây tròn mấy ma mới. Khi hát xong
mà không thoát ra khỏi vòng vây, có thể bị đấm thùm thụt
trên lưng. Do đó khi nghe tiếng hát đâu đó thì phải lo chạy
cho xa, kẻo bị bao vây và bị đấm, bị cú trên lưng một cách
“bề hội đồng”. Ngoài ra còn cái trò học sinh cũ đi chọc ghẹo
các học sinh mới. Trò chơi này chỉ có thể thực hiện khi vắng
bóng các cha hay các thầy giám thị mà thôi. Đừng tưởng rằng
các học sinh, sinh viên đi tu khi còn nhỏ không nghịch ngợm,
nghĩ như vậy là lầm.
Họ còn phá không thua gì các học sinh ngoài trường đời. Tuy
nhiên không thô tục, bậy bạ một cách quá trớn mà thôi. Có lẽ
khi lớn lên, được hấp thụ những lời dạy dỗ và ý thức trách
nhiệm cao hơn, họ mới có sự thay đổi.
Suốt thời gian học ở đây, tôi học rất khá, được xếp hạng trong
10 học sinh đầu lớp.
Khi lên những lớp cao hơn, và tuổi đời đã khoảng 13 - 14,
chúng tôi tự nhiên có ý nghĩ là tại sao mình là người Việt
Nam mà chỉ học Pháp văn, mà lại không chuyên chú vào Việt
văn? Sau đó 1 số anh em chúng tôi tổ chức nhóm “Tao Đàn”
để những giờ đi dạo (promenade) vào ngày thứ Tư lên những
đồi trọc, tụ họp nhau lại, đọc cho nhau nghe và phê bình
những văn thơ do các tác giả trong nhóm sáng tác.
Nhóm chúng tôi gồm có 4 người lấy tên là “Hà Việt Anh
Lam” tức là Hà Ninh, biệt hiệu của Nguyễn Hoán, Việt Châu
biệt hiệu của tôi Nguyễn Đình Thông, Anh Tuấn biệt hiệu của
Nguyễn Huân và Lam Sơn biệt hiệu của Nguyễn Huấn, tức
Huấn Lé, vì mắt anh bị lé quá nặng. Sau một thời gian có một
anh bạn lớp dưới chúng tôi cũng xin gia nhập nhóm. Đó là
Nguyễn Xuân Hoa, sau này làm linh mục đã trở thành một
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nhà thơ nổi tiếng với biệt hiệu Xuân Ly Băng. Những bài thơ
có nội dung và hình thức phong phú và những chuyện ngắn
kiêu hùng hấp dẫn nói lên lòng yêu nước nồng nàn, tình quê
hương thắm thiết.
Tôi rất tiếc là khoảng năm 1950, bao nhiêu tài liệu sách vở
ghi chép các bài thơ, chuyện ngắn của tôi và của anh em bạn
thân tặng tôi để tại nhà đã bị thất lạc. Sở dĩ thất lạc vì khi VM
về tịch thu của cải, và gánh hết luá gạo của Ba Má tôi tại làng,
đồng thời họ tịch thu, tháo gỡ căn nhà gỗ lim ba gian hai chái
của Ba Má tôi mua tại Huyện Lệ Thủy đem về xây dựng ở
làng Đơn Sa, họ gỡ đem đi đâu chúng tôi không hề hay biết.
Đồng thời trong khi đó, Ba tôi bị VM bắt đi tù vì họ cho là
địa chủ ác ôn. Còn hai em tôi, Minh và Toàn cũng may mắn
thoát chạy được vào Đồng Hới, không còn biết được điều gì
đã xảy ra cho gia đình nhà cửa ruộng vườn tại quê hương làng
xóm.
Trong lớp tôi có một người bạn khác là anh Nguyễn Hữu Bốn.
Anh Bốn rất giỏi Pháp Văn. Những bài luận Pháp văn làm bài
trong lớp của anh đều được cha Le Galle, giáo sư Pháp văn
của chúng tôi dùng làm bài mẫu cho học sinh.
Tuy nhiên, lúc bấy giờ anh Bốn ốm yếu, xanh xao võ vàng.
Người ta bảo rằnh anh bị bịnh lao phổi. Mà Lao phổi thời bấy
giờ còn bị liệt vào “tứ chứng nan y”, chưa tìm thuốc nào chữa
trị được. Do đó, nhà trường phải cho anh Bốn xuất và trở về
nguyên quán.
Nhà trường sợ rằng nếu Bốn tiếp tục ở lại học sẽ gây nên sự
truyền nhiễm cho các học sinh khác. Bẵng khi khoảng hơn 10
năm sau, Bốn xuất hiện tại Huế và đã tình nguyện vào làm Ty
Công An Thừa Thiên với chúng tôi. Lúc bấy giờ anh Hoàng
Bá Linh làm Trưởng Ty. Anh Linh là bạn học lớp trên của
chúng tôi.
Tôi đang phụ trách Văn phòng Công Văn Đi và Đến. Anh
Bốn đọc và dịch các tài liệu về Pháp văn.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Anh Bốn độc thân, ăn cơm tháng với gia đình chúng tôi. Một
thời gian sau, không biết tại sao Bốn bị cảm thương hàn nặng,
phải chở đi nhà thương Huế. Bốn suýt chết, hai tay đã bắt
chuồn chuồn (Bệnh nhân đau nặng mà các ngón tay mở ra
chúm lại như bắt một vật gì, theo các thầy thuốc ta thì đó là
dấu hiệu sắp chết).
Vì độc thân, tội nghiệp không có ai săn sóc, nên gia đình tôi
phải cáng đáng việc đưa cơm nước, và đồ đạc cần thiết vào
bệnh viện hằng ngày cho bệnh nhân. Tôi phải đạp xe từ Thành
Nội qua cầu Trường Tiền, lên Bệnh Viện Huế mỗi ngày hai
lần. May mà còn trai trẻ, nếu với tuổi già bây giờ thì tôi xin
đầu hàng.
Thời gian sau Bốn đã bình phục, tôi bàn với Hoàng Bá Linh
là phải kiếm cho Bốn một người bạn đời, để vợ chồng chăm
sóc cho nhau. Chứ nếu có việc gì như ốm đau, thì rất bất tiện
cho anh em bạn. Chúng tôi khuyến khích Bốn thực hiện ý
nghĩ trên đây của chúng tôi. Hằng ngày mỗi buổi sáng, Bốn
hay đi dạo đọc kinh, lần hạt ngoài vườn Canh Nông. Bốn đã
để ý có một cô gái xinh xinh thường đi băng qua khu vườn
Canh Nông thuộc Ty Công An Thừa Thiên để đi xem lễ nhà
Thờ Cầu Kho trong Thành Nội Huế. Chúng tôi hỏi anh Bốn
có bằng lòng cô gái đó không? Bốn dè dặt trả lời: "Thì cũng
được!”
Nếu bằng lòng thì tấn công ngay, việc gì làm trước, ăn nói ra
sao, việc gì làm sau, kết luận thế nào. Mọi công tác tấn công
phải được báo cáo thành quả với Ban Tham Mưu chúng tôi.
Lẽ dĩ nhiên, Ban Tham Mưu vạch kế hoạch, vì Bốn rất đạo
đức, đã có khi nào đi tán gái đâu. Thấy gái, anh sợ choáng
váng mặt mày. Muốn nói, chẳng biết nói gì, quên tất cả. Bởi
vậy, phải hướng dẫn anh hỏi gì, nói làm sao. Và sau công tác
phải báo cáo để thu hoạch ưu khuyết điểm.
Tuy nhiên, một thời gian sau, Bốn đã tấn công và nắm vững
vấn đề, anh chẳng còn báo cáo hay tâm sự hỏi han gì nữa.
Chúng tôi và Linh bắt tay nhau, cười và thầm chúc anh Bốn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thành công trong đường tình duyên. Từ đó, anh chẳng còn
đau ốm gì nữa cho đến bây giờ. Và cũng từ đó, nghĩa là từ
ngày anh bám sát cô ta, hai người đã tâm đầu ý hiệp xây dựng
cuộc sống trăm năm, anh chẳng còn đau ốm gì đã đành, mà
anh chị đã cho ra đời hằng năm những người con khỏe mạnh,
đạo đức, thành công trong xã hội. Xin mừng cho anh chị và
gia đình vậy.
Anh Bốn là cựu Trung Tá QLVNCH, từng bị tù cải tạo, và
hiện anh chị định cư tại San José, California, con cháu đầy
đàn, ăn nên làm ra. “Bệnh lao” ngày xưa của anh, nay chẳng
còn thấy đâu, mặc dầu không dùng thuốc Tây để chữa trị bệnh
nan y đó. Anh cho biết là khi ở Trường về nhà, anh đã trị
bệnh bằng thuốc Nam do một đông y ở địa phương chăm sóc.
Đúng là bệnh lao của anh đã được một thầy lang chữa khỏi,
vì anh chỉ dùng thuốc Nam mà không hề dùng thuốc Tây bao
giờ.
Chúng tôi vẫn liên lạc thường xuyên, coi nhau như anh em,
bạn chí thân, vì tư cách chân thực của anh chị. Nay anh Bốn
cũng đã mất tại San Jose, CA.
Khi tôi đã đậu xong bằng Tiểu Học (Certificat d’étude
Primaire Complementaire), tức là xong chương trình ở
Trường Probatorium, tôi được gia nhập Petit Séminaire ở Xã
Đoài, một địa danh nổi tiếng là nơi sản xuất ra cam Xã Đoài,
một loại cam ngọt và thơm hết sẩy.
Ngoài Bắc có cam Bố Hạ, miền Trung có cam Xã Đoài. Có
những vườn cam rất quí, dưới gốc cây chưng những tủ gương
nhỏ, dựng những văn bằng và huy chương chính phủ cấp cho
cây cam. Vì những cây cam này đã chiếm giải nhất trong các
kỳ đấu xảo thi tuyển hằng năm.
Tại Petit Séminaire, nhà Trường vẫn dạy theo chương trình
Pháp Văn, nhưng học sinh phải học thêm môn cổ ngữ Latin.
Tôi phải mài miệt cày bốn năm Latin. Thú thiệt, tôi chưa thấy
thứ tiếng nào khó và phức tạp như Latin. Chữ nào cũng phải
chia (décliner), ngoài động tự phải chia (Conjuguer) là lẽ tự
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nhiên. Câu Latin càng dài càng tốt, càng có nhiều câu phụ
(Propositions subordonnées) càng hay. Sau chương trình bốn
năm, học sinh có khả năng thi Diplôme Pháp lúc bấy giờ, tức
là ngang hàng với ngạch Secrétaire Résidence của Chính phủ
Pháp áp dụng tại Đông Dương thời kỳ này. Chỉ cần học thêm
hai năm nữa là thi tú tài Pháp theo chương trình thời bấy giờ.
Tôi quyết định và ước mơ tiếp tục thi các văn bằng trên.
Trong một buổi sáng đẹp trời mùa hạ, tôi thấy Nguyễn Huân,
tức thi sĩ Anh Tuấn trong nhóm “Hà Việt Anh Lam”, không
phải chỉ Huân mà cả Hoan, một người bạn thân trong đội túc
cầu nhà trường và cả Huấn (Lé) tức thi sĩ Lam Sơn, đến nói
chuyện với tôi và đề nghị với tôi suy nghĩ có nên tiếp tục tu
học để trở thành Linh Mục không?
Trong khi đó tôi là một học sinh giỏi, xuất sắc trong 10 học
sinh đầu lớp lại có hạnh kiểm tốt, không bị nhà trường cảnh
cáo điều gì. Những lý lẽ của các bạn đưa ra thật là “con nít”,
nhưng tôi lúc bấy giờ cũng vào hàng con nít, nên tôi đã bị
quyến rũ xiêu lòng. Tôi còn nhớ Hoan đã nói một câu: “Cậu
mày thích đá banh, làm linh mục phải mặc áo thâm dài, làm
sao đá banh được?” Ấy thế mà lúc bấy giờ tôi cho là chí lý.
Thực là “xúi trẻ ăn cứt gà”. Sau đó tôi lên cha Bề Trên nạp
đơn xin xuất tu. Lúc bấy giờ, bề trên là cha Lambert, thường
gọi là cố Lâm. Ngài quá dễ dãi và đồng ý cho xuất mà chẳng
hỏi lý do. Ngài có viết trong giấy chứng nhận của tôi rằng: "Il
est sorti sur sa demande, je n’ai rien à lui reprocher ni au point
de conduite, ni au point de travail” (Trò này xuất trường do
đơn xin, tôi không có điều gì trách cứ anh ta về hạnh kiểm
cũng như về công việc học hành).
Sau này, tôi gặp lại cha Nhiên, cha linh hướng của tôi ở
Probatorium, ngài trách tôi quá, ngài nói nếu hôm đó có ngài
ở đó thì tôi không thể xuất tu được. Dịp đó cũng là dịp bãi
trường, chúng tôi thu dọn hành lý và từ giã mái trường thân
yêu từ dạo đó.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thời gian tiếp theo, vì tình hình chiến tranh, nghe đâu các
chủng sinh theo học rất khó khăn, và đã có nhiều người bỏ
trốn vào Nam khi Hiệp Định Genève ký kết chia đôi đất nước.
Khoảng năm 1944, 1945, tôi dự định ra học trường Chính
Hóa ở Vinh và cũng dự định ra Hà Nội thi bằng Diplôme.
Tuy nhiên, chiến tranh Nhật Mỹ ngày càng tàn khốc và lan
rộng. Mỹ bỏ bom phá hết các các nhà ga xe lửa và các cầu
đường, nên mọi ý định đều bất thành.
Đến thời VM cướp chính quyền, việc tiêu thổ kháng chiến
càng mạnh hơn, do đó việc dự định đi học lại và đi thi
Diplôme đành đi vào ngõ kẹt.
Vào thời kỳ đó, có một số chủng sinh bỏ quê hương Nghệ
Tĩnh chạy vào Nam để lánh nạn chiến tranh. Các anh ấy đã
đổi cả tên họ. Chẳng hạn như anh Trần Bá Cường, đổi lại
thành Trương Bá Cần, hiện là một linh mục quốc doanh sau
khi du học ở Pháp về, gây nhiều khó dễ cho Giáo hội Công
giáo Việt Nam; Anh Nguyễn Tường đổi lại là Ngô Thế Linh,
trước đây anh là một Đại Tá QLVNCH thuộc Lực Lượng Đặc
Biệt. Rất tiếc, anh đã mất sớm tại San Jose, California.
Thời kỳ này, cha mẹ anh em chúng tôi đều ở nhà, riêng tôi
được cha xứ chỉ định dạy trường làng. Dạy mà không có tiền
thù lao. Đồng thời tôi vừa giúp dạy các lớp giáo lý cho nhà
thờ, nên ăn ở luôn trong nhà xứ.
C,Tham gia cách mạng:
Thời gian này, tôi có quen với anh Trần Hường, người làng
Thọ Đơn (Quãng Trạch, Quãng Bình). Anh là một nhân viên
cách mạng cao cấp của Tỉnh. Anh rủ tôi vào hoạt động cách
mạng. Là một thanh niên yêu nước, mong muốn tổ quốc thoát
khỏi chế độ thực dân của Pháp. Tôi đồng ý gia nhập đoàn
thanh niên tiền phong cách mạng. Trong thời kỳ hoạt động bí
mật, hằng đêm phải sinh hoạt ở một nơi trong làng Thổ Ngọa,
viết bao nhiêu khẩu hiệu chống đối thực dân, đả đảo phong
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
kiến. Chính trong thời kỳ này, tôi có quen nhiều cán bộ khác
như Phạm Giang Hồ, Trần Dần, Trần Sớ v.v.
Sáng sớm hôm trước ngày cách mạng cướp chính quyền tại
Phủ Quảng Trạch, tôi có nhiệm vụ vào Phủ Đường trao một
lá thư cách mạng cho gia đình ông Phủ Trưởng. Yêu cầu ông
đầu hàng và tuyệt đối không được động binh. Tôi chọn một
người nằm đắp “ra” cao nhất, đánh thức dậy và trao lá thư.
Đó là một người con trai lớn của ông Phủ. Ngay sau đó tôi
lấy xe đạp gấp và “dzọt” lẹ về báo cáo công tác.
Ngày hôm sau là ngày họp phiên chợ Ba Đồn, tôi gọi chú
Niệm (Tùng) con chú Đội Hứa, đi Ba Đồn lên lầu Vĩnh
Tường tham dự lễ cướp chánh quyền của cách mạng. Một số
người làng đi chợ phiên thấy sự hiện diện của chúng tôi trên
balcon Vĩnh Tường đều ngạc nhiên.
Cuộc cách mạng thành công ở Phủ, và tất cả các làng đều phải
theo. Lúc bấy giờ, trong làng phải thành lập một Ủy Ban
Hành Chánh Cách Mạng. Làng họp lại và chính tôi đề nghị
chỉ định anh Công làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Xã.
Trong khi đó có nhiều người muốn lợi dụng “nước đục thả
câu”, nhưng đã bị tôi chận lại.
Do vậy là sinh ra thù ghét, có người đã trình tên tôi lên Huyện
(đổi tên mới, trước là Phủ) là người phá hoại cách mạng.
Huyện đã tống đạt giấy đòi gọi tôi lên trình diện Chủ Tịch
Huyện. Cầm giấy đòi lên Huyện, tôi không biết ai là Chủ Tịch
Huyện. Đang dứng lơ ngơ, tôi gặp Phạm Giang Hồ. Tôi hỏi:
"Đồng chí có biết ai là Chủ Tịch Huyện không?” Anh ta trả
lời: "Tôi đây, có gì vậy?” Tôi liền đưa cái giấy Huyện đòi tôi
lên trình diện cho anh ta xem. Anh ta mới ngã ngữa, chửi thề:
"Thằng Ch. báo cáo bậy, anh về trị thằng đó cho tôi”. Khi đó
tôi mới biết ai báo cáo. May mà tôi đã quen một số cán bộ
nòng cốt lúc bấy giờ, bằng không thì cuộc đời đã đi theo ông
bà từ dạo ấy rồi.
Sau khi cướp chánh quyền ở Phủ thành công, Ủy Ban Hành
Chánh Huyện hỏi ý kiến tôi muốn làm việc gì tại địa phương?
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Vì tôi là một học sinh, chưa hề biết công việc hành chánh,
nên tôi chỉ xin vào giáo giới. Do đó Ủy Ban Hành Chánh
Cách Mạng Huyện đã đề cử tôi dạy trường Tiểu Học Ba Đồn.
Thú thật, lương dạy học mỗi tháng chỉ được lãnh $75.00, mà
cơm tháng tối thiểu phải trả $80.00. Ba má tôi phải cho tiền
mà bù vào. Tôi ăn cơm tháng tại nhà ông bà Hai H., ba má
của cô Ch. tại Huyện lỵ Ba Đồn. Sau một thời gian, khi tôi bị
đau ở ống thực quản, ăn uống khó khăn, tôi phải xin phép thôi
dạy học và ở nhà trị bịnh ống thực quản “Oesophage” bị
nghẹn trong lúc ăn uống.
Sau đó ông bà Hai H., không biết vì lý do gì mà cả hai đã bị
bắt đi, và bị du kích V.M. giết chết, chỉ còn lại cô con gái độc
nhất tên Ch. Thân gái cô đơn, nên bị bọn đầu trâu mặt ngựa
du côn du đãng hãm hiếp đến phải mang bệnh hoa liễu nặng
nề. Cơn bệnh càng ngày càng trở nên trầm trọng vì không có
thuốc men.
Ông bà Quản Chương (Quản là Adjudant, tức là Thượng sĩ),
ông là thủ chỉ làng Đơn Sa lúc bấy giờ, có bà con với ông bà
Hai H., phải đem cô Ch. về làng nuôi dưỡng. Bịnh tình cô
nặng đến nỗi thân hình cô co rúm lại như một đứa con nít lên
6 tuổi, xanh xao võ vàng, ốm o gầy guộc, đầu gối và mắt cá
sưng phù ra và chảy nước vàng. Ai trông thấy cũng phải xa
lánh vì sợ lây bệnh.
Trong làng Đơn Sa lúc bấy giờ có ông hương Sử là một thầy
thuốc chữa bệnh hoa liễu gia truyền rất giỏi. Khi bà Quản
Chương đưa cô Ch. đến xin chữa bệnh, ông Hương Sử, sau
khi xem bệnh tình, ông đã chưởi cô Ch. một câu bất hủ: "Tổ
cha mày, ngu... để đến nỗi nên cớ sự này!” và ông hỏi tại sao
để bệnh lâu quá như vậy mà không lo đi chữa sớm? Nó đã ăn
vào xương tủy rồi. Đây là loại bệnh giang mai (Syphilis), một
loại bệnh hoa liễu nguy hiểm nhất, thuộc vào hàng nan y, tức
là không có thuốc nào chữa được.
Thông thường ở Việt Nam thời bấy giờ, ai đã bị bệnh này thì
phải ẩn tránh vào vùng rừng núi sống một mình chờ chết, thân
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bại danh liệt. May mắn nếu lành được thì không còn đường
tử tuất (tức là không còn sanh con được). Cô Ch. được ông
Hương Sử chữa cho ba tháng. Thuốc của ông rất bí mật. Ông
đi một vòng ngoài vườn nhà, hái một nắm lá cây, không ai
biết lá cây gì, ông bỏ vào cối nhỏ với một ít muối và nước,
ông vắt nước cho bệnh nhân uống, còn xác thuốc thì ông đắp
vào vết thương ngoài da. Ấy thế mà qua thời gian, cô Ch. lành
hẳn bệnh, người cao ráo trở lại và sắc đẹp người con gái 18
trở về lại với cô.
Nghe đâu sau đó cô lấy anh Th., thông ngôn cho quân đội
Pháp tại đồn Quảng Khê, và còn sinh hạ một cháu gái xinh
xắn. Không biết nay gia đình anh chị thế nào, chỉ nghe nói
anh Th. hiện ở Texas, còn cô Ch. thì định cư tại Pháp.
Không biết loại thuốc gia truyền này còn lưu truyền lại cho
hậu thế hay lại giữ bí mật theo ông mang về âm phủ mất rồi.
Nếu như vậy thì thật là uổng phí.
D, Rời bỏ cách mạng :
Tôi dạy học được khoảng ba bốn tháng. Một hôm tôi theo bạn
bè lên Địa Hạt Hướng Phương, tham dự phong trào Liên
Đoàn Công Giáo của Đức Cha Lê Hữu Từ. Thực ra thì tôi đi
chơi gặp bạn bè hơn là đi họp. Khoảng giữa trưa hôm ấy, có
anh Nguyễn Văn Ngọc, một bạn học lớp lớn hơn ngày xưa ở
trường Probatorium cho tôi biết là các cha họp trong Văn
Phòng Địa Hạt bảo rằng: tôi là tên cộng sản lên đây dò thám
tin tức. Tôi sửng sốt, như một người Thượng về thành phố,
tôi hỏi lại anh Ngọc “Tại sao gọi tôi là cộng sản?” Anh Ngọc
trả lời: “Có lẽ cậu làm việc dạy học cho VM, nên bị các cha
buộc tội cộng sản.
Cũng từ hôm đó tôi mới biết VM là cộng sản, bị Giáo Hội
Công Giáo lên án và ai gia nhập cộng sản đều bị Giáo Hội
dứt phép thông công. Hình phạt nặng như vậy, vì cộng sản
chủ trương Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình, Vô Tôn Giáo.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thực ra, vào thời kỳ ở tuổi thanh niên đó, chúng tôi vì yêu
mến Tổ Quốc, hăng say hoạt động cho cách mạng để lật đổ
chế độ thực dân, quan liêu, phong kiến, đem lại độc lập, tự do
dân chủ, cho Quê Hương Đất Nước; để tạo nên một xã hội
Công Bằng, Ấm No, Hạnh Phúc cho đồng bào. Thực sự mà
nói, lúc bấy giờ chúng tôi chưa hề biết Việt Minh là cộng sản.
Do đó, khi được biết ý đồ của Hồ Chí Minh muốn thực hiện
lý thuyết cộng sản trên Quê Hương, chúng tôi đã tìm mọi cách
để rút lui.
Cũng là một dịp may, vì bị đau ống thực quản, tôi đã xin rút
lui việc dạy học ở Trường Tiểu học Ba Đồn, tôi về giúp dạy
học cho nhà xứ và cũng là dịp tôi sinh hoạt cho Phong Trào
Thanh Niên Liên Đoàn Công Giáo tại Giáo xứ Đơn Sa.
Những hoạt động cách mạng của toàn dân trong thời kỳ có
phong trào VM là do sự đốc thúc của lờng yêu nước, yêu dân
tộc và sau này cộng sản đã lợi dụng các phong trào này để
cướp chính quyền, phỏng tay trên các đoàn thể quốc gia chân
chính. Hơn nữa thời kỳ 1944, 1945, dân chúng chưa hiểu biết
cộng sản là gì, sự thâm độc tàn ác của nó ra sao, nên đã bị lừa
vào trong đường cách mạng để chống thực dân Pháp và quân
phiệt Nhật. Âu đó cũng là một bài học chua cay cho dòng
giống Tiên Rồng vậy!
Trong thời gian chúng tôi đang hoạt động cho Liên Đoàn
Công Giáo tại làng, một hôm có một đoàn binh quân đội
Pháp, trú đóng tại Quảng Khê, lên hành quân tại làng. Chúng
nó vào nhà dân bắt heo, gà mà không có ai dám ra can thiệp
cả, vì phần đông dân làng không biết tiếng Pháp.
Thấy cảnh chướng tai gai mắt, buộc lòng tôi và anh Bé (chồng
chị Bường, con mệ Hương Thoại, có nhà sát cạnh nhà tôi)
phải ra can thiệp. Sau khi nghe chúng tôi trình bày với cấp
chỉ huy của chúng rằng “Đây là một làng công giáo, không
có bộ đội hay du kích Việt Minh nào ở trong làng cả, xin đừng
phá và lấy của đồng bào.”
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Nhờ đó, cuộc phá phách làng xóm của đám quân này đã được
chận lại. Tuy nhiên sau đó, có người báo cáo anh Bé liên lạc
với Tây, nên anh bị VM bắt và thủ tiêu mất tích. Không biết
anh bị giết chết ở đâu.
Tội nghiệp, anh Bé vừa ở Sài Gòn về làng và mới cưới chị
Bường (em anh Thái) con mệ hương Thoại, nhà ở sát cạnh
nhà tôi. Anh Bé bị giết trong khi chị Bường đang mang thai.
Sau này chị sinh được một bé gái. Cha con chưa bao giờ được
gặp nhau. Nghe nói cháu gái này hiện định cư tại California
(?) Thật là tội nghiệp cho anh Bé. Anh bênh vực cho dân làng
mà lại bị vu cáo là liên lạc với Tây!!!
Làng Đơn Sa sau đó đã quyết định rào làng, chống lại mọi sự
xâm nhập bất cứ từ đâu đến. Dân chúng rất hoan nghênh và
công tác rào làng rất tích cực. Song song với việc rào làng,
một đội phòng thủ của làng đã được thành lập do anh Nguyễn
Rí chỉ huy.
Anh Nguyễn Rí, nguyên là đội trưởng (Trung sĩ) trong Quân
đội Pháp. Anh rành về súng ống đạn dược, các cuộc hành
quân, tập kích. Rất tiếc súng ống đạn dược rất hiếm hoi, nên
đoàn quân phòng vệ làng dùng toàn gậy gộc dao mác.
Một hôm, một toán bộ đội hay một toán du đảng, ở đâu đó về
tập kích làng, dân làng không biết bộ đội nào và cũng không
được thông báo lực lượng nào đến làng có mục đích gì. Dân
làng báo động, tất cả tráng đinh trong làng sẵn sàng ứng phó.
Các vị chức sắc trong làng tìm hiểu lực lượng nào đang xâm
nhập làng và với mục đích gì?
Tuy nhiên, toán tấn công làng cứ tự nhiên nổ súng, mà không
nói điều gì cho nhân viên Hội Đồng xã biết để tiếp đón. Cuộc
xâm chiếm làng đã xảy ra bất ngờ, hai người dân làng bị tử
thương, đó là anh Nguyễn Thanh, một dân làng chạy ra xem
việc gì đã bị bắn chết, và một người khác say rượu nói lảm
nhảm... đã bị thảm sát một cách vô nhân đạo.
Riêng anh Nguyễn Rí, mặc dầu không phải là một địa chủ
nhưng anh đã bị giết chết trong dịp cải cách ruộng đất. Anh
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chỉ là một cựu chiến binh can trường lo lắng sự an nguy của
bà con cô bác trong làng xã, sẵn sàng chống đối hạng cướp
của giết người, bọn “thừa nước đục thả câu”. Công ơn anh
đáng được ghi nhớ trong làng xã. Nhưng sau đó anh bị vu oan
là chống đối cách mạng (!!!) và anh đã bị xử tử một cách bất
công, oan uổng, không bào chữa được.
E, Lập Gia Đình:
Vì tình hình ngày càng căng thẳng, Ba má quyết định tôi phải
lập gia đình để lo lắng làm ăn, không còn làm những việc vớ
vẩn. Tôi tự hỏi “Lập gia đình với ai bây giờ?” Vì lẽ tôi không
biết, và không quen thân với một cô gái nào.
Một hôm, tôi đi xuống nhà chị Quỳnh, má của anh Lưu, để
thăm chị. Bỗng nhiên chị Quỳnh hỏi tôi: “Chị nghe nói Ông
Mệ đang nhắm cô Hạnh, con Ông Mệ Bộ Các, cho cậu nào
đó, có thật vậy không cậu Thông?"
Không đợi trả lời, chị nói tiếp: “Chà, cô Hạnh nết na, duyên
dáng lắm. Hôm chị đi với O Lân (nữ tu) sang nhà ông mệ Bộ
gặp bà Sâm (Bề Trên nữ tu), vào nhà gặp cô Hạnh ngồi têm
trầu trên phản, hai chân xếp nghiêng, miệng cười chào hỏi
chúng tôi, thiệt là nết na đức hạnh, dễ thương làm sao ấy, cậu
Thông à!”
Nghe chị nói vậy thì hay vậy, thú thật tôi chưa bao giờ để ý
đến cô Hạnh, nghĩa là có gặp nhưng chưa có tình ý gì cả.
Nhưng khi chị Quỳnh đề cập đến Hạnh một cách khách quan
như trên, bấy giờ tôi mới theo dõi và quan sát cô Hạnh.
Hạnh là con gái út của ông mệ Bộ Các, con ông bà nhà giàu
về ruộng đất ở thôn quê. Tuy nhiên, khi chúng tôi đã quen
nhau, tôi mới thấy Hạnh là một người con gái đạo đức, khiêm
tốn, nhu mì, hiền hậu và khôn ngoan.
Tôi cám ơn Chúa đã sắp đặt cho nghe chị Quỳnh nói một câu
bâng quơ như vậy, hỏi mà không cần trả lời. Chính nhờ câu
của chị Quỳnh mà chúng tôi sau này trở nên vợ chồng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Nói về sắc đẹp thì Hạnh dễ thương trên trung bình, nhưng rất
duyên dáng và nết na đạo đức. Người ta bảo: "Cái nết đánh
chết cái đẹp” là vậy. Trong thời gian tôi mới quen Hạnh, cô
đang bị một ung nhọt giữa hai ngón chân, đi lại rất đau đớn
khó khăn, nhức nhối, chân sưng phù lên.
Ở nhà quê lúc bấy giờ không có thuốc men gì để chạy chữa
cả. Tôi liền đề nghị Hạnh phải ngâm nước muối hằng ngày,
và tôi đi tìm một dĩa hát bằng nhựa, bẻ ra, đốt cho thành tro,
tán nhỏ, lấy tro đĩa hát đó xức vào chân, chỗ bị mụn đau. Môn
thuốc công hiệu, đêm hôm đó vết thương hết nhức, và chỉ
năm bảy ngày sau, mụt nhọt lành hẳn. Môn thuốc này tôi nghe
lóm ở đâu đó, hiện tôi cũng không còn nhớ rõ xuất xứ.
Trong thời trai trẻ, tôi là một thằng con trai “đô” con, có vóc
dáng và không thiếu các cô con nhà giàu có danh tiếng ở Thị
Xã Ba Đồn thầm mơ. Các cô tân thời xinh đẹp, áo quần đúng
mốt, và dám cỡi xe đạp về làng tìm tôi...
Bọn họ gặp anh Xướng hỏi thăm. Sở dĩ họ tìm được nhà vì
trong làng chỉ Ba Má tôi có ngôi nhà lầu hai tầng mà thôi.
May mà tôi đi vắng, bằng không lại gây cho Hạnh những giây
phút buồn phiền vì hiểu lầm, mặc dầu tôi và Hạnh chỉ mới
quen nhau, chưa hứa hẹn gì với nhau cả.
Đối với các cô trên phố Ba Đồn, tôi cũng chỉ biết họ qua thời
gian dạy học tại Trường Phủ Ba Đồn mà thôi. Tôi cũng không
quen thân hoặc bạn bè gì với họ cả. Ấy thế mà các cô dám
cỡi xe đạp về làng tìm trai, gan thật! Anh Xướng thì cứ mủm
mỉm cười ruồi, mặc dầu tôi cố giải thích, nhưng có lẽ anh
không tin. Khổ quá, thằng con trai mới 20 tuổi đầu, vừa đi tu
về, có biết gì về đàn bà con gái đâu. Tuy nhiên Hạnh rất tin
tôi, đối với cô chẳng có gì thắc mắc cả.
Kể từ ngày tôi xin thôi dạy học, tôi phải xin ông Y Tá Trưởng
Phủ Quảng Trạch, ba của cô Lài, chứng nhận cho tôi bị sưng
cuống dạ dày, nên không tiếp tục dạy học được. Ông cụ Y Tá
Trưởng này rất có cảm tình với gia đình nhà tôi và quí mến
tôi. Có lẽ vì thế mà cô Lài rủ các bạn cùng xuống làng tìm tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chăng? khi tôi không còn dạy học ở Trường Phủ Ba Đồn nữa?
Nhờ vào giấy chứng nhận đó mà tôi xin thôi việc dạy học dễ
dàng.
Cũng vì tình hình ngày càng khó khăn, nên trong nhà Ba Má
muốn tôi cưới vợ gấp để chứng tỏ tôi đã an phận làm ăn,
không còn bay nhảy. Vì vậy, tôi và Hạnh đã quyết định thành
hôn, đã được Linh mục Dũng, cha chính xứ Đơn Sa làm lễ
cưới tại nhà thờ vào ngày 12 tháng 2 năm 1947.
Đặc biệt trong ngày hôm đó có đến tám (8) cặp cùng làm phép
hôn nhân. Trong số đó có cặp anh Thạch (con ông bà Thiết)
và chị Kính (con ông bà Điệp) và còn 6 cặp nữa, lâu ngày tôi
đã quên tên. Lúc bấy giờ tôi chưa đầy 22 tuổi, còn Hạnh chỉ
mới 17.
Vì nhận thấy tình hình ở nhà khó khăn và đói kém, nếu không
nhanh tay tìm chỗ thanh bình kiếm công ăn việc làm. Do đó,
tôi để vợ ở lại ngoài làng, mặc dầu mới cưới. Tôi vào Đồng
Hới kiếm công việc làm ăn.
Tôi đã đi vào Đồng Hới bằng xe đạp, khi vượt đèo Lý Hòa
(Hoàn Lão) rất là cực nhọc vì phải đạp xe lên dốc. Khi đổ dốc
xuống, xe đạp của tôi bị đứt giây thắng không làm sao hãm
xe lại được, thế là tôi để cho xe chạy tự do tuột dốc với tốc
lực khủng khiếp.
Cuối cùng tôi không còn kiểm soát được chiếc xe nên đã té
lăn nhào bò càng xuống một khoảng đất bên vệ đường, gần
sát Đồn An Lão. Lính tráng trong đồn đã chạy ùa ra, vực tôi
dậy và chăm sóc các vết thương trầy máu. Sau một giờ ngồi
nghĩ lại sức và sửa chữa lại xe đạp, tôi lại lên đường vào Đồng
Hới. Kể ra thời trai trẻ khỏe mạnh thật.
Tôi đã xa nhà từ dạo ấy, cho đến khi một đồn binh Pháp đóng
tại một trường Tiểu Học trong làng, tôi mới có dịp trở về quê
thăm gia đình.
Vào Đồng Hới, tôi làm việc cho Tổ chức “Quốc Gia Liên
Hiệp”. Làm việc ba bốn tháng trời mà không có lương. Họ cứ
hẹn rày hẹn mai, rút cuộc chẳng nhận được xu nào cả. Tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
tạm trú ăn cơm tháng tại nhà anh chị Hoàng Cản. Ăn cơm
chịu, khi nào có tiền thì trả. Tôi đã ăn cơm tháng trường kỳ
hằng ba bốn tháng mà anh chị Cản không hỏi han tiền bạc gì
cả. Sự việc có thể hiểu ngầm là có tiền thì trả, không tiền thì
thôi. Tình nghĩa ấy tôi không bao giờ quên.
Tuy nhiên, sau khi vào làm Ty Sở An Ninh Đồng Hới, đặc
trách về công văn đi đến, tôi đã sòng phẳng thanh toán hết nợ
nần với lời cám ơn anh chị. Để bày tỏ sự vui mừng, anh chị
đã tổ chức một buổi tiệc nhỏ trong gia đình mừng tôi có công
ăn việc làm. Tôi rất cám ơn anh chị.
Anh Hoàng Cản là cựu lính thợ ONS (Ouvrier non spécialité)
trong Quân Đội Pháp. Lúc bấy giờ, anh về lại Việt Nam làm
việc cho Ty Cảnh Sát Việt Nam, đặc trách kiểm soát bến tàu
Đồng Hới. Anh chị Cản rất tốt đối với tôi nên tôi xem như
anh em ruột thịt. Chị Cản có người chị không rõ tên gì. Nghe
Mary Hoàng, con chị Cản cho biết chị tên là Hủy, mà tôi
chẳng bao giờ nghe ai gọi tên ấy. Thường chị được gọi tên
con là chị Phước. Chị Phước có hai người con gái là cô Phước
và cô Ngọc. Anh chị Cản còn có người con gái đầu tên là
Thông, ốm yếu xanh xao và thường xuyên đau bệnh, sau đó
nghe tin cô đã qua đời. Ngoài ra, anh chị Cản còn có người
con gái khác tên là Minh hiện ở California, và những người
con khác nhỏ hơn, nhưng lúc đó chúng tôi đã xa nhau, vì tôi
gia nhập quân ngũ theo học Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Mary Hoàng (Hương) con anh chị có chồng tên Trọng, hiện
định cư tại California. Theo Mary Hoàng cho biết thì anh chị
Cản còn có một người con trai tên Hoàng Cảnh, đậu bằng
Master về Computer, hiện làm việc khá giả tại Úc Đại Lợi.
Các con cháu anh chị thành công chắc chắn là do phúc đức
của ba má để lại.
Thời gian tôi 20, 21 tuổi chạy vào Đồng Hới, tuổi đời còn
thanh xuân tráng kiện. Là một thanh niên đang đà phát triển
lớn tôi rất khỏe mạnh. Thường thì cả nhà ăn cơm trước, vì tôi
phải ở lại làm việc tại Sở, về nhà theo thì giờ ấn định, nên tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ăn sau. Vì ăn cơm tháng nên tôi cũng tạm trú tại đây luôn.
Trong công việc hay cuộc sống, gặp điều gì khó khăn, bở ngỡ,
tôi thường hỏi ý kiến anh chị. Tình nghĩa rất thân thiết và
chân thật lúc bấy giờ.
Sau đây là một câu chuyện tôi đi xin việc tại Đồng Hới.
Số là lúc đó tôi mới ở làng vào. Tôi đi bộ xuống làng Tam
Tòa, mục đích để gặp Linh Mục Thành, Chánh xứ Giáo xứ
Tam Tòa, xin Linh mục cấp cho tôi một một giấy giới thiệu
đi xin việc, vì uy tín của Ngài ảnh hưởng khá nhiều đối với
Secteur Đồng Hới.
Khi tôi đi đến cầu Mụ Kề thì bị Pháp bố ráp bắt xuống bến rỡ
gạo, từ ghe chất lên xe chở vào kho Quân Nhu Đồng Hới. Số
người bị bắt chia ra làm hai toán. Một toán bốc dở gạo chất
lên xe, một toán đưa gạo từ xe xuống kho.
Tôi bị xếp vào toán chất gạo lên xe. Toán nhân viên đưa vào
kho, có một ông cụ già hút thuốc, vì thiếu hộp quẹt, ông cụ
dùng một khoanh giây thừng đốt lửa sẵn để mồi thuốc.
Tên lính Lê Dương coi nhân công, khám xét thấy giây thừng
có lửa, nó hỏi của ai? Không ai nói gì. Nó bèn sắp nhân công
một hàng dọc và nổ súng bắn chết hết, vì cho rằng giây thừng
đốt lửa cháy là một loại “mèche lente”, dùng để làm nổ mìn
phá hoại kho Quân Nhu.
Ông già tội phạm lại được tha, vì nó thấy ông đã già. Thật là
oan ức và thật là may mắn cho tôi. Nếu tôi đứng vào toán
trong kho thì mạng sống tôi còn đâu! Thời kỳ này quân đội
Pháp mới đến chiếm đóng Đồng Hới, mọi việc đều do Quân
Đội giải quyết như tại chiến trường. Sau đó, không biết Quân
Đội Pháp đã xử trí thế nào với tên lính độc ác kia.
Sau bốn tháng làm việc không lương tại cơ quan “Quốc Gia
Liên Hiệp”, tôi được anh Nguyễn Biểu Hiệu, Trưởng Ty An
Ninh tại Đồng Hới tuyển dụng vào làm công chức công nhật
tại đây. Thời gian này tôi đã có tiền lương và đã thanh toán
tiền ăn cơm tháng cho anh chị Cản đầy đủ, với lời cám ơn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chân thành về lòng tốt của anh chị. Buổi chiều đó anh chị thiết
đãi một bữa cơm có la ve củ kiệu để làm đồ nhậu khai vị nữa.
Tháng ấy, tôi về thăm làng. Tôi có mua bốn chai lave (beer)
về tặng Ba tôi, đồng thời báo tin cho gia đình biết tôi đã có
việc làm. Ba bảo tôi “Mua nước lạnh làm gì, thứ này uống
như nước lạnh vậy”. Câu nói của Ba làm thằng nhỏ tôi cụt
hứng, vì bản thân tôi từ nào đến giờ có biết uống rượu đâu,
nên không có kinh nghiệm.
Một lần trong Sở có tổ chức tiệc tất niên, tôi bị mấy thằng bạn
nài ép uống bia. Nổi máu anh hùng “rơm”, tôi nốc hết một
chai bia LaRue (một loại bia cao). Vì chưa quen uống rượu,
dù là bia, nên tôi bị cú “Shock”, thế mà tôi còn lần mò về nhà
được, tuy đã say bò càng.
Khổ cho anh chị Cản và chị Phước, kéo vực tôi vào giường,
xoa vôi vào lòng bàn chân, cạo gió, xức dầu vào mang tai
v.v... vì sợ tôi trúng gió. Đêm đó tôi bị bia “knock out” (đo
ván), và nôn ra tất cả những thức ăn lúc ban chiều. Hôm sau
tỉnh rượu, tôi mới biết anh và các chị đã săn sóc cho tôi, mà
suốt đêm tôi không hề biết gì cả. Thật là khiếp đến già!
Mà thực vậy, kể từ dạo ấy đến nay, tôi đã có kinh nghiệm và
kiểm soát được mình trong sự vui đùa ăn uống. Buổi ban đầu,
vì thiếu kinh nghiệm, nên mới ra nông nỗi như vậy.
Bà xã tôi vẫn ở nhà lo lắng cho Ba Má, nhất là Má tôi đang
bị đau. Tội nghiệp má tôi, đau mà không có thuốc uống. Hằng
ngày Hạnh phải bồng đỡ, lau chùi, tắm rửa, đút cơm cháo.
Thỉnh thoảng có chị Sen, chị Trí sang giúp.
Ngoài việc chăm sóc cho má tôi, Hạnh còn lo việc chợ búa,
nấu nướng trong nhà theo bổn phận dâu con. Mặc dầu Hạnh
còn nhỏ, khoảng 17 tuổi. Thời gian trôi qua nhanh chóng, qua
năm 1948 thì Má tôi qua đời. Chúng tôi tức tốc thông báo cho
các anh Xướng, anh Trí hiện trú đóng đồn binh tại Ba Đồn
biết tin. Đám tang đã được cử hành trang trọng trong hoàn
cảnh khó khăn của tình thế.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
F,Thời Kỳ Đoàn Tụ: Khi má tôi đã quá vãng và việc chôn
cất xong xuôi, tôi xin Ba tôi cho phép đưa Hạnh vào Đồng
Hới. Chúng tôi tạm trú tại nhà bà xã Chài, gần Cổng Bình
Quan Đồng Hới. Anh chị Hoàng Cản, chị Phước và các cháu
cũng lên thuê chung với chúng tôi, sau khi rời bỏ căn nhà
dưới phố trước kia.
Căn nhà dưới phố rộng rãi thoải mái, nhưng lại ở bên cạnh
nhà thổ BMC (Borden Militaire Campaigne) của quân đội
Pháp. Do đó có nhiều điều bất tiện. Thực ra căn nhà của bà
Xã Chài khá rộng, nhưng vì có quá nhiều người thuê ở. Lúc
bấy giờ có cả anh Danh cũng thuê mướn ở đây. Ngoài ra có
ông Thiếu Úy Vinh, thuộc Quân Đội Pháp cũng thuê một cái
giường cho bà vợ lẽ tạm trú.
Thời gian đó thật là khổ cực vì đồng tiền quá eo hẹp. Hơn nữa
chúng tôi đều là dân chạy tản cư mà không được chính phủ
hay cơ quan từ thiện nào giúp đỡ trong những bước đầu. Biết
sự khó khăn, nhưng làm sao hơn được? Tuy nhiên một thời
gian ngắn sau, chúng tôi đã sắp xếp lại nơi ăn chốn ở cho
đàng hoàng hơn.
Vào lúc đó Hạnh được 18, tuổi vị thành niên, còn tôi là một
chàng trai thanh niên 23 tuổi, chưa có kinh nghiệm đời.
Tuy Hạnh còn nhỏ nhưng rất khôn ngoan lanh lợi, tiêu xài
tiền bạc cần kiệm và dè xẻn. Mọi sự chi tiêu đều do một tay
cô sắp đặt quán xuyến.
Một thời gian sau, vì tình hình ở địa phương làng nước bất
ổn, chú Minh và chú Toàn ở ngoài làng lại kéo vào tị nạn ở
Đồng Hới. Trong khi Ba tôi bị chính quyền Việt Minh bắt
giam như trên đã trình bày.
Lúc bấy giờ chú Toàn còn nhỏ 16 tuổi, cần phải tiếp tục học,
nên ở với vợ chồng tôi tại nhà bà xã Chài. Hằng ngày Toàn
đi học tại trường Chân Phước Phượng. Trên đường đi học,
còn mang theo cơm bới do bà xã tôi nấu cho anh Xướng, đang
nằm điều trị tại bệnh viện, tọa lạc trên bờ sông Nhật Lệ gần
trường học Chân Phước Phượng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thời gian này có một sự trục trặc trong công việc làm. Số là
Ty An ninh Đồng Hới mới được thành lập. Anh Nguyễn Biểu
Hiệu được cử làm Trưởng Ty. Anh tuyển dụng một số nhân
viên mới vào làm việc, trong đó có tôi. Trong khi đó anh Hiệu
có đưa một số nhân viên cũ cũng từ Huế ra.
Trong số nhân viên cũ có anh Trần Vân, một nhân viên
chuyên môn về căn cước, báo cáo về Nha An Ninh Trung
Phần, do ông Trần Trọng Sanh làm Giám Đốc, rằng: "Ông
Trưởng Ty Nguyễn Biểu Hiệu đã tuyển dụng một số nhân
viên vì cảm tình mà không có khả năng văn hóa.”
Ông Trần Trọng Sanh, với tư cách là Giám Đốc An Ninh
Trung Phần, đáng lẽ ra nên cho điều tra mật để tìm hiểu sự
thực, thì ông Sanh lại viết một văn thư yêu cầu thải hồi các
nhân viên mới này. Ông Nguyễn Biểu Hiệu với sự giận dữ
hiện ra mặt, tức tốc bay về Huế trình bày sự việc cho ông
Giám Đốc. Trong số nhân viên mới tuyển dụng đều là nhân
viên giỏi, có khả năng văn hóa cao, chẳng hạn như ông
Nguyễn Phương, sau này là linh mục giáo sư sử học tại viện
Đại Học Huế. Sau khi trình bày, mọi việc đều đã bỏ qua.
Chính Nguyễn Biểu Hiệu cũng dọa rằng nếu Nha An Ninh
duy trì sự hiệu lực của văn thư, thì ông sẽ từ chức Trưởng Ty.
Trong thời gian đó, tôi cũng không hiểu trình độ của ông
Giám Đốc như thế nào mà lại cả tin như vậy!
Sau này khi vào quân đội, tình cờ tôi lại làm việc tại một đơn
vị với anh Trần V. ở Huế. Anh ta làm Trung sĩ Tống văn thư,
không viết nỗi một câu Pháp văn, hoặc một văn thư bằng
tiếng Việt. Nhìn anh tôi thương hại, nhớ lại chuyện cũ mà cứ
cười thầm. Anh ta cũng biết phận mình, cứ lủi thủi làm việc
chậm chạp một mình không còn dám hênh hoang khoác lác
như trước đây.
ĐIỀU 11 : THỜI GIAN VÀO QUÂN NGŨ :
A, Thi vào Việt Binh Đoàn: Làm việc tại Ty An Ninh Đồng
Hới một thời gian, đến năm 1950 thì tôi xin thuyên chuyển
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
vào Ty An Ninh Thừa Thiên, nay được đổi danh là Ty Công
An Thừa Thiên, do anh Hoàng Bá Linh làm Trưởng Ty.
Tôi vẫn được phụ trách về công văn đi và đến, như khi còn
làm việc ở Đồng Hới. Anh Linh là một người bạn tốt, giúp đỡ
anh em hết mình. Tuy nhiên tính tình anh Linh hơi nóng nảy,
rất ghét các cuộc phá hoại gây bất an ninh cho đồng bào, trong
phạm vi trách nhiệm của anh, do đó anh bị những người ác
miệng thêu dệt và tuyên truyền cho là một hung thần.
Đến năm 1951, với sự khuyến khích của Linh, tôi thi vào
Quân Đội Việt Binh Đoàn, để được tuyển dụng vào ngành
thư ký đồng hóa. Tôi được tuyển, sau kỳ thi là một "Trung sĩ
đồng hóa” (Sergent assimilé), chuyên môn làm việc tại các
văn phòng Quân Đội.
Trong cuộc thi tuyển lúc bấy giờ, các thí sinh được xếp vào
các cấp đồng hóa, tùy theo kết quả của kỳ thi và cấp cao nhất
chỉ là Trung sĩ đồng hóa. Lương Trung sĩ đồng hóa của tôi lẽ
dĩ nhiên cao hơn lương công chức công nhật. Lương công
chức với hoàn cảnh gia đình tôi, chỉ thu được $2,600.00 (hai
ngàn sáu trăm đồng). Trong khi vào quân đội, với cấp bậc
Trung sĩ đồng hóa, tôi lãnh được ba ngàn sáu trăm đồng một
tháng, đó là chưa kể các quyền lợi về áo quần giày dép mũ,
được Quân đội phát miễn phí. Sau khi bàn với vợ con, tôi
chấp nhận vào Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và được thuyên
chuyển ra Quận Bắc, đóng tại An Lỗ, Thừa Thiên. Dưới
quyền chỉ huy của Đại Úy Lê Văn Sự. Thời gian này, bà xã
tôi sinh Nguyễn Thị Thanh Hương người con thứ hai. Bà
ngoại ở làng vào Huế chăm nom nuôi mẹ con trong thời kỳ
sanh nở.
Một thời gian sau, Quận Bắc được giải tán, tất cả nhân viên
Văn Phòng của Quận Bắc được thuyên chuyển vào Huế. May
mắn tôi được bổ nhiệm vào Võ Phòng Thủ Hiến Trung Việt
dưới quyền của Đại Úy Lê Văn Nghiêm, Chánh Võ Phòng
lúc bấy giờ.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thực ra, tôi làm việc trực tiếp với Trung Úy Phan Chuân, một
Sĩ quan Phụ Tá cho Đại Úy Chánh Võ Phòng. Thời gian làm
việc ở đây, tôi đã được học hỏi nhiều, nhất là cách soạn thảo
các văn thư quân sự bằng Pháp Văn qua Đại Úy Lê Văn
Nghiêm (Sau này là Trung Tướng Lê Văn Nghiêm).
Một chuyện buồn cười nhất trong thời gian này, là có một ông
Trung sĩ nhất tên Tr. làm việc tại FRAC (Trung Tâm dạy lái
xe Quân Đội, Formation Rationel Accélérée des Chauffeurs),
anh ta rất hống hách kiêu căng, tự cho mình là người giỏi
Pháp văn nhất trong số các Hạ Sĩ Quan ở Võ Phòng Thủ Hiến
Trung Việt. Sự tự cao của anh ta làm cho Trung Úy Phan
Chuân phải bực mình. Một hôm Trung Úy Phan Chuân muốn
tổ chức thi viết chính tả (Dictée) Pháp văn giữa Trung sĩ I Tr.
với một người khác trong Văn Phòng.
Ông bèn gọi tôi ra thi tài với Tr. Tôi từ chối ngay vì không
muốn làm những việc vớ vẩn như vậy. Qua những lần tiếp
xúc với Tr., tôi đã biết khả năng của anh ta. Tuy nhiên Trung
Úy Chuân ra lệnh bắt buộc, tôi phải thi hành trong sự gượng
ép. Qua một bài trong báo Sélection Reader’s Digest, Trung
Úy Chuân đọc và chúng tôi viết. Kết quả, tôi bị hai lỗi vì
những chữ Pháp mượn Anh văn. Còn Tr. có đến trên 18 lỗi
với những lỗi rất tầm thường. Anh em trong Võ Phòng cười
thỏa mãn. Từ đó, T.S. Tr. bớt tính kiêu căng, không còn hống
hách như xưa.
Trong thời gian này, người bạn thân của tôi trong khi còn làm
việc tại Ty Công an Thừa Thiên là anh Hồ Chung (nay anh ở
Colorado). Anh làm việc tại Phòng Nhì (2ème Bureau) của
Pháp. Hai chúng tôi hẹn nhau tham dự Khóa 2 Trung Đội
Trưởng ở Đập Đá Huế, Nhưng rút cuộc, vì tính cầu an “Sáng
vác ô đi Chiều vác về” nên tôi đã rút tên không tham dự khóa
học. Riêng Hồ Chung thì lại bay vào khóa 6 Trường Võ Bị
Liên Quân Đà Lạt và tốt nghiệp Sĩ quan khóa 6 ở Trường này.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
B, Gia nhập Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt:
Thời gian thấm thoát thoi đưa, Đại Úy Lê Văn Nghiêm được
thuyên chuyển đi một nhiệm sở khác, đồng thời Đại Úy Lê
Khương được thuyên chuyển về đặc trách Võ Phòng Phủ Thủ
Hiến Trung Việt. Vị tân Chánh Võ Phòng Lê Khương nghĩ
rằng chúng tôi là người của Đại Úy Lê Văn Nghiêm, nên đã
thuyên chuyển tất cả nhân viên trong Võ Phòng đi các đơn vị
chiến đấu khác, và đưa nhân viên thân tín của ông về trám
chỗ.
Tôi bị thuyên chuyển ra Tiểu Đoàn 8 trú đóng tại An Lỗ. Tôi
quyết định là phải thi vào thụ huấn tại một quân Trường Sĩ
quan QLVNCH, may mắn hiện nay đang mở khóa thi tuyển
sinh viên vào khóa 8 Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi nộp đơn ngay
và còn kêu gọi một số anh em Hạ Sĩ quan tham gia. Tôi được
chấm đậu và đã lên đường nhập học khoảng đầu tháng 8 năm
1952.
Có điều tôi muốn nói lên là Trường Võ Bị Đà Lạt lúc bấy giờ
đều do các Sĩ quan Pháp điều khiển và huấn luyện. Có một
số Sĩ quan Việt Nam thuộc các khóa đàn anh, cũng được tham
gia làm Huấn luyện viên. Tuy nhiên mọi sự liên lạc với khóa
sinh cũng như các bài huấn luyện đều bằng Pháp văn.
Đó là một sự may mắn cho tôi. Tôi cảm thấy thoải mái trong
các giờ huấn luyện trong Phòng học hoặc ngoài bãi tập.
Thông thường mỗi bài tập tác chiến ngoài chiến trường, dù
khóa sinh đóng vai bạn hay thù (plastron), đều phải viết tóm
lược lại diễn tiến của buổi học và thực tập và trình cho Huấn
Luyện viên duyệt. Huấn luyện viên sẽ căn cứ vào bài tập tóm
lược để đánh giá sự tiến triển học hỏi của các khóa sinh. Việc
làm này là một khó khăn cho một số khá đông khóa sinh, vì
trình độ Pháp Văn thấp chưa đạt đến mức cần cho khóa học.
Riêng tôi được may mắn có trình độ Pháp văn dư để theo học,
nên chỉ mất 10 phút là xong bài tóm lược và để cuốn vở ghi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
“Tóm lược bài học tập” trên bàn cho các khóa sinh khác xử
dụng.
Tôi được nhà trường xếp vào Trung đội 5 (5ème Brigade) do
Trung Úy Couprie Trung Đội Trưởng. Couprie là một Sĩ quan
Pháp gương mẫu, áo quần lúc nào cũng thẳng nếp, giày bóng
loáng, đi đứng chững chạc, ăn nói đàng hoàng. Đúng là một
Sĩ quan huấn luyện viên Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Thấm thoát thời gian huấn luyện tại quân trường sắp mãn.
Trước ngày mãn khóa khoảng một tháng, tất cả khóa sinh tập
họp trong Đại Sảnh Đường (Auditorium) Pháp gọi là Salle de
Triumphe, để chọn các binh chung tùy theo thứ tự cao thấp
khi ra Trường. Tôi được xếp hạng trong 10 người đầu trong
danh sách khoảng 168 khóa sinh mãn khóa, nên tôi chọn
Arme du Train (ngành Quân Vận).
Tuy nhiên khi chọn, vì chưa được học ngành chuyên môn
này, nên tôi nghĩ rằng đây là ngành Hỏa xa Quân Đội. Lý do
là vì chưa hiểu chữ TRAIN là ngành Quân Vận, một binh
chủng của Quân Đội Pháp, mà chỉ nghĩ rằng Train là xe lửa.
Khoảng 15 ngày trước khi mãn khóa, Chỉ huy Trưởng nhà
Trường, Thiếu Tá Cheviotte, mời tôi lên Văn phòng gặp ông
ta. Sau khi vào Văn Phòng của ông, tôi đứng nghiêm chào
đúng lễ nghi quân cách. Ông ta mời tôi ngồi. Bấy giờ ông ta
mới nói rằng “Lors des examens de la sortie, vous avez
obtenu une vénérable place. L’école a besoin des instructeurs
capables. Je vous propose de rester à lécole pour être
instructeur.” (Qua các kỳ thi ra trường, ông đã đoạt được vị
thứ khả kính. Nhà Trường đang cần các huấn luyện viên có
khả năng. Tôi đề nghị ông ở lại Trường để làm Huấn Luyện
Viên.)
Tôi đã từ chối ngay và thưa lại rằng: "Thưa Thiếu Tá, tôi xin
cám ơn Thiếu Tá đã tín nhiệm tôi. Tuy nhiên, kỳ tuyển chọn
các binh chủng do quân Trường tổ chức trước đây, tôi đã chọn
“Arme du Train,” vậy xin phép Thiếu Tá cho tôi tiếp tục theo
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Binh chủng “Train” mà tôi đã chọn. Ông Thiếu Tá không nài
ép, tôi đứng dậy, chào và đi ra.
C, Những Cuộc Hành Quân Trong Thời Gian Thụ Huấn:
Khi mới nhập học Trường Võ Bị một tháng, chúng tôi phải
tham dự một cuộc hành quân tảo thanh (Opération de
nettoyage) ở vùng Liên Khương, Đà Lạt. Vùng rừng núi này
không có người ở, nghe đâu là Rừng Cấm. Cây cối ở đây rất
lớn. Một cây thông (sapin) cao ngất tận trời xanh. Thân cây
bốn người ôm không xuể. Cả một rừng cây bao la bất tận như
vậy. Chúng tôi đã lạc trong rừng khá lâu, không tìm được lối
ra. Sau đó phải nhờ một người Thượng hướng dẫn.
Lâu lắm mới gặp được một “buôn Thượng” xa xôi hẻo lánh.
Dân cư ở các “buôn Thượng” này rất đơn sơ chất phác. Các
thiếu nữ 18, 20 ăn mặc hở hang, chỉ mặc váy còn phần trên
thì để hở lồ lộ (topless). Các sinh viên hành quân mệt nhọc,
nhưng gặp cảnh này, anh nào cũng cặp mắt như sao, nói
chuyện bằng tay huyên thuyên (vì không biết tiếng Thượng,
nên phải ra dấu bằng tay).
Chúng tôi đi bộ đến mệt rã người. Cứ dừng lại là đoàn quân
nằm, ngồi, ngủ như chết. Đó là chưa nói đến các con vắt trong
rừng. Nó bắn như làn đạn và dính vào da thịt người nhanh
như cắt. Chúng nó hút máu người no nê mà nạn nhân không
hay biết. Nguy hiểm nhất là nó chui vào tai hay chui vào các
chỗ hiểm yếu trong cơ thể. Tôi rất sợ những cuộc hành quân
như thế này.
Lúc gần mãn khóa, một cuộc hành quân khác được tổ chức
tại vùng Đồng Tháp Mười sình lầy Nam Việt. Khi lội qua
sông, bùn lầy ngập đến ngang bụng và cứ tiếp tục lún nếu
không có người giúp kéo lên. Đất bùn ở vùng sông Cửu Long
(Mékông) này hôi hám quá, nhất là khi nước ròng. Cuộc hành
quân này cũng làm cho chúng tôi khiếp sợ. Tuy vậy, nhờ cuộc
hành quân ở miệt Đồng Tháp Mười, mà tôi có dịp nhìn tận
mắt sự trù phú, đất đai phì nhiêu của Miền Nam nếu được
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
khai thác đúng mức. Đất ruộng rất màu mỡ, không cần phân
bón. Cây trái đủ loại và sai trái. Các chủ vườn sẵn sàng cho
ăn tự do, nhưng xin đừng phá. Nào xoài, ổi xa lị, măng cụt,
chôm chôm, sầu riêng, dứa, mảng cầu, v.v. nhiều loại quá kể
không hết.
Vì sự cực nhọc của các cuộc hành quân thực tập trên, mà tôi
quyết định chọn Arme du Train. Ban đầu, như trên đã trình
bày, tôi cứ nghĩ rằng Train tiếng Pháp là chiếc xe lửa. Hành
quân bằng xe lửa còn hơn là đi bộ. Nhưng khi được huấn
luyện về Binh Chủng mới biết rằng Train là ngành chuyển
Vận. Vì vậy, trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa có ngành
Quân Vận (Transportation Corp) Tôi được huấn luyện và tiếp
tục phục vụ trong Binh chủng Quân Vận này suốt thời gian
trong Quân Đội.
D, Lễ Mãn Khóa:
Sau cuộc hành quân Đồng Tháp Mười trở về, chúng tôi được
quân trường tổ chức làm lễ mãn khóa. Lễ mãn khóa này được
đặt dưới sự chủ tọa của Quốc Trưởng Bảo Đại vào ngày 28
tháng 06 năm 1953.
Suốt thời gian học trong Quân Trường, có rất nhiều chuyện
vui buồn:
Một chuyện vui điển hình là trong khóa học, các sinh viên Sĩ
quan phải một lần leo lên đỉnh núi Lang Bian, gọi là chinh
phục đỉnh núi cao nhất trong vùng. Lúc ban đầu, các bạn đồng
khóa hớn hở thi tài, không đi mà chạy lên dốc đỉnh, ông nào
cũng bô bô tự tin. Nhưng chỉ một khoảng khắc sau là quí vị
đã thở hỗn hển, mệt đừ, lè cả lưỡi ra, hai chân cứng lại, không
nhấc lên nổi. Tuy vậy, chúng tôi vẫn phải cố gắng khắc phục
ngọn núi, chúng tôi cố gắng leo lên tới đỉnh.
Giờ này không còn nghe ai nói gì nữa, mọi người im phăng
phắc, âm thầm cố gắng leo lên đỉnh núi. Tất cả phải tập trung
tư tưởng để leo núi, và vì mệt quá nói không ra hơi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Một chuyện buồn, đó là theo tập tục của quân trường. Một
ngày nào đó, theo lệnh của Ban Giám Đốc, các sinh viên đàn
em đang thụ huấn tại Hội Trường (Salle de Triumphe) về môn
học phải nhẫn nhục chịu đựng, gặp khó khăn phải kiên nhẫn
giải quyết, đừng phẫn nộ, đừng nóng giận, các khóa sinh phải
“tự thắng để chỉ huy”. Trong khi đó Ban Giám Đốc ra lệnh
cho khóa đàn anh vào các phòng ngủ của khóa đàn em, phá
tung trật tự trong phòng ngủ, trong các tủ áo quần, gây nên
một cảnh hỗn loạn vô trật tự.
Đúng giờ khóa đàn anh rút lui, khóa đàn em học xong trở về
phòng. Một cảnh tượng đổ nát tùm lum, vô trật tự do khóa
đàn anh gây ra, làm cho khóa đàn em vô cùng tức giận và
buồn khổ.
Các đàn anh đã đảo lộn giường drap lên. Giày thì các anh để
đôi này lộn với chiếc kia. Áo quần xếp ngăn nắp trong tủ đã
bị tung lên vung vãi đây đó. Có anh còn chơi khăm là lấy giày
giấu vào phòng cầu tiêu. Tay sắp xếp, miệng lâm râm chửi
thề.
Khi Huấn luyện viên trở lại xem xét, các khóa sinh thưa kiện
tùm lum. Huấn luyện viên ôn tồn bảo: "Các anh gặp khó khăn,
phải bình tĩnh nghiên cứu giải quyết, không giận dữ, không
phẫn nộ, các anh phải Tự Thắng Để Chỉ Huy. Bài học trong
giảng đường, các anh quên rồi sao?”
À, thì ra thế. Các khóa sinh lẳng lặng sắp xếp lại các vật liệu,
sách vở, giày dép, quần áo mà không còn than trách nữa, và
quyết giữ mối thù này... để trả lại cho khóa đàn em đến sau!!!
Một chuyện vui là một số tân sĩ quan chúng tôi được ra thành
phố Đà Lạt yết kiến Quốc Trưởng Bảo Đại. Cuộc yết kiến
Quốc Trưởng rất là protocole (đúng nghi lễ). Anh Trưởng
khóa (thủ khoa) trình lên Quốc Trưởng những lời nói trung
thành với Quốc Trưởng, quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù
dân tộc, không phản bội Tổ Quốc v.v..
Sau đó phái đoàn nghe Quốc Trưởng ban hiểu dụ, các tân sĩ
quan im phăng phắc, không dám ho hen.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sau khi yết kiến Quốc Trưởng xong, chúng tôi được hướng
dẫn đến tư dinh của ông bà Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh,
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Ông
bà Trung Tướng Hinh tiếp đón anh em tân Sĩ quan niềm nở,
vui vẽ.
Sau phần thủ tục đọc diễn văn của đại diện tân Sĩ quan và đáp
từ của Trung Tướng, không khí có vẻ trang nghiêm nhưng
ngột ngạt. Chính bà Trung Tướng Hinh, một bà đầm người
Pháp đã phá cái ngột ngạt ấy bằng câu hỏi:
- "Các tân Sĩ quan, ai chưa có vợ giơ tay lên!”
Rất đông cánh tay giơ cao. Bà liền gọi người con gái của bà,
lúc ấy còn nhỏ, khoảng 12, 13 tuổi. Bà hỏi tiếp:
- "Ai muốn cưới con gái của tôi?”
Toàn thể Tân Sĩ quan đều cười rộ lên. Không khí vui tươi
thoải mái…
E, Tu Nghiệp Binh Chủng:
Ngày ra Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, chúng tôi được gắn
lên cầu vai “Lon Thiếu Úy”, rập khuôn cấp hiệu của Quân
Đội Pháp. Đặc biệt lon của các Sĩ quan thuộc các Binh chủng
Thiết Giáp, Quân Cụ, Quân Vận, v.v.. đều được gắn lon màu
bạc, thay vì màu vàng như các Sĩ quan thuộc Binh chủng Bộ
Binh. Lon Thiếu Úy màu bạc hay bị lầm lẫn với lon Thượng
sĩ phó, nhưng lon Thượng sĩ phó có đường gân đỏ ở chính
giữa. Nhiều lúc, chúng tôi cũng bị gọi lầm là Thượng sĩ.
Nhưng dân chúng tinh khôn lắm, nhất là các cô gái, họ phân
biệt được ngay, lon Thiếu Úy không có gân!!!
Ngày ra Trường khi mãn khóa, tôi nhận được giấp phép về
thăm gia đình ở Đồng Hới một tuần lễ, trước khi vào Vũng
Tàu theo học lớp căn bản về Quân Vận (Stage du Train de
Cap Saint Jacques).
Tại Vũng Tàu, chúng tôi được cấp một villa lớn cho tám Sĩ
Quan Sinh viên tạm trú, để theo học khóa Huấn Luyện
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chuyên môn Binh chủng, đồng thời được cấp phát hai xe
“command car”cùng tài xế, lính Marocain, để di chuyển.
Thời gian huấn luyện một tháng mau chóng trôi qua, chúng
tôi được di chuyển ra Hà Nội thụ huấn khóa “Commandemant
du Train” tại Hồ Ha Le. Tàu bay từ Sài Gòn ra Hà Nội có ghé
tại sân bay Đồng Hới.
Tôi đã tin cho gia đình biết, vợ và các con tôi (Thường,
Hương, Tuấn) ra tại phi trường Đồng Hới đón tôi. Thời gian
ngắn ngủi gặp nhau, rồi tôi lại phải lên phi cơ bay tiếp ra Hà
Nội. Khi đến tại Thủ đô ngàn năm văn vật, chúng tôi được
tạm trú tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Hà Nội, gần sân vận động
Septo.
Tại đây, chúng tôi đã được gặp các Sĩ quan đàn anh, nào Đại
Úy Tôn Thất Đính, nào Đại Úy Lữ Lan. Lữ Lan nằm giường
cạnh tôi, có than với tôi là “Kỳ thăng thưởng này, Tôn Thất
Đính có danh sách lên Thiếu Tá. Họ bỏ quên “moi”, thật là
bất công.
Tôi lặng yên không có ý kiến, vì là một Thiếu Úy mới ra
trường, một “shave tail”, đâu dám nghĩ gì đến cao xa. Ngoài
ra hằng đêm, có Trung Úy Phan Đình Niệm, sau này là Thiếu
Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh, không biết lúc đó thuộc
đơn vị nào ở Hà Nội, thường hay đem xe jeep đến chở chúng
tôi đi xem Hà Nội ban đêm.
Trung Úy Phan Đình Niệm rất tốt và dễ thương, ông bảo “Các
anh ở miền Trung ra, không biết gì ở Hà Nội, tôi hướng dẫn
các anh đi cho biết đó đây”...
Trong thời gian thụ huấn ở đây, tôi có gặp một số bạn đồng
khóa thuộc binh chủng Nhảy Dù, cũng được di chuyển ra đây
để nhảy xuống Điện Biên Phủ đang trong thời kỳ sôi động.
Đó là Thiếu Úy Phạm Văn Phú (Sau này là Thiếu Tướng Tư
Lệnh Quân Đoàn 2), Thiếu Úy Hiệp (sau này là Đại Tá thuộc
Binh chủng Biệt Động Quân) và một số khá đông anh em
đồng khóa khác.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thời gian thụ huấn tại Hà Nội ngắn ngủi quá. Mới hôm nào
bước chân xuống phi trường, tôi được xe của hãng máy bay
chở về Thành phố. Tôi xin mở một dấu ngoặc ở đây để kể
một chuyện vui.
Đó là ngay buổi chiều, tôi phải đi thuê phòng ngủ tại một
khách sạn trong Thành phố để trú ngụ qua đêm. Một câu
chuyện buồn cười tôi gặp tại khách sạn. Ông bác quản lý
khách sạn, tôi đoán khoảng trên 50 tuổi. Ông đã hỏi tôi:
"Thưa quan, đêm nay quan có định cưới cô em nào không?”
Tôi ngạc nhiên trước câu hỏi và thành thực trả lời: "Cám ơn
bác, tôi đã lập gia đình rồi.”
Ông quản lý biết tôi hiểu sai câu hỏi của ông, bèn gọi một lô
các cô gái ăn sương vào trình diện, và bảo tôi chọn một cô
nào theo ý thích cho đêm nay. Cô nào cũng đẹp, cũng hấp dẫn
sexy. Nhưng vì là lần đầu tiên trong đời gặp cảnh này, tôi mới
hiểu câu hỏi của ông bác, nên sợ quá, tôi thoái thác ngay. Lấy
lý do vì đi tàu bay quá mệt.
Ngày hôm sau tôi phải vội vàng thu xếp hành lý đi trình diện
Quân Trấn Hà Nội, để di chuyển về tạm trú tại Câu Lạc Bộ
Sĩ Quan tại sân Vận Động bãi Septo như tôi đã trình bày trên
đây.
Hằng ngày, cũng như tại Vũng Tàu, Bộ Chỉ Huy Quân Vận
Pháp tại Hà Nội biệt phái hai xe “Command Car”, đến rước
chúng tôi vào Bộ Chỉ Huy để thụ huấn khóa học binh chủng.
Sau đó, cũng trên hai xe “Command Car” này, chúng tôi được
đưa xuống Hải Phòng để thụ huấn lớp kỹ thuật và thực tập
bốc rỡ hàng tại bến tàu.
Nhờ vào hai xe “Command Car” này được đặt dưới quyền sử
dụng của chúng tôi, nên chúng tôi có phương tiện đi đây đó.
Có lần chúng tôi đã đi bãi biển Đồ Sơn, một bãi biển rất đẹp
ở miền Bắc. Từ Đồ Sơn, nhìn về hướng đông bắc, chúng tôi
thấy cảnh Vịnh Hạ Long, một phong cảnh rất đẹp và hữu tình
ngoài sự tưởng tượng của mọi người.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Chúng tôi mong ước có dịp trở lại địa danh có phong cảnh rất
nên thơ này. Tuy nhiên biết đến bao giờ mới có cơ hội quí giá
đó?
F, Thuyên chuyển về Đơn Vị Quân Vận :
Khi lớp huấn luyện binh chủng Quân Vận đã hoàn tất, chúng
tôi lên Bộ Tư Lệnh Quân Khu 3 tại Hà Nội để nhận sự vụ
lệnh, mỗi người đi về một phương. Tôi được thuyên chuyển
về Quân Khu 2, đặt dưới quyền sử dụng của Đại Đội 2 Vận
Tải, đóng tại sân bay thành nội Huế, do Đại Úy Trần Văn Xội
làm Đại Đội Trưởng.
Sau khi trình diện, tôi được lệnh ra Đồng Hới, làm Trung Đội
Trưởng Trung đội 3 Vận tải, thay thế cho Thiếu Úy Nguyễn
Phu. Lý do vì Trung đội này được đặt dưới quyền sử dụng
của Tiểu Khu (Secteur) Đồng Hới, lúc bấy giờ do quân đội
Pháp chỉ huy. Thiếu Úy Phu lại yếu về Pháp văn, nên Tiểu
khu yêu cầu Đại Đội cấp một Sĩ quan có khả năng về Pháp
ngữ để dễ dàng nhận lệnh Tiểu Khu trong các cuộc di chuyển
Tiếp vận và Hành quân (Logistical and Tactical movements)
trong phạm vi Tiểu Khu.
Sau khi lưu lại Huế hai hôm để tìm hiểu và thu thập các dữ
kiện về nhân viên và vật liệu của Trung Đội 3 Vận tải, cùng
những khó khăn mà Trung đội 3 VT đang gặp phải. Tôi đã
xin Đại Úy Trần Văn Xội Đại Đội Trưởng, được ra Trung
Đội 3 VT càng sớm càng tốt. Đại Úy Xội rất cảm kích lòng
hăng say của tôi, ông có biết đâu rằng tôi đang nóng lòng trở
về với gia đình, hiện đang sống ở Đồng Hới. Lúc bấy giờ tôi
đã có ba người con: Đó là Thường 4 tuổi, Thanh Hương 2
tuổi và Tuấn mới sinh. Vợ và các con tôi đang nóng lòng
trông tin và chờ đợi tôi.
G, Về Trung Đội Vận Tải:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Phi cơ hạ cánh phi trường Đồng Hới, tôi được Trung đội ra
đón rước và đưa về tận gia đình. Sau khi nghỉ hai hôm, tôi
cùng Thiếu Úy Phu lên trình diện Phòng Tư Tiểu Khu, lúc
bấy giờ do Trung úy Brass làm Trưởng phòng. Sau đó, chúng
tôi xúc tiến công việc bàn giao.
Trong Trung đội 3 Vận tải, chúng tôi có một Thượng sĩ người
Pháp làm cố vấn. Mặc dầu là cố vấn, tôi cắt đặt công việc cho
anh ta là trực tiếp với Phòng 4 để cho tôi biết các cuộc chuyển
vận, mà Phòng 4 đã có kế hoạch dự liệu trước. Tôi cho anh ta
biết tôi là một Sĩ quan Quân Vận được thụ huấn trong quân
trường Pháp, do đó các kỹ thuật và luật lệ chuyển vận tôi rất
am hiểu.
Tôi là một “Trainglo” thứ thiệt, tôi không cần sự cố vấn của
anh. Hơn nữa anh chỉ là một Hạ Sĩ quan, chỉ biết thực hành
mà ít biết về lý thuyết. Anh Thượng sĩ này hay ăn hiếp Thiếu
úy Phu, vì Thiếu Úy Phu không trả lời Pháp văn được, chỉ im
lặng nên anh ta hay hách xì xằng. Đối với tôi thì khác. Tôi
làm việc đúng quy tắc, hễ có gì sai là tôi chỉnh ngay, nên anh
ta rất kính nể. Anh ta không dám vô lễ hay đi trễ về sớm như
trước nữa.
Theo kỹ thuật chuyển vận, khi di chuyển tiếp vận cấp Tiểu
đội, Tiểu đội Trưởng Quân Vận sẽ ngồi vào xe GMC đầu để
hướng dẫn đoàn xe. Trái lại khi di chuyển chiến thuật, Trưởng
đoàn quân sẽ ngồi xe đầu và Trưởng Quân Vận sẽ ngồi xe thứ
hai.
Trong một cuộc hành quân vùng An Lão, Tiểu đoàn lính Lê
Dương đã chiếm hữu tất cả ghế ngồi trước và đuổi Tiểu đội
trưởng Quân Vận ra ngồi xe sau chót.
Tôi được Tiểu đội Trưởng báo cáo tự sự. Tôi đã can thiệp
ngay với Secteur và với Tiểu Đoàn Trưởng Lê Dương. Sự
việc đã được điều chỉnh và thi hành đúng luật. Vị Tiểu đoàn
trưởng Lê Dương đã xin lỗi tôi.
Một lần khác, khi Trung đội tôi di chuyển hàng triệt thoái lên
Hòa Luật Nam để tiếp nhận hàng tiếp tế từ Huế gửi ra Tiểu
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khu. Phòng 4 Tiểu Khu không có nhân công bốc rỡ, mà ra
lệnh tài xế đoàn xe bốc rỡ hàng. Một việc làm mà từ trước
Phòng 4 hay ra lệnh cho Trung đội Vận Tải thi hành.
Tôi có mặt trong chuyến “convoy” hôm đó. Tôi ngạc nhiên
và ra lệnh bằng tiếng Pháp, cố ý cho các nhân viên Phòng 4
Tiểu Khu Đồng Hới nghe. “À mon ordre, tous les chauffers
au repot!” (Theo lệnh tôi, tất cả tài xế nghỉ ngơi!) Thế là các
tài xế đi nghỉ.
Nhân viên Phòng 4 hoảng hốt, vội báo cáo với Trung Úy
Brass, Trưởng Phòng 4. Ông này vội vàng đến gặp tôi và
xuống nước năn nỉ. Tôi cho ông ta biết là “Tài xế lái xe mệt
nhọc từ Đồng Hới lên đây, lại bị bắt làm nhân công xuống
hàng lên hàng. Nếu dọc đường xảy ra tai nạn, ai là người chịu
trách nhiệm? Hơn nữa trong luật chuyển vận, tài xế không
bao giờ làm công tác bốc rỡ hàng cả.” Ông ta nhìn nhận sự sơ
sót của Phòng 4 và “Xin giúp đỡ lần này vì không có nhân
công ở đây để thuê mướn, nếu trễ trời tối, rất nguy hiểm, có
thể bị Việt cộng phục kích”.
Trước tình thế bắt buộc, tôi tập họp tài xế lại và “yêu cầu anh
em giúp cho Phòng 4 lần này, vì nếu ở lâu lại đây, tình hình
sẽ trở nên nguy hiểm, tôi hứa và đoan chắc với anh em sự
việc này sẽ không còn xảy ra nữa, khi Trung đội 3 Vận tải
còn dưới quyền chỉ huy của tôi.”
Từ đó, Trung đội 3 Vận tải được Phòng 4 kính nể, không còn
bị xài xể, bắt nạt và lạm dụng như trước và trong Trung Đội,
anh em rất phấn khởi dưới sự chỉ huy của tôi.
Trong thời gian tôi làm việc tại Đồng Hới, Trung đội 3 Vận
Tải được xếp vào danh sách đơn vị ưu tú về công tác kỷ thuật
và kỷ luật và được tuyên dương công trạng. Commandant
Secteur đã ban thưởng cho tôi huy chương chiến tranh của
Quân Đội Pháp với ngôi sao bạc (Médail Croix de Guerre
avec l’étoile d’argent). Thực ra trong cuộc đời binh nghiệp,
tôi đã cống hiến tất cả những tâm sức của mình cho quốc gia,
nên thường được tưởng thưởng xứng đáng… đây là công
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
trạng của một chuyến “convoi” do tôi chỉ huy hành quân tại
vùng Hoàn Lão. Khi vừa đổ quân xuống xong, đoàn quân
đang đứng trên quốc lộ trước mặt đồn Hoàn Lão thì bị Việt
Minh phục kích bắn xối xả vào. Các băng đạn bắn trúng vào
các ụ đất, bụi đất tung bay mịt mù mà không trúng ai cả. May
mắn, nếu xích qua một mét về bên phải thì chúng tôi đã lãnh
đủ. Tôi đã vội vàng nhảy ra sau bờ đất. Cám ơn Chúa, thoát
nạn trong gang tấc.
H, Chuyện bà xã bị bệnh trước khi di tản vào Huế:
Ngày 20/07/1954 là ngày ký Hiệp Định Genève, chia đôi đất
nước Việt Nam tại Vĩ tuyến 17, ngay tại sông Bến Hải, trên
phần lãnh thổ phía bắc Quảng Trị. Thực là khó khăn trong
những ngày đó khi chúng tôi đang trú đóng tại Đồng Hới.
Hạnh, bà xã tôi đang bị bệnh sưng nhũ hoa, như bị một ung
nhọt. Vú sưng lên đỏ hồng, đau đớn vô cùng. Tôi nghĩ đó có
phải là bệnh ung thư vú như ở Hoa Kỳ hiện nay chăng?
Được người trong làng Tam Tòa mách bảo, chúng tôi mời
một ông thầy lang ở làng Phú Ninh gần đó đến chữa trị cho.
Ông thầy đưa đến một cái chui sắt to bằng nửa chiếc đũa. Ông
nướng cho chui sắt đỏ hồng lên, rồi ông đâm sâu vào vú. Nghe
một tiếng xèo khủng khiếp. Bà xã tôi đau lắm, nhưng bà cố
gắng chịu đựng. Máu mủ theo đường kim chui chảy vọt ra.
Tuy đau đớn, nhưng bà xã tôi cảm thấy dễ chịu vì máu mủ đã
ra khỏi lồng ngực. Khi máu mủ chảy ra hết, ông thầy thuốc
mới lấy một cái tim bấc bằng vải, luồn cái tim bấc đó vào vú
theo đường kim đã đâm vào, ông dồn cái tim bấc đó khá nhiều
vào chỗ bị ung nhọt trong vú. Thế rồi ông đi về, ông bảo hai
hôm nữa sẽ đến và lấy tim ra.
Đúng y hẹn, ông đến và kéo cái tim ra, dính theo bao nhiêu
máu mủ còn sót lại mà hai ngày trước chưa ra hết. Ông thầy
lang liền lấy cao màu đen dán lên miệng kim trên vú, thế là
bệnh lành. Thầy lang chỉ lấy $5.00 và gia đình biếu thầy một
lít rượu ngon để tạ ơn. Nhờ thế, bà xã tôi mới có khả năng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chuẩn bị để cùng gia đình đi vào Huế bằng chiếc LCU theo
đường biển. Tôi không muốn cho gia đình tôi vào đường bộ
theo đoàn xe của tôi, vì sợ VC phục kích dọc đường. Mặc dầu
đoàn xe của tôi chỉ chở một ít đồ tiếp liệu và được hộ tống kỹ
càng.
Khi đoàn xe của tôi chạy qua khỏi phà Quán Hàu, thì Công
Binh Pháp kéo phà đi ra biển, chạy về nam vĩ tuyến 17, và
sau đó cũng chẳng biết họ kéo đi về đâu.
Có một điều tôi muốn nói ở đây là khi đoàn xe tôi di chuyển
vào Huế thì một số đồng bào ở thị xã Đồng Hới và toàn thể
làng Tam Tòa đã di cư bằng mọi phương tiện vào Nam rồi.
Chó, mèo và mọi súc vật nuôi trong nhà (gà, vịt, heo, dê, bò
v.v.) không có chủ, chạy loạn ra đường kiếm ăn. Trong nhà,
đồ đạc bàn ghế, tủ giường để lại nguyên xi. Có những bộ bàn
ghế salon cẩm lai đen, cẩn xà cừ rất đẹp và bao nhiêu đồ đạc
quí giá mà đồng bào không thể chuyển đi được. Làng Tam
Tòa như một bãi tha ma, không một bóng người. Ấy thế mà
đàn convoy của tôi, chạy xe không về Huế. Chỉ 5 chiếc GMC
triệt thoái một ít đồ quân dụng mà thôi.
Thực ra lúc bấy giờ, lòng người hoang mang ly tán, không
còn tha thiết gì đến của cải vật chất. Mọi người chỉ lo làm sao
chạy thoát thân vì ai cũng sợ chế độ cộng sản.
Khi gia đình tôi đến Huế, được các phu nhân Sĩ Quan trong
Đại Đội 2 Vận tải ra đón tiếp nồng hậu. Họ đưa về tá túc tại
một phòng rộng của Câu Lạc Bộ Đại Đội 2 Vận Tải, đóng
trong Thành Nội Huế.
Được tiếp tế đầy đủ, được lo lắng chăm sóc đàng hoàng. Đó
là kế hoạch chung của chánh phủ Ngô Đình Diệm lúc bấy
giờ. Sau này, khi tôi dẫn đoàn xe vào Đại Đội trong Thành
Nội Huế, các Sĩ quan và gia đình trách tôi là tại sao tôi để gia
đình tôi vào đường thủy mà không thông báo cho Đại Đội
biết để chuẩn bị tiếp đón đàng hoàng hơn? Tôi cười xòa:
“Chạy tản cư vào đến miền đất tự do là may mắn rồi, tiếp đón
đàng hoàng làm gì nữa!”
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Một thời gian sau, tôi mua được một cái nhà tranh vách đất
của Trung sĩ I Chung ở gần Đại Đội, trong Thành nội Huế.
Căn nhà tươm tất, tuy hơi hẹp. Tại đây chúng tôi sinh hạ
người con thứ 4, đó là Nguyễn Thị Thanh Hài.
Lúc bấy giờ, bà xã tôi không muốn đi nhà thương vì xa quá.
Vì vậy, phải rước cô đỡ về nhà. Chính tôi và cô đỡ lo việc
sinh sản cho bà xã tôi, vì nhà chẳng còn ai. Ba người con
trước còn quá non dại đang gởi học nội trú với các Soeur áo
đen dòng Kim Đôi ở Truồi. Trong nhà tôi lúc bấy giờ có nuôi
hai cô giúp việc, họ chỉ lo chạy vòng ngoài. Mọi việc đã được
săn sóc lo liệu chu đáo, mẹ tròn con vuông tốt đẹp. Cám ơn
Chúa. Khi sanh xong chúng tôi mới cho các con về.
Đề cập đến việc buôn bán của chú thím Minh lúc ấy rất thịnh
vượng, nhưng vì cần thêm vốn, nên chú kêu gọi vợ chồng tôi
giúp chú thím để phát triển thương mại, chúng tôi đã bàn thảo
với nhau, rất thông cảm với em út, và giúp cho chú Minh
mượn một số tiền lớn, có thể mua được gần 600 lượng vàng
thời bấy giờ.
Sau đó bà xã nhà tôi lại tiếp tục góp vốn vào, đến tháng 4 -
1975, số tiền lên gần bốn triệu. Vì thời cuộc gay cấn lúc đó
chú phải đưa trả lại, cộng thêm tiền bán căn villa của tôi ở Đà
Nẵng ba triệu rưỡi, mà rốt cuộc chẳng mua được chẳng bao
nhiêu lượng vàng phòng thân, vì ngày cuối tiền bạc mất giá,
ai cũng trữ vàng!
Khi qua định cư tại Hoa Kỳ, giá vàng lại bị sụt thê thảm. Thấy
số vàng sụt giá, hơn nữa tôi định mua nhà, lại phải bán hết
vàng cho chú Minh. Sau vài năm, mới biết là vàng đang trên
đà lên giá, lên một cách dễ sợ. Đúng là số của tôi lận đận
không biết nắm bắt thời cơ để sinh lời bằng hiện kim…! Tôi
chỉ là một quân nhân. Hằng tháng lãnh lương lo việc nước,
chuyện buôn bán đầu tư, so đo hơn thiệt thì tôi đâu có am
tường hiểu rõ.
Đầu năm 1976, khi bà xã tôi còn sống, tôi đang ở tại
Washington DC giúp việc cho chú thím Minh, tôi đã nhận
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
được thư bà xã tôi nói rằng: "Ở Việt Nam, mình đi lính, bỏ
mẹ con ở nhà một mình. Nay qua Mỹ, mình cũng bỏ mẹ con
mà đi xa. Hãy trở về mà lo cho gia đình.”
Không biết chuyện gì mà bà xã tôi viết có vẻ cương quyết.
Tôi nói với chú Minh là tôi phải về xem chuyện gì, rồi tôi sẽ
sang ngay. Dù chú không muốn vì lúc đó đang thiếu người
điều hành công việc tại cửa tiệm, nhưng tôi vẫn quyết đi, và
ra hãng xe bus mua vé về Springfield MO, để đỡ tiền tàu bay
mắc mỏ hơn.
Đó là điềm bà xã tôi cho biết bà sẽ lâm trọng bệnh, vì sau hai
ngày tôi về đến nhà thì bà xã bị “stroke” (Đứt mạch máu đầu),
và hai tháng sau (Ngày 07, Tháng 05 năm 1976) bà trút hơi
thở cuối cùng.
Điều tôi muốn nói ở đây, là khi bà xã tôi qua đời vào ngày 07
Tháng 05 năm 1976, vào khoảng 3 giờ sáng ở bệnh viện
Springfield MO, gia đình tôi rất cô đơn. Vì trong thành phố
chỉ có chúng tôi, không họ hàng và trong khi các con của tôi
phần đông đang nhỏ dại.
Nhân tiện đây, tôi cũng muốn nói lên một điều mà tôi vô cùng
cảm động. Đó là gia đình chú thím Toàn đã đến với chúng tôi
trong cơn ngặt nghèo nầy, trong khi chú thím và các cháu
cũng vừa mới lái xe lên Hoa Thịnh Đốn chơi về.
Đêm hôm đó nghe tôi thông báo tin buồn, chú thím Toàn lật
đật lái xe tới Springfield ngay, mặc dầu cháu Út Ụt vừa mới
sinh còn rất nhỏ, mà thím cũng còn yếu mệt sau khi sinh. Thế
mà chú thím Toàn vẫn cố gắng.
Ngoài ra còn có gia đình anh chị Thạch (anh thím Toàn) ở
Denver, trên một chiếc Vega èo ọp mà dám chở cả bầu đoàn
thê tử chạy về Springfield MO để chia buồn với gia đình tôi.
Nhìn chiếc xe, nhìn anh chị và các cháu, tôi xúc động nghẹn
ngào.
Tôi chỉ còn biết nói lên lời cám ơn và xin Thiên Chúa trả công
bội hậu cho anh chị em. Tôi muốn tiếp đãi anh chị em và các
cháu một bữa tiệc thịnh soạn để tỏ lòng quí mến và cảm tạ.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Nhưng kìa, bà xã đang nằm đó, đám tang chưa tổ chức xong,
chẳng lẽ lại làm tiệc mừng gặp mặt...
Thôi đành phải chịu lỗi và thành thực cám ơn gia đình chú
thím Toàn, anh chị Thạch và các cháu, cũng như bà con thân
hữu đã đến đem lại sự an ủi quí giá, trong lúc gia đình tôi
đang ở trong cảnh khó khăn nhất, khi vừa bắt đầu cuộc sống
ở xứ người. Chú thím Minh thì bận công việc làm ăn, nên
không tham dự đám tang của bà xã tôi được, dù tôi rất mong
đợi.
I, Những Thăng Trầm Trong Quân Đội:
Ngày 20 Tháng 7 năm 1954 là ngày ký Hiệp Định Genève
chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17, ngay tại sông Bến
Hải, trên phần lãnh thổ phía Bắc Tỉnh Quảng Trị. Thật là khó
khăn trong những ngày đó, khi Trung đội Vận tải của tôi đang
công tác tại Đồng Hới. Tuy nhiên, nhờ sự tận tụy của Quân
Đội Pháp bảo vệ các trục giao thông, chúng tôi đã di chuyển
về Huế bằng an.
Sau một thời gian tạm nghỉ dưỡng sức tại Huế, chúng tôi được
lệnh đưa Trung đội chuyên chở Bộ Binh vào tiếp thu Tam Kỳ
và Quảng Ngãi. Khi Trung Đội chúng tôi đến Tam Kỳ thì có
lệnh đóng quân tại sân vận động.
Đồng bào địa phương trông thấy đoàn xe, trước lạ còn đứng
xa xa, sau quen dần họ đến tận xe, sờ mó và la lên: "Mèng
đất, quỷ thần ơi! Xe bằng sắt mà họ nói là bằng giấy!” Đồng
bào có ý nói là Việt cộng tuyên truyền xe ngụy quân làm bằng
giấy. Ngoài ra trên sân vận động, Công Binh làm một đường
dài cho tàu bay quan sát “bà già” tạm thời đáp xuống. Vì tại
đây chưa có sân bay. Khi tàu bay đáp xuống, đồng bào chạy
lại sờ mó các phi công và hỏi chuyện. Khi các phi công hỏi
bằng tiếng Việt rằng “Bà con, cô bác muốn gì mà sờ mó
chúng tôi vậy?” Bấy giờ đồng bào mới vỡ lẽ phi công là người
Việt “Thế mà họ bảo phi cơ do người Tàu lái”.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thời gian này, tại sông Vệ Quảng Ngãi, có xảy ra một chuyện
độc ác hy hữu. Một cặp vợ chồng ghen tương quá độ. Một
đêm nọ, trong khi mọi người đang an giấc, bỗng có tiếng một
người đàn ông van thất thanh “Cứu tôi với”!
Lính canh đánh kiểng báo động. Quân lính bố trí xông vào
chỗ có tiếng kêu cầu cứu. Một cảnh rùng rợn đã xảy ra trước
mắt: Một người đàn ông đã bị cắt đứt toàn thể bộ phận sinh
dục, máu me vung vãi, nằm kêu la đau đớn.
Bên cạnh đó là người đàn bà, vợ anh ta, tay cầm một con “dao
cau” sắc bén, cũng vấy máu đầy tay. Thì ra chị đàn bà này
ghen tuông ông chồng sao đó, đêm hôm lấy dao cắt luôn bộ
phận sinh dục của ông chồng. Không phải chỉ cắt dương vật,
mà cắt sát tận háng luôn.
Ai cũng bảo người đàn bà nầy có máu lạnh... khi lên cơn ghen
thì tàn ác quá sức. Người đàn ông được cấp tốc chở vào Đại
Đội Quân Y gần đó để cầm máu và băng bó. Người đàn bà bị
bắt, và sáng hôm sau bị “lệ làng” dắt đi trình diễn xung quanh
xóm, trên cổ đeo bộ phận sinh dục của người chồng mà bà ta
đã cắt hồi đêm. Bà ta đeo lủng lẳng trước ngực, đi biểu diễn
trên các nẻo đường trong xóm làng. Không biết sau này việc
chữa bệnh và xử án ra sao, vì nhiệm vụ, tôi đã phải trở về lại
Huế.
Một thời gian sau, tôi được lệnh bàn giao Trung đội 3 Vận tải
cho một Sĩ quan khác. Lúc bấy giờ Đại Úy Trần Văn Xội
được lệnh thuyên chuyển về Cầu Hai làm Tiểu Đoàn Trưởng
một Tiểu Đoàn Bộ Binh. Sau đó không lâu lại được thuyên
chuyển về Sài Gòn và được thăng cấp và chỉ huy ngành
Thông Vận Binh (tức là Quân Vận sau này) của Quân Đội
Quốc Gia Việt Nam.
Tôi được thăng Trung Úy kể từ 1/1/55, được chỉ định làm Đại
Đội Phó kiêm Sĩ quan Tế Mục Vụ đơn vị, tức là Sĩ quan đặc
trách về lương hướng tiền bạc của Đại Đội 1 Vận tải. Nói
cách khác, tôi là Sĩ quan kế toán tài chánh, có nhiệm vụ làm
và phát lương tiền cho quân nhân các cấp trơng Đơn vị.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Công việc này khá phức tạp và nguy hiểm. Có lần tôi đã để
quên một cặp da đầy ắp tiền lương chưa phát dưới gầm bàn
Văn Phòng và bỏ về nhà. May mắn, ông Trung sĩ kế toán
trưởng Ngưyễn Khoa Sanh trông thấy, vội vàng mang về nhà
cho tôi. Đó là những quân nhân chân thật, trung thành và đạo
đức. Nếu chẳng may gặp phải phường lưu manh thì đời tôi đã
tàn rồi! Cám ơn Thượng Đế và cũng xin cám ơn Trung sĩ I
Nguyễn Khoa Sanh.
J, GIỮ NHIỆM VỤ ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG:
Đất Nước bị chia làm hai tại Vĩ Tuyến 17 (Sông Bến Hải,
Quảng Trị). Một số đơn vị đồn trú từ ngoài Bắc được triệt
thối vào phía nam vĩ tuyến 17. Một Đại Đội Lưu Thông thuộc
Quân Khu 3 (Hà Nội) được di chuyển về Huế, đồn trú tại An
Cựu. Đại Đội Lưu Thông này được biến cải thành Đại Đội
Vận Tải.
Tôi được chỉ định làm Đại Đội Trưởng Đại Đội này và cải
danh thành Đại Đội 251 Vận Tải. Sở dĩ đơn vị Lưu Thông
phải biến cải thành Đại Đội Vận Tải, vì Binh chủng Thông
Vận Binh trước đây có nhiệm vụ điều hợp lưu thông trong
Quân Đội, nay theo sự cải tổ Quân Đội theo quan niệm tổ
chức của Quân Đội Hoa Kỳ, nhiệm vụ lưu thông (traffic
circulation) phải được giao lại cho ngành Quân Cảnh. Trong
thời gian này, tôi gặp ba khó khăn trong nội bộ đơn vị:
a, Các Cựu Binh Sĩ từ Quân Đội Pháp chuyển sang:
Một số anh em từ Quân Đội Pháp chuyển sang Quân Đội Việt
Nam, đã tỏ ra bướng bỉnh, không tuân lệnh các cấp chỉ huy
Việt Nam. Tôi đã giải thích về sự chuyển ngành và kỷ luật
của Quân Đội, nhưng anh em không thi hành đúng kỷ luật.
Buộc lòng tôi phải lên diện trình với vị Tư Lệnh Quân Khu,
lúc bấy giờ là Đại Tá Lê Văn Nghiêm, và đã trình bày tất cả
những khó khăn trong đơn vị. Vị Tư Lệnh đã chỉ thị cho tôi:
“Trung úy về lập danh sách những binh sĩ “ba gai” và trình
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lên cho tôi, nội trong 24 giờ đồng hồ, tôi sẽ thuyên chuyển đi
đơn vị tác chiến”. Một số đã bị thuyên chuyển như lời vị tư
lệnh hứa. Tình hình kỷ luật và trật tự vãn hồi ngay, và đơn vị
tiếp tục tiến triển trong vấn đề cải tổ.
b, Đảng Cần Lao:
Một số nhỏ anh em trong đơn vị là Đảng viên Cần Lao, hay
yêu sách điều này điều nọ, thường gây khó khăn cho tôi trong
các quyết định chỉ huy. Hơn nữa, vì tình trạng hiểu biết thấp,
nên cứ tưởng mình Đảng Viên là có quyền xía vào quyền điều
hành và chỉ huy đơn vị, nhất là cứ can thiệp và ra lệnh thẳng
cho các Ban trong Đơn Vị.
Lúc bấy giờ tôi chẳng biết gì về Đảng phái chính trị, nhất là
cũng chẳng theo dõi tìm hiểu Đảng Cần Lao là gì. Nhưng tôi
được biết và quen thân anh Nguyễn Văn Châu, quê Vĩnh
Phước, Quảng Bình. Anh là một nhân vật quyền hành về đảng
phái lúc bấy giờ. Tôi liền lên Văn Phòng Chỉ Đạo gặp anh
Châu, và trình bày sự việc xảy ra trong đơn vị tôi. Anh Châu
hỏi tôi: "Ỏa, bấy lâu nay cậu chưa phải là đảng viên Cần Lao
hay sao?” Tôi ngạc nhiên trả lời: "Moa biết gì đâu, quân sự
thuần túy, chẳng đảng phái chính trị chính em gì ráo trọi.”
Thế là anh Châu cầm điện thoại gọi về Đại Đội 251 Vận Tải,
và gặp anh Bí thư Cần Lao tại đơn vị. Anh Châu chỉ thị: "Các
anh em phải cẩn thận, Trung Úy Thông là người nhà của mình
đó nghe, nhất cử nhất động phải tuân theo mệnh lệnh của
Trung Úy Thông”.
Tôi trở về đơn vị, tôi đã thấy một số anh em tập họp và trình
diện tôi: "Thưa Trung Úy, chúng em lầm vì không biết, xin
Trung Úy tha lỗi, từ nay chúng em sung sướng được ở dưới
sự chỉ đạo của Trung Úy”. Tôi ngẩn người ra vì chẳng hiểu
các anh em muốn có ý kiến gì. Tôi chỉ biết rằng đó là kết quả
câu nói ra lệnh của Đại úy Châu. Nhưng tôi cũng thông cảm
với anh em, ra lệnh anh em giải tán, và cố làm gương kỷ luật
cho các anh em khác trong công tác hằng ngày. Từ đó, các
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
công việc trong đơn vị đều tiến hành tốt đẹp, không còn rắc
rối như trước nữa.
c, Một trở ngại nhỏ:
Khi Thiếu Tá Trần Văn Xội đã chỉ định tôi làm Đại Đội
Trưởng 251 Vận Tải, một bản copy đã thông báo cho Bộ Tư
Lệnh Quân Khu. Một thời gian ngắn sau, Thiếu Tá Xội đổi ý,
muốn đưa Đại Úy Nguyễn Văn Tự ra làm Đại Đội Trưởng
thay vì tôi. Sự việc phức tạp là vì Quân Khu vừa có lệnh bổ
nhiệm tôi giữ chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 251 Vận Tải
rồi. Tuy nhiên vì dưới quyền Quân Khu, buộc tôi phải trình
lên Đại Tá Lê Văn Nghiêm về sự việc BCH Thông Vận Binh
dự định đưa Đại Úy Nguyễn Văn Tự ra giữ chức vụ Đại Đội
Trưởng thay vì tôi. Đại Tá Lê Văn Nghiêm, Tư Lệnh Quân
Khu, trả lời tôi: "Trung Úy cứ về đơn vị lo cải tổ và chỉ huy
công tác, nếu Đại Úy Tự ra đây, tôi sẽ thuyên chuyển đi đơn
vị khác.”
Tôi vội chào thối lui, và tức tốc trình cho Thiếu Tá Trần Văn
Xội biết, sau đó mọi ý định về việc thay thế, tôi đã được BCH
Thông Vận Binh hủy bỏ.
d, Thăng Cấp Đại Úy :
Đầu năm 1956, tôi được vinh thăng Đại Úy, trong khi đang
giữ chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 251 Vận tải. Một đơn
vị tân lập. Sau một năm cố gắng hình thành từ doanh trại đến
nhân viên và các phương tiện chuyển vận. Do đó Tân Đơn vị
tương đối có bộ mặt khang trang từ hình thức đến kỷ thuật.
Gia đình tôi tạm trú ngay trong đơn vị, trong một villa tươm
tất có đủ tiện nghi. Tại villa này, cô bé Nguyễn Thị Mỹ Hằng
ra chào đời vào năm 1957.
Trong thời gian tôi làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 251 Vận
Tải, không biết tại sao tôi bị suy yếu toàn diện (Faiblesse
générale), người ốm yếu và xanh xao. Có lẽ tôi lo lắng công
việc quá chăng (over loaded)? Một hôm có một linh mục đến
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thăm, tôi có phàn nàn với ngài về sự yếu sức của tôi. Ngài
liền đề nghị với tôi là “Làm sao Đại Úy mua được một con
dê cái vừa mới đẻ, có nhiều sữa. Hằng ngày chỉ cần uống một
ly sữa dê tươi vào buổi sáng, tôi bảo đảm Đại Úy sẽ lấy lại
sức khỏe ngay!”
Việc kiếm dê cái mới đẻ tương đối dễ dàng, vì hằng ngày
đoàn xe của tôi vẫn công tác ra vào Quãng Ngãi. Thế là tôi
cho mua một con dê cái vừa có hai con. Hằng đêm tôi phải
nhốt con dê mẹ trong chuồng (lưới sắt mắt cáo) hai dê con
đứng ở ngoài. Như vậy dê con và dê mẹ gần nhau, không kêu
gào, mà dê con không bú mẹ được. Sáng ra, tôi nặn sữa dê
mẹ. Cái bầu sữa dê mẹ căng phì lên, nếu nặn hết có thể lấy
được bốn năm lít sữa. Tôi chỉ cho nặn khoảng hơn một lít
thôi, sữa còn lại dành cho hai dê con bú.
Đầu tiên, uống sữa dê rất khó nuốt, mùi tanh hôi rất khó chịu.
Tuy nhiên, uống được vài ba buổi sáng, quen mùi, lại thích
uống là đàng khác. Chỉ một tháng sau là người tôi thay đổi,
da hồng hào, sức khỏe trở lại. Bé Hằng còn nhỏ, hễ thấy ba
uống là đòi uống theo, nên sau đó bé Hằng mập khỏe hơn các
anh chị. Riêng các anh chị Thường, Hương, Tuấn, Hải thì
không chịu uống, vì chê sữa hôi. Tôi lấy lại sức khỏe từ dạo
đó và vẫn khỏe cho đến hôm nay.
Năm 1956, tên tôi được vào danh sách du học khóa chuyên
môn Quân Vận tại Pháp (Commandement du Train à Tours),
nhưng vì bận đơn vị mới, do đó cụ Xội bảo tôi tiếp tục lo công
việc, sẽ đi du học kỳ tới. Tuy nhiên, sau đó các khóa Train ở
Pháp bị hủy bỏ và thay thế các khóa tu nghiệp Quân Vận tại
Hoa Kỳ.
Năm 1958, tôi bàn giao đơn vị 251 Vận Tải cho một Sĩ quan
khác để thuyên chuyển vào Sài Gòn theo học khóa Anh Văn
Hội Việt Mỹ, chuẩn bị du học tại Hoa Kỳ. Chính trong thời
gian này, tôi mua đất và xây nhà tại Phú Nhuận, Đường
Trương Tấn Bửu.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Việc chẳng may xảy đến, đó là thời kỳ Sư Đoàn Mẫu trắc
nghiệm. Trung Tá Trần Văn Xội lại đề cử tôi lên Biên Hòa
làm Đại Đội Trưởng Đơn vị Vận Tải mẫu trắc nghiệm. Cụ
Xội bảo rằng tôi là một Sĩ quan có kinh nghiệm và khả năng,
có thể hoàn tất được nhiệm vụ do Bộ Tổng Tham Mưu giao
phó.
Tôi đã cố gắng thỉnh cầu Trung Tá Trần Văn Xội được miễn
công tác này, nhưng vô hiệu. Trái lại Trung Tá Xội cố thuyết
phục tôi cố gắng thành lập đơn vị Trắc nghiệm trong bước
đầu. Khi có lệnh đi du học Hoa Kỳ, sẽ có người thay thế. Thế
là tôi phải khăn gói lên Biên Hòa.
Tôi xin mở một dấu ngoặc là trong thời kỳ này, tình hình
chính trị có phần xáo trộn. Các thầy tu Phật Giáo thường hay
ngồi biểu tình ở Bồng Binh chợ Sài Gòn, hoặc tập trung đông
đảo đồng bào Phật Tử ở các chùa để thuyết pháp, xách động,
nhất là tại chùa Ấn Quang ở Đường Sư Vạn Hạnh.
Một hôm tôi đi về nhà Phú Nhuận, vào hẻm nhà tôi trên
đường Võ Tánh, bỗng tôi gặp anh Hàm. Anh Hàm là tùy phái
cho Tỉnh Quảng Bình dưới thời Tỉnh Trưởng Nguyễn Hữu
Nhơn. Sở dĩ tôi quen thân anh Hàm, vì anh thường hay đưa
công văn sang Ty An Ninh Đồng Hới, mà tôi lại là thư ký tiếp
phát công văn. Do đó mỗi lần anh mang công văn qua là
chúng tôi hay chuyện trò qua lại. Vì ở trên Tỉnh Đường, anh
biết nhiều chuyện lạ từ Huế gửi ra.
Hàm còn là người phục vụ riêng cho tư thất ông Tỉnh Trưởng
Nguyễn Hữu Nhơn có người vợ cả ở Lệ Thủy. Ông thường
nói với Hàm là cố gắng phục vụ cho giỏi, ông sẽ gả con gái
cho, vì ông có con gái lớn với bà vợ cả cùng ở Lệ Thủy. Hiện
ông sống ở Đồng Hới với bà vợ bé. Bà này còn nhỏ, có lẽ
ngang tuổi với Hàm hay nhỏ hơn chút ít.
Một hôm, Ông Tỉnh Trưởng đi kinh lý Phủ Quảng Trạch, trên
đường đi Minh Lệ với Ông Phủ Trưởng Nguyễn Hữu Cảnh,
cả hai ông bị Việt cộng phục kích bắn chết. Sau đám tang, bà
vợ bé Tỉnh Trưởng và Hàm dắt nhau đi xây tổ uyên ương.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Nghe đâu, sau đó anh xin vào làm công an cho Ty Công an
Quảng Trị, và vì có liên hệ trong việc bán cam Xã Đoài ở Bến
Hải, nên bị sa thải.
Tôi mời anh vào nhà tôi, hai người uống bia nhắc chuyện cũ.
Tôi hỏi: "Anh vào Sài Gòn làm gì?” Anh trả lời: "Tôi đi học
Anh Văn” và anh khuyên tôi nên học Anh văn cho giỏi vì Mỹ
sắp qua Việt Nam. Đó là khoảng đầu năm 1959, trước khi tôi
đi Mỹ du học.
Thời gian qua nhanh, công tác trắc nghiệm Sư Đoàn Mẫu
cũng sắp hoàn tất và tôi được chỉ định làm thủ tục xuất ngoại
qua Hoa Kỳ giữa năm 1959 để thụ huấn khóa “Căn Bản Quân
Vận và Khóa Đại Đội Trưởng cùng ngành”.
Sau khi mãn khóa học vào đầu năm 1960, tôi về lại Việt Nam
và được bổ nhiệm về Trường Quân Vận QLVN Cộng Hòa,
đảm trách nhiệm vụ Giám Đốc Quân Huấn của Quân Trường.
Trong thời gian này, có Chuẩn Úy Nguyễn Công Sum thụ
huấn lớp chuyên môn Binh chủng Quân Vận và đã tốt nghiệp
thủ khoa khi mãn khóa (Sau nầy Sum trở thành xui gia với
Thường, con trai tôi).
Cũng trong thời gian này, tôi cắp sách trở lại học đường để
theo học văn hóa, dự thi các văn bằng tú tài và sau đó vào các
lớp Đại Học chuyên khoa.
Gia đình chúng tôi ngụ tại căn nhà xây cất ở Phú Nhuận. Bà
xã tôi có dấu hiệu mang thai khoảng hai tuần. Một hôm, bà
cố gắng mang một chậu hoa từ dưới nhà lên sân thượng trước
cửa lầu hai. Vì nặng quá đối với sức của bà, nên đã bị sẩy
thai. Bà xã tôi không cảm thấy mệt mỏi gì cả, nhưng tôi bắt
bà nằm nghỉ vài hôm cho bình phục. Cũng trong thời kỳ này,
bé Thanh Hài, khoảng hơn 3 tuổi, chạy lên chạy xuống cầu
thang chơi, bị trượt chân té cầu thang, u đầu chảy máu. Cả
nhà hoảng sợ. Chúng tôi phải cấp tốc chở vào nhà thương
Grall cấp cứu. Sau khi chụp hình, may chỉ bị sưng đầu và
không bị vỡ sọ hoặc bị gãy chân tay. Từ đó, Thanh Hài không
còn dám chạy chơi cầu thang nữa.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Cũng trong thời gian đó, Nguyễn Đình Tuấn khoảng hơn 6
tuổi, chơi nghịch bằng cách cầm sợi giây điện chạy đi cắm
vào các chỗ cắm điện (outlet). Đã bị la nhiều lần, nhưng vẫn
tiếp tục chơi nghịch như vậy. Một hôm anh nghịch cắm điện
sao đó, bị điện giật cho một phát, anh thất kinh khóc ré lên.
Từ đó về sau không còn dám chơi sợi giây cắm điện nữa.
Vào năm 1960, chúng tôi có một người con trai khác tên
Nguyễn Đình Tiến, sinh tại Sài Gòn.
e, Thuyên Chuyễn Ra Đà Nẵng:
1, Đổi ra Đà Nẵng: Tôi đang học văn hóa nửa chừng thì đầu
năm 1961 bị đổi ra Đà Nẵng. May thay tại Đà Nẵng Trường
Trung Học Sao Mai có những lớp dạy đêm, nên tôi vẫn tiếp
tục học các lớp triết tại đây. Một sự tình cờ đã xảy ra. Đó là
một hôm, sau giờ học lớp Triết, giáo sư Trần Văn Giàu chận
tôi lại và hỏi rằng: "Đại Úy còn nhớ tôi chăng?” Tôi vẫn mặc
quân phục khi đi học, để dễ dàng khi có việc khẩn cấp. Tôi
ngỡ ngàng và không biết ai. Ông giáo sư mới nói cho tôi rõ
là ông ta là con bà bán Câu Lạc Bộ trong Tiểu Đoàn Danh Dự
thuộc Võ Phòng Thủ Hiến Trung Việt. Tôi trực nhớ ra và nói
to “A, thì ra anh Cháu, thế mà tôi nhìn không ra. Vì đã gần
mười năm rồi còn gì? Thế nào hai cụ có khỏe không? Hôm
nay lớn quá và lại giỏi nữa làm sao tôi còn nhớ ra được?”
Số là vào năm 1951, khi tôi còn làm việc tại Võ Phòng Thủ
Hiến Trung Việt như tôi đã trình bày trên, tôi thường ra ăn tại
Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn Danh Dự do Ba Má của Trần Văn
Giàu thầu bán tại đó. Lúc đó Trần Văn Giàu tên là Cháu, đi
học tại Trường Pellerin về, ngồi học bài, tôi hay chỉ vẽ và đôi
lần kèm Pháp văn cho anh ta.
Bấy giờ tôi chỉ huy Đại Đội 10 Tiếp Liên, trú đóng bên cạnh
Trường Trung Học Công Giáo Sao Mai. Tôi đã phải mang
gia đình ra Đà Nẵng với tôi. Cùng ở đó có gia đình Trung Úy
Ngô Văn Phát bên tay phải với vợ và các con là Diệp, Yến,
Long, Trinh… và Trung Úy Vinh nhà ở phía tay trái cùng vợ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
con là Hương, Thủy, Hùng, Tuấn... Mấy đưá con của ba nhà
chúng tôi chơi rất thân với nhau, hết nấu ăn đến khiêng bàn
ghế làm sâu khấu đóng kịch… Bà xã tôi thì hay khen ngợi và
kể cho tôi nghe tài làm bánh nấu chè của bà xã Trung Úy
Vinh, cũng như những món ăn miền Nam hấp dẫn của bà xã
Trung Úy Phát…
Căn nhà ở Phú Nhuận phải cho thuê. Tôi đã cho gia đình thân
phụ của ca sĩ Elvis Phương thuê với giá phải chăng.
Tiện đây tôi lại mở thêm một dấu ngoặc là vào năm 1964,
tình hình tại Đà Nẵng rất lộn xộn, rất bất ổn. Chú thím Minh
và các cháu đã phải vào Sài Gòn lánh nạn. Tôi phải lấy lại
căn nhà mà thân phụ Elvis Phương thuê để cho gia đình chú
thím Minh tạm trú. Đến năm 1966, tình hình Đà Nẵng tạm
yên, chú thím Minh và gia đình mới trở ra Đà Nẵng, trong khi
tôi lại được thuyên chuyển về Sài Gòn để theo học khóa cao
cấp ở Hoa Kỳ. Đồng thời dời gia đình vào Sài Gòn luôn.
Trong thời gian tôi đặc trách Đại Đội 10 Tiếp Liên, chú thím
Toàn buôn bán ở Quảng Trị muốn dời về Đà Nẵng vì tình
hình Quảng Trị ngày càng bất ổn, nên có nhờ tôi tìm mua cho
một căn nhà tại Đà Nẵng. May mắn trong đơn vị Tiếp Liên
có Trung sĩ Bình muốn bán một căn nhà tại Thanh Bình. Tôi
liền mua ngay cho chú thím Toàn. Sau đó, chú thím về Đà
Nẵng ở và xây lên một villa đẹp đẽ khang trang, bên cạnh
Dưỡng Đường Bảo Sanh Viện Têrêxa của chú thím Minh.
2, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Vận Tải: Qua năm
1962, tôi được chỉ định giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu
Đoàn 11 Vận Tải và thành lập đơn vị mới này. Tôi đã phải
bàn giao Đại Đội 10 Tiếp Liên cho Trung Úy Ngô Văn Phát.
Vấn đề khó khăn lúc bấy giờ là tuy “có tiếng mà không có
miếng”. Nghĩa là tuy có danh hiệu Tiểu đoàn 11 Vận Tải, mà
không có bản doanh Tiểu Đoàn. Tôi đã liên lạc trình với
Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy I Tiếp Vận. Đơn vị
này có nhiệm vụ cung cấp bản doanh đồn trú cho Tiểu đoàn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chúng tôi. Sau khi tôi lên trình diện, chào Trung Tá Chỉ huy
Trưởng (LHL) theo đúng quân cách, tôi trình với ông:
- “Kính thưa Trung Tá, tôi nhận được lệnh thành lập Tiểu
Đoàn 11 Vận Tải, nhưng hiện chưa có doanh trại. Kính xin
Trung Tá chỉ định cấp cho Tiểu Đoàn chúng tôi một doanh
trại, để xúc tiến thành lập đơn vị mới.”
Ông Trung Tá Chỉ Huy Trưởng đã trả lời với tôi một cách hết
sức vô trách nhiệm:
- "Ô hay ! doanh trại của anh thì anh phải lo đi kiếm và trình
tôi chấp thuận, chẳng lẽ tôi đi kiếm cho anh? Đây có văn
phòng của tôi, anh lên đây mà chiếm đóng!!!”
Tôi quá chán về câu trả lời và lối làm việc của vị chỉ huy lúc
bấy giờ, chứng tỏ ông chẳng hiểu biết gì về nhiệm vụ của ông
ta. Quân đội mà có những cấp chỉ huy như thế này, làm sao
thăng tiến được, làm sao Quê hương chẳng mất vào tay cộng
sản!
Tôi trả lời:
- "Thưa Trung Tá, quyền quyết định cung cấp doanh trại là
quyền của Trung Tá, hơn nữa Bộ Chỉ huy Tiếp Vận (Phòng
Địa ốc) mới có dữ kiện để biết tình hình các doanh trại. Chúng
tôi ở các đơn vị trực thuộc làm sao có dữ kiện để biết tình
hình địa ốc, doanh trại trong vùng được. Tuy nhiên, nếu
Trung tá nói vậy, tôi xin tự đi tìm kiếm và trình lại!”
Tức tốc sau đó, tôi rút lui với sự bất mãn trong lòng. Ông
Trung Tá CHTTV trả lời tôi theo luật rừng, chẳng hiểu biết tí
gì về nhiệm vụ của ông ta cả. Lẽ dĩ nhiên tôi cũng hành động
theo luật của ông ta và sẽ trình lại ông chấp thuận. Nếu có
hậu quả gì xảy ra thì tôi chỉ thi hành theo lệnh của ông mà
thôi.
Tôi chạy ra Phước Tường, tại đây có một giải đất trống từ
Ngã Ba Cây Lan về tận giáo xứ Công giáo của cha Ngạn. Tôi
quyết định sẽ xử dụng giải đất này.
Tôi sắp xếp trong đầu óc là từ phía quốc lộ nhìn vào, Bộ Chỉ
Huy Tiểu đoàn đóng ở giữa, bên phải là Đại Đội 114 Vận Tải,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bên trái là Đại Đội 115 Vận Tải. Đây cũng là các Đại Đội Vận
Tải mới thành lập chưa có doanh trại. Tôi phải trình cho
Trung Tá Chỉ Huy Trưởng BCH 1 TV .
Tôi trình bày bằng giấy tờ, xin Trung Tá ra văn thư chấp
thuận về ý định của tôi để chúng tôi chấp hành. Tôi chỉ biết
một cách mù mờ rằng dãi đất này là công thổ, không phải đất
tư của ai. Công việc chấp thuận đất đai đã xong, còn vật liệu
xây cất doanh trại lấy ở đâu ra? Một vấn đề nan giải. Trong
khi Bộ Chỉ Huy 1 Tiếp Vận không hề cấp cho một cây gỗ,
một viên gạch, một bao ciment hay một ngân khoản nào... để
xây dựng doanh trại Tiểu Đoàn 11 VT cả.
Tiểu Đoàn 11 Vận Tải có Đại Đội 112 Vận Tải đóng tại Hội
An, bên cạnh Tòa Tỉnh Trưởng Quảng Nam do Trung Tá Võ
Hữu Thu làm Tỉnh Trưởng.
Đại Đội 112 Vận Tải có một nhà barrack rất lớn. Trước Quân
Đội Pháp làm xưởng sửa chữa quân xa, nay Đơn vị không cần
đến căn nhà này nữa. Tôi điều đình với tòa Tỉnh là tôi sẽ di
chuyển căn nhà này và nhường lại miếng đất trống cho Tỉnh
khu. Ngược lại xin tòa Tỉnh cấp cho Tiểu đoàn 500 bao xi
măng để ráp căn nhà lại tại Phước Tường.
Ông Tỉnh Trưởng Võ Hữu Thu chịu quá, vì khu Tỉnh Đường
chật hẹp, nay có một khoảng đất trống để xây cất thêm văn
phòng cho các cơ sở trực thuộc. Ông Tỉnh đồng ý một cách
rất hoan hỉ.
Tôi xúc tiến ngay việc tháo gỡ căn barrack. Giao miếng đất
lại cho Tòa Tỉnh và tiếp nhận ngay 500 bao xi măng. Ngoài
ra Tiểu Đoàn Vận Tải chúng tôi có một số cố vấn. Họ hiểu
biết, thông cảm những khó khăn của tôi khi thành lập Tiểu
Đoàn 11 Vận Tải. Tôi nhờ họ kiếm cho chúng tôi một số gỗ
cần thiết cho công trình xây cất. Họ đã đáp ứng theo lời yêu
cầu của tôi, thuận tiện cho việc xây cất doanh trại mới.
Công việc tháo gỡ Barrack, xây cất lại, đúc gạch, lấy cát,
v.v… do Thượng sĩ Xích và Hạ sĩ Heo đảm trách dưới sự
điều khiển của Trung Úy Phùng Hữu Niên, phụ tá Tiểu Đoàn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trưởng lúc bấy giờ. Hạ sĩ Heo là người thợ hồ khéo, rất chăm
chỉ công việc, tánh tình hòa nhã, triệt để vâng lời cấp chỉ huy.
Ông ta đảm đang luôn cả nghề mộc.
Tôi là người vẽ họa đồ xây cất Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và hai
nhà hai bên là hai Bộ Chỉ Huy hai Đại Đội Vận Tải đồn trú
cùng chung một doanh trại, được đặt tên là Doanh Trại “Tây
Sơn”.
Tên Doanh Trại cũng do tôi tự đặt lấy, và trình lên thượng
cấp chấp thuận. Tôi không biết vì sao chỉ 500 bao ciment mà
chúng tôi thực hiện được nhiều công tác đến như thế. Nào là
Văn Phòng Tiểu Đoàn, nào là Văn Phòng hai Đại Đội Vận
Tải, nào là nhà vãng lai Sĩ Quan, nào là Câu Lạc Bộ Tiểu
Đoàn, nào là Điếm canh, Cột cờ v.v… và một cổng ra vào vĩ
đại, cùng một số công tác cho trại gia binh.
Việc thiết trí họa đồ xây cất doanh trại Tây Sơn hoàn toàn do
sáng kiến và sự tự túc của tôi. Bộ Chỉ Huy 1 Tiếp Vận thời
bấy giờ không hề giúp đỡ một thứ gì. Mặc dù đó là nhiệm vụ
của họ. Trong thời gian đầu, tôi đảm nhiệm chức vụ Tiểu
Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Vận Tải, gia đình tôi vẫn ở tại
Đại Đội 10 Tiếp Liên, chỗ cũ khi tôi còn là Đại Đội Trưởng
ở đây.
Đến khoảng năm 1963, Quân Đội có cấp một số đất trống ở
bãi biển Thanh Bình. Tôi không có nhà ở Đà Nẵng, nên được
cấp một lô. Sau lưng tôi là nhà của Đại Tá Tôn Thất Xứng
(sau này ông Xứng lên cấp tướng). Bên phải tôi là nhà của
Đại úy Trương Trừng, bên trái là nhà của ông Hạp.
Nghe nói ông Hạp mua lại của một Sĩ quan nào đó. Tôi vẽ
họa đồ villa của tôi, nhà có ba phòng ngủ, một nhà tắm - vệ
sinh, một phòng ăn và một phòng khách rộng. Ngoài ra, nhà
có garage, bếp cùng nhà kho và một căn nhà dành cho người
làm, phía ngoài có toilet riêng. Phiá trên garage là sân thượng,
một chỗ ngồi hóng mát lý tưởng vì gió từ biển thổi vào lồng
lộng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khu nhà cửa tại bãi biển Thanh Bình này do chính tôi tổ chức.
Từ việc lấy xe đi đổ đá về làm đường, đặt tên các con đường,
đánh số các căn nhà. Con đường trong hết tương đối cao, gần
trường Kỹ Thuật, chúng tôi đặt là đường Thanh Sơn, kế tiếp
có nhà của chúng tôi được đặt tên là Thanh Long, kế tiếp nữa
con đường mùa mưa hay đọng nước chúng tôi đặt tên là
Thanh Thủy. Đường này có nhà của Phùng Hữu Niên. Con
đường ngoài cùng gần biển, chúng tôi đặt tên là Thanh Hải.
Chính tôi và Trương Trừng đã đặt các tên các con đường đó
và đánh số thứ tự trên các căn nhà. Nhờ vậy mà việc đi liên
lạc tìm nhà, giao thư tín buổi ban đầu được dễ dàng hơn.
Không biết hiện nay, tình hình có thay đổi gì không?
Thời gian ở Đà Nẵng, chúng tôi sinh được hai cô con gái, đó
là Nguyễn Thị Ánh Hoa, nick name Bê (Aug. 1962) và
Nguyễn Thị Diễm Hà, nick name Bé (Sept. 1964).
Diễm Hà là người con được sinh ra khi chúng tôi ở trong villa
đường Thanh Long, Đà Nẵng. Cả hai cô Hoa và Hà đều sinh
tại nhà Thương “Dưỡng Đường Thánh Phao Lồ Đà Nẵng”.
Mẹ Bề Trên Saint Paul de Chartre bảo hai cô sau này cố gắng
đi tu nhà Dòng, nếu không đi tu thì cũng cố gắng ăn ở thánh
thiện, hiền lành.
Đầu năm 1965, Quân Đội Mỹ ồ ạt đổ bộ vào Việt Nam, tôi
cho mướn villa của tôi cho cơ quan phát hành báo chí Mỹ.
Tôi tìm thuê một căn nhà khác cho gia đình ở cũng gần đó.
Trong thời gian này ông Phi Long ngõ ý muốn bán căn nhà
của ông cho tôi mà tôi đã giới thiệu lại cho chú Minh, như đã
trình bày ở đoạn trên.
Năm 1964, tôi được thăng cấp Thiếu Tá, sau cuộc cách mạng
năm 1963, tương xứng với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu
Đoàn 11 Vận Tải, sau này được nâng lên thành Liên Đoàn
Vận Tải mà cấp bậc Liên Đoàn Trưởng phải là Trung Tá.
Năm 1964, 1965, tình hình đất nước rất xáo trộn tại miền
Trung, mặc dầu chánh quyền Ngô Đình Diệm đã sụp đổ. Cụ
Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị giết bởi hàng tướng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lãnh, Dương Văn Minh là người ra lệnh cho Mai Hữu Xuân,
một tay mật thám cho thực dân Pháp thi hành. Dương văn
Minh vì tham lợi đã làm chuyện đó. Sau khi giết cụ Diệm,
Mai Hữu Xuân đã tự cấm khẩu cho đến khi chết.
Tại Đà Nẵng năm 1964, 1965, những đoàn biểu tình bạo động
đi tìm “Cần lao” để thanh toán. Họ đã giết chết một anh thợ
may, nghe đâu là người công giáo, ngay tại giữa đường phố
Đà Nẵng. Họ tiếp tục kéo xuống đốt phá làng Thanh Bồ Đức
Lợi là những làng Công giáo để tiêu diệt cần lao. Họ cho rằng
Cần Lao đồng nghĩa với Công giáo.
Một cảnh hỗn loạn chưa từng xảy ra tại Thị xã Đà Nẵng, nơi
đây có Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 trấn đóng. Lúc bấy giờ
Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi làm Tư Lệnh Quân Đoàn.
Không biết tại sao ông im hơi lặng tiếng trong vụ nầy?
Tại khách sạn Đồng Khánh Đà Nẵng của chú Minh, tôi phải
cho một Tiểu Đội có trang bị súng ống đạn dược đầy đủ canh
giữ. Bọn lưu manh đòi vào khách sạn lấy của, chúng đòi đốt
khách sạn vì “cần lao ác ôn”. Tuy nhiên, tôi đã ra lệnh cho
lính canh phải cứng rắn, đứa nào không tuân lệnh là bắn bỏ
ngay. Do đó chúng đã không dám vào cướp.
Biểu tình xuống đường khắp mọi nơi. Đặc biệt là tại Huế.
Phong trào Phật Giáo đem bàn thờ xuống đường, làm cản trở
lưu thông, cản trở các cuộc hành quân, vô tình tiếp tay cho
các hoạt động phá hoại của Cộng Sản ở các miền xa xôi hẻo
lánh. Có một đoàn quân từ Quảng Ngãi ồ ạt kéo ra Đà Nẵng,
không biết theo lệnh của ai, cánh tay mang băng vải vàng, nói
rằng đi cứu nguy Phật giáo, đã bị Biệt Động Quân chận lại tại
Ngã Ba Cây Lan và hai bên nổ súng. Một số tử thương, một
số bị thương nặng. Họ kéo lê lết qua BCH Tiểu Đoàn chúng
tôi.
Hỏi ra thì các quân nhân này thuộc các đơn vị yểm trợ Tiếp
Vận ở Quảng Ngãi, vì bị sách động vác súng ra đi, chẳng
màng nguy hiểm, vì họ đã có kinh nghiệm tác chiến bao giờ
đâu. Họ đụng phải Biệt Động Quân là những Đơn vị thiện
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
chiến. Khi chạm mặt, BĐQ ra lệnh cho họ trở về Đơn vị, họ
không nghe còn chống cự lại, vì vậy họ bị bắn chết hay bị
thương là một sự tự nhiên, thật là một điều đáng tiếc!!!
Những ngày kế tiếp, tình hình rất căng thẳng. Tôi ủy nhiệm
cho Đại Úy Phùng Hữu Niên xử lý thường vụ chức vụ Tiểu
Đoàn Trưởng, vì tôi phải vào phi trường bằng ngã phía Tây
để liên lạc trình với Sài Gòn về tình hình Tiểu Đoàn 11 Vận
Tải cho Cục Quân Vận. Vừa vào sân bay Đà Nẵng, tôi gặp
ngay Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan và trình tình hình ở ngoài
cho ông biết. Khi tôi vào Bộ Tư Lệnh Không Quân Đà Nẵng,
tôi gặp một vị sư ở Sài Gòn ra để dàn xếp sự tranh chấp giữa
chính phủ và Phật giáo.
Nhìn kỹ vị sư này, thì té ra là anh H. Chẳng lẽ anh H. là bạn
tôi, trước đây làm tùy phái cho tòa Tỉnh Quảng Bình, nay lại
Đại Diện cho Phật giáo Trung ương ra Đà Nẵng giải quyết vụ
Phật giáo ở Miền Trung? Anh ta đi tu hồi nào mà lại mang áo
quần vàng?
Tôi hỏi lại Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan cho chắc, thì ông nói
“toạc móng heo” rằng thì đó là “thằng H. buôn cam lậu ở Bến
Hải, Quảng Trị chứ ai!” Trong khi danh tánh của y là Thượng
Tọa T.N.T !
Hỡi ôi! Tôi muốn nói chuyện với anh ta, nhưng dáng điệu của
y như là một nhà tu hành thứ thiệt, ngồi không nhúc nhích
như pho tượng gỗ, mắt nhìn đăm đăm xuống bàn như một vị
thánh nhân đang tập trung tư tưởng, làm sao tôi tiếp xúc, gợi
chuyện được với y?
Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan ra lệnh cho tôi ở lại Phi Trường
và ông yêu cầu tôi cung cấp phương tiện chuyển vận cho quân
đội chính phủ trung ương khi có nhu cầu. Các cổng phi trường
đã bị chận lại. Nội bất xuất “ngoại bất nhập”. Tôi vẫn liên lạc
về Tiểu Đoàn bằng điện thoại và bằng máy truyền tin SPR
cầm tay.
Trước tình thế ngày càng gây cấn, chính phủ làm mạnh, dẹp
bỏ tất cả chướng ngại vật do nhóm Phật giáo chống đối dựng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nên. Sau khi Tướng Tôn Thất Đính nắm lại Quân Đoàn I, tình
hình Đà Nẵng tương đối ổn định. Các cổng phi trường giải
tỏa, tôi trở ra đơn vị theo lệnh của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan.
Một hôm, Trung Úy ĐĐC., một Sĩ quan trong Bộ Tham Mưu
Tiểu Đoàn đến gặp tôi và nói “Thiếu Tá đừng có lo lắng gì,
có thể nói rằng tôi là cánh tay trái của Thượng Tọa Thích Trí
Quang (người cầm đầu nhóm chống đối), nếu có gì tôi sẽ luôn
ở bên cạnh Thiếu Tá”.
Tôi đáp “Cám ơn Trung Úy, thực ra tôi có chống đối ai đâu,
tôi cũng không tranh chấp gì với ai. Tôi chỉ thi hành lệnh cấp
trên trong nhiệm vụ đã được giao phó mà thôi”.
Vui câu chuyện, Trung Úy C. cũng cho tôi biết “Thượng Tọa
Thích Trí Quang thường họp bạn với giới trẻ, thanh niên,
thiếu nữ. Ông nổi hứng gọi một bà bán bún bò Huế vào cho
các bạn trẻ ăn, và chính ông cũng ăn luôn, ai cũng thấy.”
Anh nói tiếp: "Không biết ông tu theo giới luật nào?” Tôi
nghe chỉ cười mà không phát biểu ý kiến.
Đoàn quân Chính phủ tiến ra Huế, Quảng Trị và mọi sự chống
đối đã xẹp xuống mau lẹ.
12, DU HỌC KHÓA CAO CẤP QUÂN VẬN TẠI HOA
Kỳ:
A, Sau biến cố Phật giáo miền Trung và tình hình đã tương
đối ổn định, năm 1966 tôi được Cục Quân Vận điều động về
Sài Gòn để chuẩn bị du học Hoa Kỳ khóa cao cấp Quân Vận
(Transportation Advanced Course) và khóa cao cấp điều hành
chuyển vận Quốc Phòng (Advanced Defence Traffic
Management Course).
Trong lúc chờ đợi ngày lên đường, tôi được thuyên chuyển
về Bộ Chỉ Huy Hỏa Xa Quân Đội Trung Ương. Thời gian tá
túc và làm việc tại đây thật là tà tà. Văn Phòng đóng tại Nha
Hỏa Xa Trung Ương, giữa trung tâm Sài Gòn, tiện lợi cho
việc mua bán, bát phố và ăn uống.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Gia đình tôi lúc bấy giờ cũng đã di chuyển về Sài Gòn, như
đã trình bày trên đây, khi gia đình chú thím Minh đã trở ra lại
Đà Nẵng vì vấn đề an ninh trật tự đã được vãn hồi và tình
hình trật tự kỹ luật đã cho phép.
Qua Tết 1967, tôi chuẩn bị khám sức khỏe, may áo quần và
sẵn sàng ngày lên đường sang Hoa Kỳ. Chính trong năm này,
bà xã tôi đã sinh hạ được một cháu trai, đặt tên Nguyễn Đình
Thọ (nick name cu Tèo).
Tôi đã lên đường qua Mỹ vào tháng 4 năm 1967. Như lần
trước (năm 1959), chúng tôi trực chỉ về Trường Quân Vận
Hoa Kỳ, tại Fort Eustis Virginia. Trong khóa học này, chúng
tôi được Bộ Quốc Phòng cấp ngân khoản đi tour thăm các nơi
quan trọng, danh lam thắng cảnh, như lên thăm thành phố
New York, thác nước Niagara Fall, Buffalo City, Denver
City, Air Force Academy of Colorado Springs, v.v...
Trong dịp đi tour, chúng tôi được ông Thị Trưởng Niagara
Fall City mời ăn cơm tối. Qua câu chuyện trong khi ăn, tôi
thấy ông Thị Trưởng này chẳng hiểu biết gì về chiến tranh
Việt Nam. Quan niệm của ông rất mù mờ và sai lạc, bị tiêm
nhiễm bởi tuyên truyền của cộng sản và bọn phản chiến. Rất
tiếc Anh Văn của tôi lúc bấy giờ chưa khá, nhất là về các vấn
đề về chính trị, nên chưa thể giải thích chu đáo tường tận cho
ông ta hiểu một cách rành mạch được.
Vì khóa học kéo dài từ năm 1967 qua năm 1968, nên vụ tấn
công dịp Tết Mậu Thân của Cộng quân vào dịp Tết năm 1968,
chúng tôi đang ở bên Mỹ. Hằng ngày tôi xem TV, thấy những
cảnh chết chóc, những cảnh chạy loạn, những cảnh Việt cộng
đốt nhà dân, làm cho chúng tôi rất lo âu, sợ hãi cho gia đình.
Lúc bấy giờ, chúng tôi lo sợ không biết có về lại được Việt
Nam không. Vì vậy, tư tưởng bị xáo động, trí óc bị phân tán,
học hành chẳng được gì kể từ sau Tết. Tuy nhiên khi mãn
khóa, tình hình Việt Nam đã yên tịnh. Nhà Trường cho biết,
chúng tôi có thể về Việt Nam theo đúng chương trình đã sắp
xếp từ trước.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trong khóa học này, tôi được nhà Trường mời đi thuyết trình
cho một cộng đồng nhỏ ở gần Trường. Hình như đây là một
Giáo Xứ Công Giáo, vì tôi thấy hiện diện một vị linh mục.
Tôi đề cập đến lịch sử Việt Nam, về tình hình Giáo Hội Công
Giáo Việt Nam, về cuộc chiến tranh giữa Cộng sản và Dân
Tộc Việt Nam, về sự tàn ác của Cộng sản đối với nhân dân
Việt Nam, về những xảo trá tuyên truyền bịp bợm của Cộng
sản v.v... Sau đó đã có nhiều câu hỏi về tình hình chính trị, về
bầu cử. Tôi đã cố gắng trả lời một cách thỏa đáng.
B, Trở về Việt Nam: Tình hình chiến sự dịp Tết Mậu Thân
vẫn còn ảnh hưởng đến ngày chúng tôi đặt chân về Phi
Trường Tân Sơn Nhất. Phi trường vắng tanh, không một hoạt
động nào về hành chánh của chánh phủ và thương mại của
dân sự, ngoại trừ lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực
Mỹ canh gác tại Phi Trường. Do đó tôi từ ngoại quốc về mà
không bị quan thuế khám xét gì về hành lý cả. Mà thực ra, tôi
cũng không mua hàng hóa quốc cấm, chỉ mua hàng thông
dụng và quà cáp cho gia đình.
Dù sao tôi vẫn cảm thấy thích thú và ấm lòng khi đặt chân trở
lại Quê Hương, mặc dầu Quê Hương đang tràn lan khói lửa
chiến tranh. Ôi! Tình quê hương sao mà thiết tha!
Tôi vội vã đi taxi về nhà, trong khi thành phố vẫn giới nghiêm
về đêm. Cả nhà vợ con xúm xít vui mừng. Gia đình tôi đã
được thông báo bằng thư trước, nhưng rất tiếc là không thể
vào Phi Trường để đón tôi được. Thôi thì đợi ở nhà vậy.
Nghe nói cả nhà đã thức dậy sớm, và chờ từ sáng đến xế trưa
ba mới về. Các con đã bỏ học hôm đó để ở nhà đón ba do sự
chấp thuận của má. Mỗi lần có chiếc xe taxi đi vào hẻm, cả
nhà chạy ra nhìn, làm cho khách đi xe và tài xế cũng lấy làm
lạ, chẳng hiểu tại sao. Thì ra người đi xa, kẻ ở nhà đều thương
nhớ, trông chờ như nhau. Khi ba đi taxi về đến, cả nhà vui
mầng, vợ chồng con cái quây quần mừng rỡ quấn quít lấy
nhau trong tâm tình cảm tạ Chúa.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sáng hôm sau, tôi phải liên lạc Bộ Chỉ Huy Quân Vận
QLVNCH và trình diện Đại Tá Cục Trưởng Trần Văn Xội.
Sau khi trao đổi ý kiến về việc học hành và trình kết quả về
sự học, Đại Tá Cục Trưởng đã chỉ định tôi vào chức vụ Chánh
Sự Vụ Sở Chuyển Vận QLVNCH. Với chức vụ này, ngoài
tiền lương, hằng tháng tôi còn được phụ cấp khoảng ba ngàn
đồng Việt Nam.
Công việc rất phức tạp. Ngoài các công tác theo dõi và đôn
đốc công việc của hai phòng trực thuộc, đó là Phòng Lưu
Hành và Phòng Vận Tải, theo dõi công tác của Căn Cứ
Chuyển Vận Sài Gòn và Liên Đoàn 10 Vận Tải và đặc biệt
phối hợp công tác và ước tính tài chánh với Sở Tài Chánh
Ngân sách của Cục cho công tác bốc rỡ, hoặc nhu cầu chuyển
vận hằng năm.
Ngoài ra, tôi còn tập trung tất cả những kết quả chuyển vận
tại các vùng chiến thuật cũng là những khó khăn trở ngại, để
trình Đại Tá Cục Trưởng các hoạt động chuyển vận trong các
cuộc thanh tra hằng lục cá nguyệt hoặc thanh tra bất thường.
Tóm lại đây là Sở Chuyển Vận, một cơ sở đặc trách công tác
chính của Cục Quân Vận lúc bấy giờ. Ngoài ra, Sở Chuyển
Vận thường tập trung tất cả những sơ sót của các Đơn vị để
trình Đại Tá Cục Trưởng chỉ thị chấn chỉnh trong các cuộc
thanh tra “chỉ huy và kỹ thuật”.
13, CHỈ HUY QUÂN VẬN VÙNG 3:
A, Đầu năm 1969, tôi được thăng cấp Trung Tá. Công việc
Chánh Sự Vụ Sở Chuyển Vận đang tiến hành tốt đẹp, thì một
hôm Đại Tá Xội, Cục Trưởng gọi tôi lên và bảo:
- "Mày qua Vùng 3 thay Đại Tá Bửu Cát, Chỉ huy Trưởng
BCH Quân Vận Vùng 3. Bửu Cát đi học khóa Chỉ Huy Tham
Mưu ở Đà Lạt”.
Một cú sét đánh, tôi tá hỏa tam tinh, tôi năn nỉ Đại Tá Cục
Trưởng “Xin được ở lại phục vụ tại Cục, vì mới du học Hoa
Kỳ về. Hơn nữa, tôi nghe tiếng Đại Tá Trương Bảy, Chỉ Huy
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trưởng BCH3TV vị chỉ huy trực tiếp tương lai của tôi cứng
rắn, rất khó khăn cho tôi khi chưa được biết rõ ông”.
Cụ Xội giận dữ, quay ống điếu qua bên phải:
- "Mày chỉ cho tao thằng nào trong Cục có khả năng làm Chỉ
Huy Trưởng BCHQV Vùng 3? Và mày sợ Đại Tá Bảy hả?
Để tao!”
Thế là ông quay điện thoại qua Đại Tá Bảy:
- "Ê Bảy, ‘moi’ cho Trung Tá Thông sang trình diện Bảy để
nắm Quân Vận Vùng 3, một type làm việc siêng năng và rất
giỏi trong ngành. Y mới tốt nghiệp khóa cao cấp Quân Vận ở
Hoa Kỳ về.”
Không biết câu trả lời ở đầu giây bên kia ra sao, ông cụ bỏ
điện thoại xuống và ra lệnh:
- "Xong rồi, sang trình diện Đại Tá Bảy sáng nay, rồi trở về
bàn giao Sở Chuyển Vận sau.”
Tôi không còn dám nài nỉ, ỉ ôi nữa... và cấp tốc thu xếp công
việc, chỉ thị cho nhân viên chuẩn bị giấy tờ bàn giao Sở
Chuyển Vận. Đồng thời về nhà thay quần áo chỉnh tề sang Bộ
Chỉ Huy 3 Tiếp Vận trình diện Đại Tá Trương Bảy
CHTBCH3TV.
Tôi lại Văn Phòng BCH3TV vào khoảng 10 giờ sáng, gặp Sĩ
quan Chánh Văn Phòng. Tôi yêu cầu ông trình với Đại Tá
CHT có tôi xin vào trình diện.
Tôi bước vào Văn Phòng, đứng nghiêm chào theo lễ nghi
quân cách và xưng cấp bậc tên họ cùng lý do vào trình diện
gặp Đại Tá lần này. Đây là lần thứ nhất tôi gặp Đại Tá Trương
Bảy.
Ông là người điềm đạm, tư cách lịch sự, nói năng nhỏ nhẻ từ
tốn. Ông mời tôi ngồi và hỏi chuyện học hành bên Mỹ. Cuối
cùng tôi đã thưa với ông:
- "Thưa Đại Tá, nói về khả năng, tôi không dám quyết đoán,
xin để nhường cho cấp Chỉ huy nhận xét. Riêng về thiện chí
làm việc, tôi xin hứa với Đại Tá, tôi sẽ cố gắng hết mình.”
Ông chấp nhận lời của tôi và nói:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- "Chúng ta hãy cùng cộng tác làm việc, nếu có gì khó khăn,
Trung tá hãy trực tiếp trình bày tôi, để chúng ta cùng nhau
giải quyết. Chúc Trung Tá thành công trong công việc”.
Tôi từ giã ông ra về và thầm nghĩ: "Đại Tá Bảy đâu có phải
là người khó khăn hách dịch như người ta bảo. Ông là người
hiểu biết công việc, làm việc đàng hoàng. Làm ra làm, chơi
ra chơi. Tôi có thể hợp tư cách làm việc của ông!”
Thực sự tôi lo sợ gặp phải một cấp chỉ huy như hồi 1962, khi
tôi thành lập Tiểu Đoàn 11 Vận Tải ở Đà Nẵng.
B, Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 là cấp
chỉ huy trực tiếp của Đại Tá Trương Bảy. Cũng năm 1970,
Quân Đội VNCH có lệnh tấn công các mục tiêu của Việt cộng
trên phần đất Campuchia. Đây là thời gian thử thách đối với
các đơn vị tác chiến và các đơn vị yểm trợ Tiếp Vận của
chúng tôi.
Tôi còn nhớ, một buổi họp quan trọng tại BCH3 Tiếp Vận
vào buổi sáng thứ Bảy. Đích thân Đại Tá Trương Bảy chỉ thị
cho các Đơn vị Tiếp Vận phải xây dựng (build up) ngay một
điểm Tiếp Liệu (Supply point) tại Trảng Bàng (Tây Ninh) để
yểm trợ cho các đơn vị tác chiến hành quân vượt biên.
Chỉ thị được ban ra, công tác phải hoàn tất trước 18 giờ cùng
ngày, vì Công Binh đã ủi đất thiết lập Điểm Tiếp Liệu sẵn
sàng. BCH Quân Vận Vùng 3 phải cung cấp xe vận tải cho
các đơn vị Quân y, Quân cụ, Quân Tiếp vụ, Quân nhu, Công
Binh v.v. theo nhu cầu, trước 12 giờ cùng ngày để các đơn vị
có thời gian lên hàng và đoàn xe tập trung về địa điểm ấn định
lúc 14 giờ cùng ngày, để được hộ tống lên Trảng Bàng đúng
thời gian ấn định.
Mãi tới 13 giờ mà đoàn xe Quân Vận biệt phái cho Liên Đoàn
3 Quân Cụ vẫn chưa lên hàng (Tôi vẫn có máy truyền tin theo
dõi các đoàn xe). Buộc lòng tôi phải trình cho Đại Tá Bảy
CHT BCH3 Tiếp Vận diễn tiến công tác của các đoàn xe.
Đại Tá Bảy điện thoại cho Sĩ Quan trực Liên Đoàn 3 Quân
Cụ, hỏi tại sao không lên hàng đoàn xe Quân Vận tăng phái?
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ông được Sĩ quan trực Quân cụ trình là không nhận được chỉ
thị gì của Đại Tá Liên Đoàn Trưởng Quân Cụ cả, mặc dù Đại
Tá NHĐ có tham dự buổi họp sáng nay tại BCH3TV.
Đại Tá CHT3TV muốn gặp Đại Tá Đ, thì ông được trả lời
Đại Tá Đ đang đi xem cuộc đấu bóng tròn quốc tế tại sân Vận
Động Cộng Hòa. Đại Tá Bảy đã phải chỉ thị cho Sĩ quan trực
Quân Cụ liên lạc với Sĩ quan Tiếp Liệu BCH3TV, để lên hàng
đúng những quân dụng cần thiết.
Riêng việc làm vô trách nhiệm của Đại Tá Liên Đoàn Trưởng
Quân Cụ đã bị Đại Tá Trương Bảy Chỉ huy Trưởng BCH3TV
phạt 15 ngày trọng cấm. Việc trừng phạt này đã làm xôn xao
trong Quân đội tại Trung ương, vì Đại Tá NHĐ là con rể của
Đại Tướng Dương Văn Minh, người đứng đầu trong cuộc
chính biến lật đổ và giết chết một cách mờ ám Tổng Thống
Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu năm 1963.
Dương Văn Minh cũng là người năm 1964 đã giết luôn ông
Ngô Đình Cẩn, một người bịnh hoạn bị bắt sau cuộc binh biến
1963. Bao nhiêu cú điện thoại của vài nịnh thần gọi về xin
Đại Tá Bảy tha phạt làm phước. Ngoài ra còn bao nhiêu câu
chuyện hăm dọa cho rằng Đại Tá Trương Bảy đang “rờ dái
ngựa”, “điếc không sợ súng”.
Đại Tá Bảy tỉnh bơ, ông chỉ làm nhiệm vụ của một cấp chỉ
huy gương mẫu, gìn giữ kỷ luật trong quân đội. Quân nhân
phải chấp hành mệnh lệnh một cách có kỷ luật, không vô
trách nhiệm, không bè phái, không ỉ quyền.
Mỗi lần NHĐ lên BCH3TV gặp Đại Tá Bảy, có khi ngay
trong buổi họp, cao hứng gọi Đại Tá Bảy bằng “Moi, Moi,
Toi, Toi”... Nhưng sau cú thấm đòn này, thì một tiếng: "Thưa
Đại Tá” hai tiếng “Thưa Đại Tá”.
Tuy nhiên tư cách hành sử của Đại Tá Trương Bảy đã làm
cho ông nổi tiếng trong Quân Đội và Quân Nhân các cấp kính
phục ông. Họ xem ông là một “thần tượng” về tác phong kỷ
luật, về tinh thần trách nhiệm trong công tác, về sự cứng rắn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
trong vấn đề chỉ huy. Tôi không được biết sau này Đại Tá
Trương Bảy có tha phạt cho ĐT NHĐ hay không.
Cuộc hành quân qua Campuchia ngày càng mãnh liệt. Điểm
Tiếp Liệu tại Trảng Bàng phải dời lên Krek (Campuchia) để
tiếp tế kịp thời cho các đơn vị hành quân. Các đơn vị Tiếp
Vận dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Trương Bảy CHT3TV đã
cố gắng hoàn tất nhiệm vụ một cách hoàn hảo, trong việc yểm
trợ cuộc hành quân vượt biên, đã làm cho Trung Tướng Đỗ
Cao Trí rất hài lòng.
C, Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, Vùng 3
Chiến Thuật và là Tư Lệnh cuộc Hành Quân. Ông đã tỏ ra rất
can đảm và mưu lược trong các cuộc hành quân. Ông là người
có tài và có uy trên chiến trường.
Suốt thời kỳ ông chỉ huy Quân Đoàn 3 Chiến Thuật, tình hình
tại QK3 rất yên ổn. Ông đã đẩy chiến tranh ra khỏi lãnh thổ
Vùng 3. Tôi còn nhớ một đêm vào khoảng 8 giờ tối, khi cuộc
hành quân đang diễn tiến tại Campuchia, Ông ra lệnh cho các
Trung Đoàn, thuộc Sư Đoàn 5 phải cấp tốc rút ra khỏi
Kongpong Thom trước 9 giờ đêm hôm đó với bất cứ giá nào.
Các Trung đoàn thuộc Sư Đoàn 5 sửng sốt nhưng phải thi
hành lệnh Trung Tướng một cách triệt để. Có đơn vị rút mà
không kịp lấy quân dụng kể cả đạn dược và xăng nhớt.
Tại Câu Lạc Bộ Sĩ quan và anh em binh sĩ đã phải bỏ dở ly
nước chanh và kể cả lon bia đang uống nữa vời. Hàng Quân
Tiếp vụ còn để lại y nguyên, các kho quân trang, quân cụ,
quân y .v.v... không thể nào di chuyển nổi trong thời gian quá
ngắn ngủi đó.
Quân nhân chỉ xách được Balô, cùng súng ống đạn dược và
phần lương khô cá nhân đã được phát sẵn, và tức tốc leo lên
xe di tản theo lệnh của Trung Tướng.
Bọn Việt cộng cũng sửng sốt, tuy nhiên chúng cho tiến quân
tức tốc vào chiếm vị trí Kongpong Thom. Biết bao nhiêu
chiến lợi phẩm đang chờ đợi chúng, nào thịt hộp, nào gà sấy,
nào bia, nước ngọt, thuốc lá Quân Tiếp Vụ… Chúng tha hồ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
hưởng lạc thỏa thê vì nhịn đói quá lâu, nay vớ được của béo
bở.
Đột nhiên 11 giờ đêm, Chiến đoàn thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù
đã được nhảy xuống trận địa Kongpong Thom, bao vây và
tiêu diệt gọn toàn thể Việt cộng đang say sưa hưởng lạc trong
KongPong Thom. Các Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 lại được
lệnh kéo về doanh trại trên đất Campuchia. Lẽ dĩ nhiên, các
đơn vị Tiếp Vận có nhiệm vụ trang bị lại cho Sư Đoàn 5
những gì đã thất thoát. Cộng sản khiếp sợ Đỗ Cao Trí về
“những chiến thuật lừa địch” bất ngờ như thế này.
Vào năm 1971, Điểm Tiếp Liệu Kreck được lệnh rút về quốc
nội tại Tây Ninh. Cuộc hành quân tạm chấm dứt vì đã đạt
được kết quả. Đại Tá Bảy và tôi bay lên Điểm Tiếp Liệu Krek
để kiểm kê số quân dụng cần triệt thoái.
Sau khi về Đơn vị, tôi trình lên BCH3TV một bản "Kế hoạch
triệt thoái quân dụng” (Plan d’enlèvement) từ Krek về Tây
Ninh. Kế hoạch triệt thoái này được đính kèm vào lệnh hành
quân của Quân Đoàn.
Tôi tiên đoán lệnh Hành Quân này sẽ bị tiết lộ ra ngoài, Việt
cộng thế nào cũng biết. Tôi yêu cầu Quân Đoàn cho mở
đường quốc lộ số 7 từ Krek về Tây Ninh trong thời gian ba
(3) ngày đêm, trong khi tôi chỉ cần hai ngày là hoàn tất việc
triệt thoái.
Theo chiến thuật của Việt cộng thì trong những cuộc hành
quân triệt thoái, bao giờ chúng cũng chờ đến ngày cuối, khi
đoàn quân giữ gìn an ninh đã mệt mỏi lơ là, chúng sẽ dồn lực
lượng phục kích tấn công.
Y như dự đoán của tôi. Trong ngày Thứ Ba, Đại Tướng Đỗ
Cao Trí đã gọi điện thoại cho Đại Tá Bảy và hỏi:
-"Đoàn xe Quân Vận bị phục kích, anh có biết không?”
Đại Tá Bảy xin 5 phút để xem lại tình hình. Ông gọi điện
thoại hỏi tôi:
- "Đoàn xe Quân Vận của anh bị phục kích, anh biết chưa?”
Tôi trả lời:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- "Dạ thưa Đại Tá, đoàn xe tôi đã về hết Tây Ninh và đang
chờ lệnh của Đại Tá.”
Ông có ý ngần ngại chưa tin, tôi liền móc đường giây điện
thoại vào máy truyền tin CB để ông trực tiếp nói chuyện với
Đại Úy Tạ Xuân Tắc, Trưởng Đoàn Xe. Đại Úy Tạ Xuân Tắc
đã trình với Đại Tá CHT3TV rằng:
- "Kính báo cáo với Đại Tá CHT BCH3TV, Đoàn xe Quân
Vận đã về Tây Ninh trong chiều hôm qua. Đoàn xe GMC đậu
trước Tòa Tỉnh Trưởng Tây Ninh. Còn đoàn xe Lowboy cho
đậu trong Trảng Lớn. Hôm nay tôi ra lệnh cho quân nhân tu
bổ xe và nghỉ ngơi tại chỗ. Chúng tôi đang chờ lệnh Bộ Chỉ
Huy Quân Vận Vùng 3 cho công tác ngày mai.”
Đại Tá Bảy rất hài lòng và trình lại sự việc cho Trung Tướng
Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn 3. Sau khi kiểm điểm lại, được biết
đơn vị bị VC phục kích là một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân.
Đúng là Việt cộng đang gặp phải một đoàn kiến lửa có khả
năng tác chiến hữu hiệu!
Qua sự việc này và thành quả của cuộc hành quân, tôi được
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn ân thưởng cho một huy chương
“Chiến công bội tinh” với ngôi sao vàng. Đồng thời nhân dịp
này, Đại Tá Trương Bảy cũng đề nghị tôi thăng cấp bậc Đại
Tá theo đúng cấp bậc ấn định trong Bảng Cấp Số.
Đại Tá LQĐ được chỉ định chức vụ Cục Trưởng Cục Quân
Vận, thay thế Đại Tá Trần Văn Xội về hưu, cũng phải đồng ý
về đề nghị này của Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận.
Năm 1969, ngày 27 Tháng 8, bà xã cho tôi thêm một người
con trai, đó là Nguyễn Đình Trường (Nickname Cu Ti), người
con trai út của vợ chồng tôi.
14, THAM DỰ KHÓA CHỈ HUY VÀ THAM MƯU TẠI
ĐÀ LẠT:
Trong năm 1972, tôi được chỉ định theo học khóa Chỉ Huy và
Tham Mưu tại Trường Đại Học Quân Sự tại Đà Lạt. Tôi xin
mở một dấu ngoặc là thời gian đó, Đại Tá Trương Bảy đã
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
được thuyên chuyển lên làm Tổng Cục phó Tổng Cục Tiếp
Vận tại Bộ Tổng Tham Mưu, đặc trách về nhân viên.
Đại Tá Trần Quốc Khang, Chỉ huy phó BCH3TV lên thay thế
làm CHT/BCH3TV. Đại Tá Trần Quốc Khang là người nhu
mì, hiền hậu, ăn nói nhỏ nhẹ, ông như là một quan văn hơn
quan võ. Đại Tá Khang nói với tôi:
- “Anh Thông yên trí lên Đà Lạt học, tôi sẽ can thiệp với Tổng
Cục Tiếp Vận, sau mãn khóa sẽ trở về lại nhiệm sở cũ là BCH
Quân Vận Vùng 3”.
Ông đã làm văn thư thật, một bản thông báo cho Cục Quân
Vận và một bản thông báo cho BCH/QVV3. Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Trưởng TCTV kiêm TMT Liên
Quân Bộ TTM đã phê vào văn thư chấp thuận. Tôi yên chí là
sẽ trở về nhiệm sở cũ, vì còn Đại Tá Trương Bảy, Tổng Cục
Phó TCTV, người quyết định mọi việc thuyên chuyển trong
ngành Tiếp Vận.
Tôi lên Đà Lạt, được Nha Hỏa Xa Việt Nam cấp cho một
villa, ở gần Trường Yersin, để tạm trú trong thời gian thụ
huấn tại đây. Đồng thời theo chỉ thị của Cục Quân Vận, Đại
Đội Vận Tải địa phương cấp cho tôi một xe jeep và tài xế để
xử dụng hằng ngày.
Khóa Chỉ huy và Tham Mưu năm 72 này gồm có khá đông
Sĩ quan sinh viên thuộc các ngành Quân Binh Chủng theo
học. Sau khi mãn khóa, tôi được hân hạnh xếp hạng 10 người
đầu trong danh sách tốt nghiệp.
Khi học được hai tháng, tôi và một số Sĩ quan khác trong khóa
học, được Văn Phòng Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Chỉ huy
trưởng Trường, cho mời lên Văn Phòng trình diện. Tại đây
Trung Tướng Trị đã nhân danh Trung Tướng CHT Trường,
thừa lệnh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa kiêm Tổng Tư
Lệnh Quân Đội gắn lon cấp bậc Đại Tá cho tôi vừa được vinh
thăng. Sau lễ gắn lon, tôi hân hạnh cám ơn Trung Tướng và
trở về lớp học trong sự vỗ tay chào mừng của các anh em
đồng khóa học.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
A, Bị Sao Quả Tạ Chiếu:
Trong thời gian tôi thụ huấn khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Đà
Lạt, thì tại Sài Gòn, Đại Tá LQĐ, Cục trưởng Cục Quân Vận,
muốn lấy lại chức vụ Chỉ Huy Trưởng BCH Quân Vận 3 của
tôi để bổ nhiệm một người khác (nghe tin đồn vì có sự đút
lót?). Muốn hất cẳng tôi, họ phải sắp đặt mưu mô tố cáo tôi,
nào là đã tham nhũng tiền hỏa đầu vụ, bắt lính tráng về dạy
con cái trong gia đình, cho lính kiểng ở nhà để lấy tiền, v.v...
Tuyệt nhiên không đề cập đến các nhà thầu cho Quân Đội
trong phạm vi Vùng 3 Tiếp Vận. Họ tố cáo tôi lên tận Phủ
Phó Tổng Thống (Trần Văn Hương) đặc trách bài trừ tham
nhũng.
Tôi nghĩ rằng năm 1972, tôi đang bị sao quả Tạ chiếu. Đại Tá
LQĐ là một người bạn của tôi khi tôi mới vào Quân Đội năm
1951 với cấp bậc Trung sĩ đồng hóa và thuyên chuyển ra làm
việc tại Quận Bắc, An Lỗ, như tôi đã trình bày trên. Trong
khi đó, LQĐ cũng gia nhập Quân Đội với cấp bậc Hạ sĩ phó,
làm việc cho TĐ 8 Bộ Binh đóng bên bờ phía Bắc Cầu An
Lỗ. Chúng tôi thường gặp nhau, trò chuyện thân mật. Khi đã
là Sĩ quan, LQĐ cưới vợ, chúng tôi là những bạn thân, cùng
sát cánh với anh xuống Hội An lo vấn đề hôn lễ. Ấy thế mà
anh trở mặt, coi anh em không ra gì khi anh làm lớn, có chức
quyền trong tay. Chức vụ Chỉ Huy Trưởng Quân Vận Vùng
3 là một chức vụ mà cấp trên (Đại Tá Trần Văn Xội) chỉ định,
tôi đã có thoái thác từ trước như đã trình bày nhưng không
tránh được. Tôi đâu có mua quan bán chức! Tại sao ông lại
hại tôi bằng cách vu khống, dựng đứng lên những chuyện
tham nhũng do bịa đặt bẩn thỉu! Có thể dựng ra những chuyện
không hề có !
Việc nầy làm tôi còn nhớ trước thời gian tôi đi học khóa Chỉ
Huy Tham Mưu ở Đà Lạt, một hôm LQĐ gọi tôi xuống Văn
Phòng Cục QV. Ông ta nói thẳng với tôi:
- "Toa có nhiều nhà thầu, kiếm cho moi một ít tiền tiêu.”
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tôi ngạc nhiên đến sửng sốt về việc làm tiền một cách trắng
trợn như vậy. Tôi đã trả lời:
- "Thưa Đại Tá, các nhà thầu của BCHQV3 đều đi thẳng với
Cục và Tổng Cục. Họ có liên lạc gì với tôi đâu. Nếu có
chuyện gì thì Cục hoặc Tổng Cục đã ra lệnh cho tôi rồi. Tôi
đâu có tiền gì ngoài tiền lương Quân Đội để nuôi gia đình.
Tuy nhiên, nếu Đại Tá nói vậy, tôi cũng sẽ cố gắng về đơn vị
coi lại xem sao”.
Khi trả lời như vậy, tôi đã nghĩ trong đầu rằng: BCHQV/V3
được BCH3TV cho một số tôn cũ của doanh trại Úc tại Vũng
Tàu. Chúng tôi mang về để cho anh em quân nhân lợp nhà,
vì nhà tranh hay bị hỏa hoạn về mùa nắng và hay bị ẩm dột
về mùa mưa. Khi về tại BCHQV3, tôi gọi Thiếu Tá Hiền nói
về câu chuyện nầy. Hiền nói: “Sao mà tệ vậy!”. Tôi hỏi ý kiến
anh Hiền phải làm sao? Thiếu Tá Hiền đề nghị với tôi là bán
rẻ cho binh sĩ một số tôn, thu vào khoảng $20,000 ngàn, thay
vì bỏ quỹ thì đem cho LQĐ.
Tôi đồng ý làm như vậy. Sáng hôm sau tôi gặp LQĐ tại bàn
giấy, đưa cho y hai chục ngàn tiền bán tôn. Y bỏ xấp tiền vào
hộc bàn mà chẳng thèm nói với tôi một lời nào, dù là cám ơn.
Tôi chào và rút lui gấp về đơn vị.
Trở lại vấn đề tố cáo tôi để giành lại chức vụ CHTQV/V3 bán
cho một Sĩ quan khác với giá 5 Triệu Đồng (Theo tin báo cho
tôi). Tôi bị Cục An ninh Quân Đội, Tổng Thanh Tra Quân
Lực phỏng vấn, điều tra đủ điều, nhưng không có bằng chứng
và chứng liệu hậu thuẫn các lời tố cáo. Trong khi đó Tổng
Cục Tiếp Vận, Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận đều có ý kiến tốt,
thuận lợi cho tôi. Rút cuộc, những lời tố cáo vớ vẩn vô bằng
chứng nầy đã bị các cơ quan điều tra xếp vào sọt rác. Tôi vẫn
tiếp tục ở nhiệm sở cũ (BCHQV/V3).
Sau đó LQĐ mất chức vụ Cục Trưởng, y xin ra BCH5TV,
nhưng rút cuộc cũng bị tuột dù luôn. Anh ta đành phải về ngồi
ở Phòng Thanh Tra Tổng Cục Tiếp Vận.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Trong đời sống quân ngũ, các cấp chỉ huy trực tiếp của tôi,
tôi đều kính trọng và mến phục. Như bên Tiếp Vận, Chuẩn
Tướng Trương Bảy, Đại Tá Trần Quốc Khang. Bên Quân
Vận có Đại Tá Trần Văn Xội, Đại Tá Nguyễn Tử Khanh v.v..
(Tôi chỉ nêu tên vài người) là những vị chỉ huy đàn anh gương
mẫu, biết nâng đỡ khuyến khích đàn em mà tôi rất quí mến
và kính phục.
Còn bên Tiếp Vận và Quân Vận như hai anh em chú bác, có
hai vị chỉ huy chỉ lo quyền lợi và danh vọng cá nhân, nịnh
trên ép dưới, không xứng đáng với cấp bậc và trách vụ được
giao phó. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị chiến bại và mất
nước một phần cũng vì những người này.
B, Cấp Chỉ Huy Gương Mẫu:
Đề cập đến vấn đề chỉ định nhân sự giữ chức vụ trong ngành
chuyên môn, tôi xin đặc biệt ngưỡng mộ vinh danh Đại Tá
Trần Văn Xội, người anh cả trong binh chủng Quân Vận
QLVNCH. Ông là một cấp Chỉ huy trong sạch, đứng đắn,
gương mẫu mà quân nhân các cấp đều thương mến và kính
phục.
Trong năm 1962, ông chỉ định tôi vào chức vụ Tiểu Đoàn
Trưởng Tiểu Đoàn 11 Vận tải, sau này đổi lại thành Liên
Đoàn 1 Vận Tải. Trong khi đó, có một Sĩ quan khác cùng
ngành, cậy vào uy lực của Văn Phòng Cố Vấn Chỉ Đạo Miền
Trung và Tòa Tổng Giám Mục Huế, để được chỉ định vào
chức vụ này. Tôi đã trình với cụ Xội là cho tôi miễn đảm
nhiệm chức vụ này vì có kẻ đang ngắm nghé với tư thế mạnh.
Tôi sợ va chạm đến tranh chấp quyền lực, Cụ Xội sẽ ảnh
hưởng chăng? Cụ Xội cương quyết:
- “Thằng đó làm gì được, khả năng chỉ huy yếu kém, chuyên
môn binh chủng không rành, như vậy đơn vị tương lai sẽ ra
sao? Mầy phải gánh lấy trách nhiệm cấp trên giao phó. Tao
sẽ gặp cậu Cẩn trình bày sự thật.”
Tôi kính phục Cụ về sự cương quyết phục vụ cho tiền đồ
ngành Quân Vận đang do Cụ trách nhiệm, mà chẳng hề nao
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
núng trước cường quyền thế lực. Trong khi đó tôi chẳng hề
mảy may vận động hay ham muốn được chỉ định, mà chỉ lo
lắng cho sự an ninh của Cụ mà thôi.
Rốt cuộc Cụ thắng và tôi được chỉ định làm Tiểu Đoàn
Trưởng Tiểu Đoàn 11 Vận Tải, như đã trình bày ở đoạn trên.
Tuy nhiên khi kiểm chứng lại thì những tin đồn về áp lực của
Văn Phòng chỉ đạo để nâng đỡ Sĩ quan kia, đó chỉ là do sự
phóng đại của chính đương sự.
Cũng trong khoảng thời gian sau đó, có một việc nhớ đời, đó
là Cụ Cục Trưởng ra thanh tra đơn vị tân lập của tôi ở Đà
Nẵng để quan sát mức độ Đơn vị tân lập tiến triển ra sao.
Trong valise, ngoài các bộ quân phục, Cụ Bà xếp cho Cụ Ông
một bộ áo quần civil, mà cái áo chemise thì bị hư sau lưng.
Cụ Ông bảo:
- "Bà này không muốn cho tao đi chơi, sắp áo quần lộn xộn.”
Tôi phải kiếm cái áo khác cho Cụ. Rờ đến túi tiền, chỉ còn
một số ít, Cụ phân bua:
- “Mày có tiền, đưa tao mượn vài ngàn, để còn lấy le với em
út chớ mầy!”
Tôi đưa cho Cụ một số tiền dằn túi. Ấy thế mà khi tôi về công
tác tại Sài Gòn, Cụ giao trả lại cho tôi số tiền hôm ấy. Cử chỉ
của Cụ làm tôi cảm động, ngượng ngùng, kính trọng và
thương Cụ cho đến bây giờ. Cụ chẳng sách nhiễu ai một đồng
xu. Cụ nói mượn ai thì trả đàng hoàng.
Cụ sắp đặt người vào các chức vụ theo khả năng, theo uy tín
lãnh đạo chỉ huy. Cụ không hề đem chức vụ trong Quân Đội
ra mua bán như những người tham nhũng “mua quan bán
tước.”
Chức vụ Chỉ huy Trưởng Quân Vận Vùng 3 của tôi cũng bị
cụ "sang số ống điếu” như tôi đã trình bày trên đây. Do đó
cuộc đời của Cụ rất thanh bạch, ngoài số tiền lương Quân
Đội, Cụ không còn có một lợi tức nào khác.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Cũng nhờ tận tụy làm việc có công với quân đội, tôi đã được
tưởng thưởng một Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương
trong năm 1974.
Trong khi tôi viết mấy hàng này, cụ Xội năm nay đã hơn 100
tuổi, nhưng vẫn còn khỏe mạnh, đang định cư tại Canada.
Chúng tôi nguyện cầu cho Cụ Ông và Cụ Bà sống lâu sống
khoẻ, và tôi ước nguyện có dịp gặp lại các vị chỉ huy khả kính
như Cụ Trần Văn Xội, là cấp chỉ huy rất đáng kính trọng của
tôi.
C, Đồn Trú Tại Căn Cứ Long Bình:
Bộ Chỉ huy Quân Vận Vùng 3 đã phải di chuyển lên Căn Cứ
Long Bình, sau khi Quân Đội Mỹ có chương trình rút quân
về nước.
Tại Long Bình, BCH/QVV3 được chiếm đóng trong một
Building nằm bên phải của BCH3TV. Đại Tá Trần Quốc
Khang, Chỉ Huy Trưởng BCH3TV kiêm Chỉ Huy Trưởng
Căn Cứ Long Bình, đã chỉ định tôi kiêm nhiệm chức vụ Chỉ
Huy Phó Căn Cứ Long Bình, đặc trách về an ninh phòng thủ.
Căn Cứ Long Bình có một chu vi quá dài là 36 cây số do một
số Đại Đội Địa Phương Quân đảm trách phòng thủ. Trung Tá
Quý Liên Đoàn Trưởng, có nhiệm vụ chỉ huy Liên Đoàn Địa
Phương Quân này. Hằng đêm, tôi và Trung Tá Quý thường
đi tuần tra việc phòng thủ trong Căn Cứ, cùng sắp đặt các toán
phục kích, một việc làm rất mệt nhọc và mất ngủ. Mọi người
ra vào Căn cứ đều phải có thẻ (Pass). Quân nhân phải có thẻ
Quân nhân, dân sự phải có thẻ dân sự.
-----------------------
Một sự tình cờ tôi đã được biết hơi trễ. Đó và vào khoảng
năm 1979, tôi đang làm Manager cho một tiệm ăn
(Restaurant) của chú Minh tại Tyson Corner (Virginia). Tôi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
gặp ông bà Hoàn có hãng thầu “clean up” cho các building
Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn. Sau này, ông có văn phòng cung cấp
tài chánh cho những ai cần (financial Office). Bà Hoàn làm
tiếp viên cho nhà hàng tôi trông coi.
Bà có bảo với tôi rằng đi làm cho vui, cho khuây khỏa ở nhà
buồn lắm. Trong một câu chuyện qua lại, tôi hỏi ông bà ngày
xưa khi còn ở Việt Nam, ông bà làm gì? Ông bà cho tôi biết
“Chúng tôi đấu thầu trong Căn Cứ Long Bình, trực tiếp với
Tổng Kho Long Bình.” Tôi đặt lại câu hỏi ngay:
- "Như vậy thì anh chị phải có giấy phép ra vào Căn Cứ do
tôi ký.”
Anh trả lời rằng:
- "Đúng như vậy, chúng tôi phải mất một triệu hai trăm ngàn
mới có được hai Spécial Passes!”
Tôi khá ngạc nhiên, hỏi lại:
- "Ai lấy tiền anh?”
Ông Hoàn cho biết:
- “Sĩ quan An Ninh nói rằng lấy tiền để giao cho cấp trên”!
Tôi quá ngán, cấp cao nhất trong việc cấp thẻ (Pass) ra vào
Căn Cứ Long Bình là tôi, mà tôi chẳng hay biết gì cả. Mỗi
lần cấp những thẻ đặc biệt như vậy, Sĩ Quan An Ninh Quân
Đội Căn Cứ đem thẻ vào trình ký. Tôi hỏi:
- "Đã điều chuẩn an ninh xong chưa?”
Y trả lời:
- “Đã phối hợp với Tổng Nha Cảnh Sát, Phòng Nhì TTM,
Cục An Ninh Quân Đội, v.v. và mọi việc đều tốt, hơn nữa
những người này đấu thầu cho An ninh Quân Đội đã được
điều tra an ninh trước nữa rồi”.
Sự việc chỉ có vậy, và tôi đã ký các thẻ ấy cho họ. Có thẻ
trong tay, Quân Cảnh gác cửa ra vào mới để cho các nhân
viên dân sự ra vào Căn Cứ thong thả. Chi An Ninh Quân Đội
Long Bình do Trung Úy Đ. làm Trưởng Chi, đã lợi dụng lòng
tin tưởng của chúng tôi để làm tiền dân chúng một cách bất
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
hợp pháp, làm cho người dân hiểu lầm coi thường các cấp chỉ
huy trong Quân Đội.
Sau ngày 30/04/75, Trung Úy Đ. bị kẹt lại và bị đi tù cải tạo.
Trong một dịp họp mặt Gia Đình Quân Vận tại Nam Cali, tôi
được gặp các cựu Quân Vận như Đại Úy Lê Văn Sang (hiện
anh đang làm chủ một cơ sở chuyên supply về Nail rất thành
công) anh CNN Nguyễn Ngọc Chấn là một cây bút tên tuổi
trong ngành điểm phim trên nhiều tạp chí hải ngoại… Các
anh cho biết Trung Úy Đ. đã sang Hoa Kỳ, đang buôn bán
hàng từ Hồng Kông qua Mỹ, hiện đang định cư tại Nam
California.
Tôi đã bất ngờ gặp gỡ anh Đ trong một lần hy hữu. Anh lúng
túng khi gặp tôi, và trong câu chuyện anh đã đề cao tôi là một
Sĩ quan trong sạch trước mặt anh Đại Úy Sang. Trong khi tôi
không hề nhắc đến chuyện cũ.
Trong cuộc họp mặt gia tộc họ Nguyễn tháng 7/2002 tại Nam
California, tôi được anh Sang cho biết anh Đ. đã bị “Stroke”
và bán thân bất toại. Tôi chưa có dịp thăm lại anh ta. Dù sao
thì cũng cầu xin ơn Trên ban phước lành cho anh chóng bình
phục.
-------------------------------
D, Một Tai Họa: Còi hụ Long An
Trung Tá Lê Bá Tòng, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 3 Vận
Tải trình báo cho tôi biết là hai chiếc xe GMC của Liên Đoàn
3 Vận Tải biệt phái cho Quân Vận Khu Vũng Tàu đã bị bắt
giữ tại Long An vì chở hàng lậu.
Tôi chỉ thị cho Trung Tá Tòng theo dõi tình hình và tiếp tục
trình cho tôi biết kết quả. Nhân tiện là ngày cuối tuần, Trung
Tướng Đồng Văn Khuyên lên Long Bình chơi, có sự hiện
diện của Đại Tá Trần Quốc Khang, CHT Bộ CH3TV, tôi đã
diện trình sự việc sơ khởi cho hai vị chỉ huy cao cấp của tôi.
Tức thì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, với tư cách Tham
Mưu Trưởng Bộ TTM, ra lệnh cho Phòng Nhì Bộ TTM và
Cục An Ninh Quân Đội điều tra sự việc và trình cho ông biết
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
để ông trình lên Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng có biện
pháp Kỷ luật với kẻ phạm pháp.
Sự việc đối với tôi kể như hoàn tất bổn phận, chỉ còn việc
theo dõi Liên Đoàn 3 Vận Tải kéo xe về. Chờ lệnh của Bộ
TTM (Tổng Cục Tiếp Vận) có biện pháp kỷ luật đối với quân
nhân vi phạm kỷ luật. Sau đó tôi còn được tin là một số quân
nhân vô kỷ luật đã dùng nhiều xe Quân Đội chuyên chở hàng
lậu, trong đó có hai xe của Liên Đoàn 3 Vận Tải như đã đề
cập.
Đoàn xe được hộ tống và dẫn đầu bởi xe Quân Cảnh, có còi
hụ. Các cấp chỉ huy đơn vị liên hệ đều bị phạt hai cấp trực
tiếp vì thiếu kiểm soát. Một thời gian sau, tôi nhận được giấy
của Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Bộ
TTM phạt tôi 30 ngày trọng cấm vì thiếu kiểm soát thuộc cấp.
Tôi buồn cười khi nhận được giấy phạt. Các ông lớn muốn
giở trò gì đây? Theo tin đồn thì chính vợ Đại Tướng Cao Văn
Viên, biệt danh Chị Tư tổ chức cuộc buôn lậu có còi hụ này.
Công việc đổ bể, lẽ ra chính ông Đại Tướng phải tự phạt mình
vì không kiểm soát vợ con, bị vợ lợi dụng chức vụ của chồng,
lạm dụng phương tiện của Quân Đội để buôn lậu, mua quan
bán chức trong hàng quân nhân, thì lại đi phạt những quân
nhân vô tội để che đậy tội lỗi của mình, lấy rổ thưa che mắt
thánh!
Hơn nữa, theo nguyên tắc phạt hai cấp chỉ huy trực tiếp, thì
Đại Tướng đã phạt sai nguyên tắc rồi. Vì từ người quân nhân
phạm lỗi lên Đại Đội Trưởng là một cấp, tiếp theo lên Liên
Đoàn Trưởng Vận Tải là hai cấp. Tại sao lại phạt lên đến
BCH Quân Vận Vùng? và nghe đâu còn phạt lên đến Đại Tá
Trần Thiện Thành, Cục trưởng Cục Quân Vận nữa!
Tôi nghĩ sao không phạt luôn lên cả Đại Tướng Tổng Tham
Mưu Trưởng QLVNCH? Phần phạt này có công minh không?
Hay mục đích tung hoả mù làm rối loạn tin tức theo lệnh Bà?
Đáng lý ra tôi đã khiếu nại cái hình phạt kỳ quái của ông Đại
Tướng, nhưng vì tình hình lúc đó quá sôi động. Các cấp chỉ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
huy có lương tâm đang dồn hết tâm trí vào đại sự mất nước,
vào nhiệm vụ trước mắt cần phải giải quyết, nên tôi quăng
vào sọt rác tờ giấy phạt “kỳ quái” này.
Ngài vừa ký giấy phạt xong thì cũng “dzọt di tản chiến thuật”
luôn, bất cần kiểm soát lệnh phạt của mình. Chúng tôi xin
chấm dứt câu chuyện còi hụ Long An ở đây, vì càng viết càng
đưa ra cái xấu xa của vài cấp Chỉ huy thiếu công bằng & đạo
đức!
E, Căn nhà tạm trú trong Căn Cứ Long Bình. Tôi được
cấp một villa cỡ nhỏ (hai phòng ngủ, hai cầu tiêu, bếp, máy
lạnh, phòng ăn, phòng khách salon, Frigidaire với đầy đủ
dụng cụ) mà trước đây khu này dành cho các Sĩ quan cấp
tướng của Mỹ khi họ còn đóng quân tại VN.
Vì phải hiện diện hầu như thường trực tại Căn Cứ Long Bình
ít khi về Sài Gòn, nên hằng tuần gia đình tôi lên đây chơi. Tôi
có sở thích trồng trọt, do đó tôi trồng đủ loại cây chuối, rau,
ớt xung quanh vườn. Trước mặt căn nhà của tôi là một căn
nhà để trống dành cho quan khách. Đặc biệt Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên và gia đình thường mỗi weekend về ở đây.
Bà hay chạy xe đạp với các con tôi, bà còn nuôi gà lấy trứng
nữa.
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Cục Trưởng Tổng
Cục Tiếp Vận kiêm nhiệm chức vụ Tham Mưu Trưởng Bộ
Tổng Tham Mưu. Ông là một cấp tướng có uy quyền đầy
người. Tuy nhiên theo tôi nhận xét, ông sống rất bình dân,
đơn sơ. Ông chỉ có mỗi tật là khi nổi nóng hay quát tháo to
tiếng, bất cứ chỗ nào…, làm cho một số người không hài
lòng!
Ông bà rất thích trồng cây, chăn nuôi. Do đó ông đã đề ra
phong trào “Tay súng tay cày” và “Chương Trình nông mục”
trong Quân Đội. Trong Căn Cứ Long Bình đất đai có thể
trồng trọt nhiều quá, đã bị bỏ hoang lâu ngày. Nếu cố gắng
khai thác, lợi tức thu vào không nhỏ.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tôi được chỉ định làm chủ tịch “Chương trình nông mục
Quân Đội” trong căn cứ. Tôi phân chia đất cho các đơn vị để
canh tác. Nhiều đơn vị hưởng ứng trồng. Tuy nhiên, vấn đề
trở ngại lớn nhất là thiếu nước để tưới hoa màu. Theo câu nói
của nhà nông có kinh nghiệm trong vấn đề trồng trọt thì “Nhất
nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Do đó, nếu không cung
cấp đầy đủ nước, cây cối không thể đâm chồi nảy lộc và tăng
trưởng được.
Ngoài việc trồng hoa màu, còn có vấn đề chăn nuôi. Vì căn
cứ quá rộng lớn, phần đất bên trong khó có thể kiểm soát hết
được. Đặc biệt là dưới các con suối. Bọn du kích Việt cộng
thường lợi dụng các con suối um tùm này để ẩn náu.
Ban đêm chúng bung ra đi phá hoại, ngày về nằm bên suối
nghĩ ngơi. Tôi, với tư cách Chỉ Huy Phó Căn Cứ Long Bình,
đặc trách về an ninh phòng thủ. Sau khi thảo luận với Đại Tá
Trần Quốc Khang, tôi đã chỉ thị cho các đơn vị phải mua một
hay hai con bò cho đơn vị mình.
Riêng cá nhân tôi đã mua rất nhiều bò. Đàn bò này phải được
canh giữ gọi là bò chiến thuật. Mỗi đơn vị cung cấp một quân
nhân với đầy đủ vũ khí đạn dược. Về mùa khô, đàn bò ăn theo
các con suối, số quân nhân với súng ống đạn dược đi theo
sau. Bọn du kích Việt cộng bị động ổ, bắt buộc phải di chuyển
ra khỏi Căn Cứ. Do đó tình hình phá hoại của Việt cộng đã
giảm thiểu tối đa và không còn khả năng thực hiện. Ngoài ra
tôi nuôi rất nhiều dê và trừu.
Tôi mở một dấu ngoặc để nói chuyện tếu về con trừu của
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên. Số là có một ông Chỉ huy
Trưởng nào đó có một con trừu đực to lớn, đã tặng cho Trung
Tướng ĐVK con trừu khỏe mạnh đó.
Trung tướng thả nó sống trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.
Vì chỉ có một mình, con trừu đực này chạy lung tung đi tìm
các con trừu khác cho có bạn, vì loài vật thường sống thành
đàn. Nhất là trừu đực thích đi tìm các con trừu cái.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Chuyện buồn cười xảy ra... Mỗi sáng thứ hai, Bộ TTM có tổ
chức chào cờ trọng thể, nhân viên thuộc các Phòng Sở trong
Bộ TTM tập họp tại sân cờ. Khi quân nhân các cấp đã chỉnh
tề sẵn sàng hàng ngủ tại sân cờ. Hai cô Nữ quân nhân có mặt
tại cột cờ để thượng kỳ theo lệnh của vị chỉ huy buổi lễ. Bỗng
nhiên con trừu đực của Trung tướng Khuyên xuất hiện, nó
chạy thẳng đến cột cờ. Một trong hai cô nữ quân nhân mặc
áo trắng, với chiếc váy dệt bằng len lông trừu. Thế là con trừu
đực đánh hơi vào cái váy của nữ quân nhân đang kéo cờ, và
trong chớp mắt nó ngoạm vào cái váy của cô nữ quân nhân,
xé toạc ra và tha váy chạy mất.
Cô nữ quân nhân chỉ còn cái quần lót, e thẹn muốn bỏ chạy,
mà không biết phải chạy đi đâu, làm cho mọi quân nhân cười
ré lên. Sự việc làm cho buổi lễ chào cờ sáng thứ hai
mất sự trang nghiêm trang trọng. Một nữ quân nhân khác lên
cột cờ thay thế cô bị mất váy.
Sau lễ chào cờ, Trung tướng đã gọi điện thoại lên Căn cứ
Long Bình, nhờ cho người lên Bộ TTM bắt con trừu đực đem
về Căn Cứ. Trung Tướng bảo rằng:
- “Tôi xin gửi con Trừu đực với đoàn trừu của các anh tại
Long Bình”.
Tôi cho xe GMC và 4 quân nhân lên bắt con trừu đực của
Trung Tướng về Long Bình. Khi được thả vào đoàn trừu của
căn cứ, nó hung hăng chạy đi báng tất cả các con trừu đực
khác của tôi. Có nhiều con bị thương tích, làm cho đàn trừu
đàn dê chạy tán loạn, mất hết trật tự.
Tình hình này coi không ổn, nên một tháng sau, tôi tổ chức
bữa tiệc ăn thịt trừu, khách mời lên đến cả trăm người. Buổi
tiệc được tổ chức tại sân Tennis Căn Cứ Long Bình. Tôi phải
triệu thỉnh đầu bếp của Bác sĩ Nhiều từ Sài Gòn về nấu.
Tôi quyết định bắt con trừu đực của Trung Tướng Khuyên
làm thịt vì nó phá quá, chịu không nỗi..
Nó cai quản cả đàn cừu cái và quản lý luôn cả đàn dê cái. Mỗi
buổi sáng, nó đứng chận nơi cửa ra chuồng. Không có một
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
con trừu cái hoặc dê cái đi ra mà không qua tay nó. Đối với
các trừu đực và dê đực, nó húc bể cả sừng, gãy cả chân, con
nào cũng bị thương, bị bệnh. Vì vấn đề an ninh cho đàn dê
trừu, tôi quyết định nó phải được làm thịt để đem lại thanh
bình cho đàn dê trừu của chúng tôi.
Sau này, Trung Tướng có hỏi, thì bắt một con trừu khác cho
Trung Tướng cũng được.
Nếu Trung Tướng có đọc bài này, xin Trung tướng thông cảm
và tha lỗi cho đàn em. Tuy nhiên, trong bữa tiệc Trung tướng
có hỏi:
- "Con trừu của moi, nay ra sao rồi?”
Tôi đã chuẩn bị trước và cho một quân nhân trả lời :
- “Thưa Trung Tướng, nó vẫn đi ăn theo đàn trừu của Căn
Cứ.”
Thế là huề cả làng. Trường hợp Trung Tướng muốn đi xem,
thì tôi chỉ đại một con trừu đực nào to béo là xong chuyện.
Cuộc di tản tị nạn ra ngoại quốc, tôi đã mất một đàn bò “Bô”
giống Ấn Độ. Mỗi năm chúng sản xuất cho tôi trên chục con
bò con, và gần cả đàn trừu, dê, dê bách thảo. Toàn là giống
tốt. Tôi mất về bò dê tính ra mất cả gần mười triệu đồng Việt
Nam lúc bấy giờ.
Tuy nhiên cũng nhờ vào đàn bò này, những ngày cuối cùng
của tháng 4 năm 1975, Trung Tâm Xã Hội Quân Đội Long
Bình mới có chất tươi cho Quân nhân các cấp chạy loạn từ
Vùng 1, 2, 5 vào Vùng 3.
Quân nhân có miếng ăn đầy đủ dinh dưỡng tại Trung Tâm Xã
Hội Quân Đội Long Bình. Những ngày chót cuối tháng 4,
TTXHQĐ LB không còn mua được gạo tại kho Quân Nhu,
không mua được rau và thực phẩm thịt cá ở ngoài chợ. Do đó
tôi phải giải quyết thực phẩm cho Trung Tâm.
Tôi cho xe GMC chạy về Cổ Loa (nhà của tôi) lấy gạo. Tôi
có hơn một tấn rưỡi gạo do bà xã Hạnh và các con tự chăm
lo trồng luá ngoài Sông Vĩnh, và cả ngay trong căn cứ Long
Bình. Ngoài ra, tôi ra lệnh bắt bò, heo của tôi trong Căn Cứ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
làm thịt cung cấp cho Trung Tâm hằng ngày. Kể ra tiền gạo,
tiền thực phẩm bò, heo, gà cung cấp cho Trung Tâm những
ngày không còn có chợ, đã làm hao tốn rất nhiều tiền túi do
riêng tôi cung cấp.
Vì lẽ những ngày chót, lính tráng chạy về Long Bình quá
đông. Họ chạy về, vào ăn tại Trung Tâm mà nhiều người
không có tiền. Chẳng lẽ đuổi anh em đi chỗ khác chăng? Làm
thế thì tội nghiệp cho họ quá… Thôi thì đành lo cho anh em
ăn, sau này sẽ tính. Nước mất, nhà tan, tính với toán quá cũng
chẳng lợi ích gì… phải giúp người trước mắt đã!
Tôi mất của, dù chưa biết sẽ khiếu nại với ai? Mà lúc đó chỉ
biết đưa ra những thực phẩm mình có để giúp quân… Chỉ có
Trung Tướng Khuyên, Đại Tá Khang mới hiểu được hoàn
cảnh của tôi, là những vị ra lệnh cho tôi thành lập Trung Tâm
XH Quân Đội LB. Chúng tôi đã hoạt động Trung Tâm cho
đến ngày chót của tháng Tư năm 1975. Ngày tôi lên trực
thăng chạy loạn mới đóng cửa.
Anh em Quân nhân và dân sự đã đau buồn đến chảy cả nước
mắt. Trong Căn Cứ, đàn heo tôi đã cung ứng cho TT Xã Hội
QĐLB. Chỉ còn lại một hai con béo bự chưa làm thịt, còn bò
và dê trừu thì vô số kể, gần cả một trăm con cho mỗi loại. Có
thể kể hằng mấy chục con bò mà tôi đã chọn mua giống Ấn
Độ, loại số 1. Ai đã bắt những con vật này? Nếu là anh em
Quân nhân hay bà con nghèo khó quanh khu vực liên hệ trong
Căn Cứ Long Bình giữ lấy, thì thật là tốt.
Tôi đã bắt đầu nuôi số bò dê trừu này từ những năm tiếp nhận
Căn Cứ Long Bình. Mỗi năm bò dê trừu đẻ sản xuất khá
nhiều, mỗi loại khoảng 10 đến 20 chục con nhỏ. Nhưng vì
thời cuộc, tôi mất toàn diện. Chẳng biết kêu than với ai.
G, Gia Đình Tại Căn Cứ Long Bình:
Năm 1973, ngày 21 tháng 05 (Năm Quí Sửu), bà xã của tôi
sanh hạ thêm một bé gái nữa, đó là Nguyễn Đình Ngọc Hân
(nick name Bé Út). Sở dĩ đặt tên nickname Bé Út, vì khi sanh
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
cháu, bà xã tôi bị xuất huyết quá nhiều. Bác sĩ khuyên không
nên sinh thêm nữa. Nếu sinh thêm, lần sau khó thoát khỏi tử
thần. Chúng tôi đồng ý đây là người con út trong gia đình. Do
đó Ngọc Hân đã được gọi là “Bé Út” kể từ hôm đó. Ba má và
các anh các chị thương yêu Bé Út nhiều lắm.
Mỗi cuối tuần, như trên đã trình bày, gia đình tôi lên Căn Cứ
Long Bình chơi. Con cái tôi đi tắm tại hồ bơi Căn Cứ hoặc đi
đánh tennis.
Một chuyện hi hữu đã xảy ra, đó là tôi có cái súng “Mini
Gun”, bắn bằng hơi ép. Có thể bắn chim hoặc thỏ rừng. Một
hôm Diễm Hà (Nickname là Bé) khoảng 6 tuổi, buổi trưa nọ
tự động xách súng ra gần sân tennis bắn chim. Bé bắn chim
mà lại tiếc đạn. Cô bắn thử một phát trong khi lấy tay che bắt
viên đạn. Viên đạn đã xuyên vào bàn tay và chạy ra nằm trong
ngón tay giữa. Cô bé khóc thét lên, anh quân nhân trực phải
kêu điện thoại xin đưa xe chở Bé vào bệnh xá để Bác sĩ giải
phẫu lấy viên đạn ra.
Từ đó cô bé hú hồn không dám chơi súng nữa. Cả nhà cũng
một phen hú hồn. May mắn đây chỉ là súng bắn hơi, nếu súng
đạn thật thì hậu quả sẽ không lường được.
Cuộc sống cuối tuần ở Căn Cứ rất là lý tưởng: Chiều thứ Bảy,
chúng tôi kéo nhau ra Biên Hòa ăn cơm tôm cua đồ biển, hoặc
gà quay với xôi phồng. Những món ăn này rất hợp khẩu vị và
được trình bày đẹp mắt.
Ngoài ra, đôi lúc chúng tôi về Thủ Đức ăn “Thịt chó”. Ở Hoa
Kỳ nói đến thịt chó thì dân Mỹ sợ hãi, kể cả các em Việt Nam
sinh trưởng tại Mỹ cũng đồng tư tưởng như vậy.
Riêng đối với người Việt Nam lớn tuổi đã từng sinh sống tại
quê hương, thì thịt chó là một món ăn “quốc hồn quốc túy”
vô cùng hấp dẫn, không có món nào có thể sánh kịp, nhất là
với đàn ông, dân nhậu. Cá nhân tôi thì thích món thịt chó luộc
chắm mắm tôm. Các cụ ta ngày xưa đã có câu:
“Con gà tục tác lá chanh,
Con lợn ục ịt mua hành cho tôi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Con chó khóc đứng khóc ngồi,
Mẹ ơi, đi chợ mua tôi đồng riềng.”
Lá chanh trộn với thịt gà mới ngon. Thịt heo thì phải có hành.
Riêng thịt chó thì phải có riềng mới thơm, mới hợp khẩu vị,
vô cùng hấp dẫn. Mỗi một món thịt phải có một loại rau thơm
và các rau gia vị tương xứng cần thiết.
Ở Hoa Kỳ không ăn thịt chó, cho rằng con vật tình nghĩa là
không ăn thịt. Sự suy nghĩ này do phong tục, trên giấy tờ luật
lệ không hề đề cập đến việc cấm đoán này. Đã có nhiều vụ
kiện về việc giết thịt chó, nghe nói đều được tha bổng.
Tuy nhiên các cụ Việt Nam khi thèm thịt chó quá, phải lấy
thịt heo nấu theo kiểu thịt chó. Món đó được mệnh danh là
món “giả cầy”. Ăn một miếng thịt heo mà tưởng tượng như
miếng thịt chó vậy, vì gia vị được dùng cho việc nấu nướng
này đều là gia vị dành cho việc nấu thịt chó. Tuy nấu giả cầy,
nhưng cũng có đầu bếp làm không thua món thịt chó thiệt.
Đó là những tay đầu bếp khéo và giỏi!
Bàn về các món ăn Việt Nam thì đã có nhiều sách vở đề cập
đến. Nhưng những sách ấy ít khi đề cập đến món thịt chó, còn
gọi là “Cờ Tây” hay “Nai Đồng quê”. Món ăn Việt Nam rất
nhiều, mỗi địa phương nấu mỗi cách. Đúng là “mỗi nơi mỗi
vẻ, mười phân vẹn mười”. Địa phương nào cũng có cái ngon,
cái lạ và rất khoái khẩu của địa phương ấy. Ông bà chúng ta
có bảo rằng: "Ăn ngậm mà nghe”. Đó là một nghệ thuật,
ngậm trong miệng để thưởng thức cái hương vị đặc biệt của
món ăn. Không phải cố ăn để nhét cho đầy dạ dày là xong
chuyện. Ông bà chúng ta cho đó là “Thực bất tri kỳ vị” (Ăn
mà không biết mùi vị món ăn). Ăn như vậy thuộc về hạ cấp
và cho đó là “Ăn tục nói phét”, hoặc là “bạ là ăn, bạ là nói”
thuộc phường “giá áo túi cơm” không phải là người trượng
phu, quân tử.
Tuy nhiên, kể từ ngày qua Hoa Kỳ, đã sống ở đây trên 30
năm. Chúng ta đã quen phong tục tập quán ở xứ sở này. Nếu
bây giờ ăn thịt chó, chắc là một vấn đề khó khăn. Vì lẽ, như
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
trên đã trình bày, ở Hoa Kỳ người ta chỉ ăn những con vật
nuôi để ăn thịt, như kỹ nghệ nuôi gà, nuôi heo, nuôi cá, nuôi
bò. Trái lại những loài vật nuôi để chơi, làm cảnh, thường
được gọi là “Pet”, như chó, mèo, chim chóc, v.v. thì thương
quá, ăn sao đành!
Và người Việt trên 30 năm sinh sống tại đây, cũng đã hoà
nhập với phong tục tập quán đó rồi.
15,THỜI KỲ TRƯỚC KHI DI TẢN TỴ NẠN QUA HOA
KỲ:
Những ngày đầu tháng 4 năm 1975, tôi rất bận công việc tại
Bộ Chỉ Huy Quân Vận Vùng 3 Chiến Thuật. Mọi việc nhà
đều do bà xã và các con lớn của tôi lo liệu. Chuẩn bị cho cuộc
di tản tỵ nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, bà xã tôi huy động
con cái trong nhà đi mua vàng, mà chính bà cũng chạy đi mua
luôn. Có bao nhiêu tiền mặt là mua vàng và đô la… Tuấn,
người con thứ ba của tôi đã đóng góp nhiều công lao vào việc
này. Tuy nhiên, mặc dầu cố gắng nhiều, cũng không thu lại
được bao nhiêu. Số tiền lớn đã trở thành mất giá trong những
ngày tháng đó!
A, Yểm Trợ Tiếp Vận cho các Đơn Vị Rút Lui Từ Các
Vùng Chiến Thuật:
Tôi có nhiệm vụ sát cánh hằng ngày cùng Đại Tá Trần Quốc
Khang, CHT/BCH3TV. Do đó thường cùng Đại Tá bay trực
thăng ra Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, Vũng Tàu, v.v...
để quan sát và trang bị quân trang dụng cho các đơn vị rút lui
từ Vùng 1, Vùng 2,Vùng 5 về Vùng 3.
Có một lần khi chúng tôi bay trực thăng ngang qua không
phận Sài Gòn, thì đúng lúc chiếc phi cơ khổng lồ C5A chở
các em cô nhi di tản qua Hoa Kỳ bị rớt trên cánh đồng đầu
ngõ vào phi đạo Tân Sơn Nhất. Xác các em bị văng tung tóe,
nằm la liệt đó đây trên khắp cánh đồng. Một cảnh tượng
thương tâm hãi hùng. Tuy nhiên, chúng tôi bay ngay ra khỏi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
không phận để trở về Long Bình, vì phải nhường chỗ cho các
trực thăng có nhiệm vụ thực hiện các công tác di tản và cấp
cứu.
Việc yểm trợ cho các đơn vị thật khó khăn, vì đường bộ phần
nhiều bị tắc nghẽn. Chỉ còn lại đường thủy. Chúng tôi đã tận
dụng tất cả các loại tàu, thuyền, nhất là các loại LCM8, LCU
di chuyển hàng hóa cận duyên. Các giang đoàn LCM8 từ
Vùng 1, Vùng 2, Vùng 5 đều đã được rút về và được đặt dưới
quyền xử dụng của BCHQV3 để di chuyển quân và tiếp tế
quân trang dụng, súng ống đạn dược cho các đơn vị. Việc tiếp
tế đầy đủ ngày hôm nay, thì hôm sau các đơn vị hầu như đã
sử dụng hoặc thất thoát hết, vì cuộc chiến ngày càng gia tăng
mạnh, tổn thất ngày càng lớn lao.
Ngoài việc tiếp vận cho các đơn vị thuộc các Vùng Chiến
Thuật rút về, còn phải giải quyết hàng ngàn binh sĩ về tạm trú
trong Căn Cứ Long Bình. Các quân nhân này nguyên trực
thuộc các đơn vị được di tản từ Vùng 1, Vùng 2 và Vùng 5
Tiếp Vận về Vùng 3 Chiến Thuật. Họ đã bị thất lạc đơn vị,
không liên lạc được với đơn vị gốc. Phần đông những quân
nhân này không nhận được lương cũng như lệnh lạc gì của
đơn vị gốc cả.
Như trên chúng tôi đã đề cập. Một quán cơm xã hội Quân Đội
đã được Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận giao trách nhiệm cho Quân
Vận Vùng 3 của tôi phụ trách. Tôi đã chỉ định một Đại Úy
đặc trách việc này. Cùng một lúc thuê nhiều nhân viên dân
sự, vì thiếu người phải huy động bà con vào giúp, trong đó có
dì Ký, mợ Huy, cô Liên (con chú Hồng), v.v. Quán cơm chỉ
bán một phần ăn tượng trưng là một trăm đồng Việt Nam cho
người nào có tiền. Tiền mất giá vào những ngày chót, nên số
tiền có giá trị nhỏ, thuộc giá bình dân vào thời kỳ đó. Một
phần cơm gồm có: dĩa thịt xào, bát canh tôm rau và cơm ăn
thả dàn. Ai không có tiền thì được ăn miễn phí.
Tôi còn nhớ ngày khánh thành Quán cơm xã hội Quân Đội
Long Bình, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên đáp trực thăng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
xuống Long Bình tham dự cắt băng khánh thành bữa cơm
khai mạc. Trung Tướng khen đầu bếp nấu ăn giỏi, ngon.
Những ngày kế tiếp, bất thần Trung Tướng bay trực thăng
ghé Long Bình ăn cơm, mục đích xem Quán cơm có nấu đúng
phẩm chất các thức ăn như ngày khánh thành chăng, hay chỉ
biểu diễn trong ngày khai trương thôi. Sau nhiều lần bất thần
đến ăn thử, Trung Tướng và các Sĩ quan tùy tùng đều công
nhận phẩm chất tốt, ưu hạng. Do đó, nhiều khi Trung Tướng
bay xuống ăn cơm cho vui với anh em, mà không còn báo
trước để kiểm soát nữa.
Quán cơm xã hội LB được khai sinh muộn màng, trong những
ngày tối lửa tắt đèn của tình hình chiến sự quê hương. Trong
khoảng 15 ngày cuối tháng 4/75, nhà bếp đi chợ không tìm
mua được thức ăn như cá, rau, thịt, thế là tôi ra lệnh bắt bò,
heo làm thịt.
Quân nhân có thịt bò, thịt heo ăn ngon lành. Để đối phó với
sự khó khăn về chợ búa trong mười lăm ngày cuối của tháng
4/75, tôi đã quyết định mỗi ngày bắt làm thịt một hoặc hai
con bò, con heo… Tuy mất tiền bạc của cải, trong bụng hoang
mang không biết tình thế sẽ đi về đâu… nhưng tôi vẫn cứ
làm, vì ít ra cũng giúp được phần nào những anh em thất lạc
đơn vị trong những ngày cuối chiến tranh. Thực sự mà nói,
nếu tôi không có đàn bò, dê trừu ở Long Bình và số gạo dự
trữ của tôi hơn một tấn rưỡi ở trang trại nhà Cổ Loa, thì rất
khó khăn để duy trì TTXHQĐLB trong hơn nửa tháng còn lại
của những ngày chót của cuộc chiến.
B, Chuẩn Bị Di Tản:
Hôm đó vào khoảng ngày 15 Tháng 4 năm 1975, tôi có nhiệm
vụ lên họp tại Cục Quân Vận. Tôi ngồi bên cạnh Đại Tá Bửu
Cát. Cát bảo nhỏ tôi:
- "Ê Thông, anh làm việc gì mà dữ vậy? Hãy để thì giờ mà lo
cho gia đình di tản với chứ!”
Tôi vô tình hỏi lại:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- “Di tản đi đâu?”
Cát trả lời:
- “Họ cho vợ con di tản qua Guam hết rồi!”
Trước tình thế nguy ngập và nghe Cát nói, tôi vội sắp xếp cho
vợ con cùng gia đình dì Ký ra Vũng Tàu. Vì tại đó, có tàu đi
ra chiến hạm Mỹ dễ dàng. Tôi đưa gia đình ra sống tại Vũng
Tàu được mấy ngày, thì ngày 22 tháng 4 năm 75, Đại Tá Trần
Quốc Khang CHT/BCH3TV triệu tập tôi lên Văn Phòng
BCH3TV, với Đại Tá Nguyễn Phước Trang Chỉ huy Phó
BCH3TV cùng Trung Tá Trương Văn Túc Tham Mưu
Trưởng BCH3TV.
Đại Tá Khang bảo rằng ông đã cho gia đình ông di tản sang
Guam rồi và đợt kế tiếp, ông đang lo cho gia đình tôi, gia đình
Trang và Túc. Tất cả cùng đi vào ngày 24/04/75. Tôi phải tức
tốc gọi điện thoại ra Vũng Tàu báo tin cho gia đình chuẩn bị,
đồng thời đích thân cùng tài xế ra Vũng Tàu đón vợ con về
Sài Gòn gấp.
Trong khi gia đình tôi ở Vũng Tàu thì gia đình của Đại Tá
Bửu Cát cũng ở Vũng Tàu. Khi thấy tôi di chuyển gia đình
về Sài Gòn thì gia đình dì Ký và GĐ anh Bửu Cát cũng đi về
Sài Gòn luôn, vì không có vợ con tôi thì Dì không dám ở lại
Vũng Tàu! Gia đình dì Ký và GĐ anh chị Cát kẹt lại, anh phải
đi học tập cải tạo.
Theo chương trình thì gia đình tôi được vào danh sách đi
Guam đêm 25/04/75 bằng phi cơ Quân sự Hoa Kỳ. Tôi đã
đưa gia đình vào sân bay Tân Sơn Nhất từ buổi chiều. Tuy
nhiên vì lý do kỹ thuật sao đó, các chuyến bay bị hoãn lại một
ngày. Đến đêm 26 rạng ngày 27/04/75 phi cơ mới được cất
cánh và bay thẳng Guam.
Riêng cá nhân tôi thì không thể đi cùng chuyến máy bay này
được, vì tôi còn phải ở lại lo tử thủ Căn Cứ Long Bình.
Sau khi vợ con đi rồi, chỉ còn lại người con cả là Nguyễn Đ.
Thường, cháu cũng không đi được vì là quân nhân, như bố
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
của Diễm Thu & Việt Long cũng là quân nhân. Hai anh này
phải ở lại đến giờ phút chót.
Sau khi vợ con đi rồi, tôi trở về Căn Cứ Long Bình với người
con cả là Nguyễn Đ. Thường. Tình hình an ninh ngày càng
bất ổn. Căn cứ Long Bình bị pháo kích hằng đêm. Từ ngày
27 đến ngày 29/04/75, tôi không thể nào ăn ngủ được. Ban
ngày thì lo công việc chuyên môn, còn ban đêm thì lo vấn đề
an ninh căn cứ.
Đúng sáng ngày 27/04/75, tại bến tàu RMK gần cầu Long
Bình, Mỹ kéo lên một sà lan chất đầy bom CBU (Cluster Bom
Unit) một loại bom rất nguy hiểm, vì có tác dụng cao sau bom
nguyên tử cỡ nhỏ.
Tôi gọi điện thoại lên Bộ TTM (Tổng Cục Tiếp Vận), không
ai biết tại sao Mỹ lại kéo sà lan bom này lên đây để làm gì
trong giờ phút này. Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận cũng như Đại Tá Tài,
chuyên viên đạn dược Tổng Cục cùng không biết lý do và sà
lan này từ đâu kéo tới. Tôi đã phải ra lệnh bốc rỡ số bom này
đem vào các kho bom đạn trong Căn cứ Long Bình gấp.
Ngoài ra, tôi phải sử dụng ba Tiểu đoàn Dù chận các nút từ
Hố Nai, Long Thành và Nghĩa Trang Quân Đội. Cấm các xe
chạy về cầu Long Bình để giữ an toàn cho vấn đề bốc dỡ bom
đạn tại bến tàu RMK này. Tôi xin mở một dấu ngoặc là loại
bom CBU này rất quan trọng và nguy hiểm. Khi quân đội
muốn xử dụng, phải có phép đặc biệt của Tổng Thống với sự
thỏa thuận của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Một quả bom khi nổ có tác dụng tiêu diệt đường kính một cây
số rưởi (1.50 km). Do đó sự tổn thất của địch rất cao. Trong
cuộc tấn công vào Sài Gòn, nghe nói địch quân bị một trái
CBU tại chiến trường Long Khánh, bị thiệt hại nặng nề, bị
khựng lại, không tiến quân lên được trong mấy ngày.
Nghe đâu vào năm 1979, khi Trung cộng muốn dạy cho Việt
Nam một bài học ở vùng biên giới Hoa Việt, Trung cộng đã
bị nếm mùi bom CBU và đã phải rút quân vì tổn thất quá nặng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nề. Sự việc này ra sao, chỉ có nhà cầm quyền quân sự hai nước
cộng sản biết.
Việc bốc rỡ chiếc sà lan chở bom CBU đã hoàn tất trong ngày
28/04/75. Tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhỏm, từ Bộ
TTM (TCTV) đến các đơn vị Tiếp Vận tại Vùng 3. Các cú
điện thoại từ Tổng Cục tới tấp gọi tôi tỏ lòng khen ngợi và
hỏi han tình hình.
Khoảng 3 giờ chiều ngày 28/04/75, tôi được Đại Tá Trần
Quốc Khang, HT/BCHTV3TV thông báo cho biết là ông bay
trực thăng lên họp tại Bộ TTM/TCTV.
Ông nhắc đi nhắc lại với tôi là:
- “Tôi sẽ trở về lúc 6 giờ chiều hôm ấy, ở nhà nhớ cho canh
phòng cẩn mật.”
Tôi đã trả lời rằng:
- “Đại Tá cứ yên trí đi họp đi, tôi sẽ lo việc ở nhà, có điều gì
bất trắc, tôi sẽ điện trình lên Văn phòng Trung Tướng Đồng
Văn Khuyên cho Đại Tá.”
Chiều hôm đó, đồng hồ đã chỉ hơn 7 giờ tối rồi, mà Đại Tá
Chỉ Huy Trưởng vẫn chưa về. Tôi băn khoăn lo lắng sợ ông
có gì trục trặc dọc đường chăng. 8 giờ đêm hôm đó, chúng tôi
(Tôi, Đại Tá Trang, Trung Tá Túc và một số Sĩ quan CHTTV
khác trong Căn Cứ và một số Sĩ quan trong BCH3TV) cùng
nhau họp tại VP Đại Tá Khang, bàn về việc sẵn sàng cho đoàn
quân đi tiếp cứu Đại Tá Khang khi có tin tức hữu sự.
Đích thân tôi điện đàm với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên.
Tôi đã trình với Trung Tướng Khuyên rằng:
- "Trình Trung Tướng, khoảng 3 giờ chiều nay, Đại Tá Khang
có cho tôi biết Đại Tá lên Bộ TTM họp với Trung Tướng tại
TCTV và 06 giờ sẽ có mặt tại Căn Cứ. Tại sao đến giờ này
(8 giờ đêm) Đại Tá Khang vẫn chưa về, tôi e có chuyện gì bất
trắc chăng???"
Trung Tướng Khuyên đã chân thật trả lời:
- "Chiều hôm nay có họp hành gì đâu!”
Tôi trình lại:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- “Thưa Trung Tướng, Đại Tá Khang bay chiếc trực thăng có
số đuôi là 557, xin Trung Tướng chỉ thị cho một nhân viên ra
bãi đáp xem còn trực thăng đó không?”
Sau khi cho nhân viên ra bãi đáp trực thăng xem, Trung
Tướng kêu lại:
- "Trực thăng vẫn còn đó, phi công còn chờ, tôi đã cho mang
thức ăn dã chiến đến phi công. Có gì tôi sẽ cho anh biết và
nếu có gì mới anh trình lại tôi. Anh cố gắng lo phòng thủ Căn
Cứ đêm nay!”
Trong lúc tôi chấm dứt câu chuyện với Trung Tướng Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận kiêm Tham Mưu Trưởng Bộ
TTM, thì Đại Úy Thái, Chánh Văn Phòng Đại Tá Khang,
chạy vào trình cho chúng tôi biết là một Sĩ quan thuộc Văn
Phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên vừa tin cho anh ta
biết là: “Ông thầy của mầy đã vào Tân Sân Nhất đi Mỹ rồi!”
Tôi nghe vậy vừa ngán vừa lo, các Sĩ quan hiện diện ngẩn
ngơ. Vì dù sao thì tôi cũng đã chuẩn bị sẵn sàng mọi phương
tiện cho Đại Tá Khang di chuyển vào giờ chót.
Tình hình trong đêm 28/04/75 có vẻ nguy ngập, đạn pháo
kích của VC bắn tứ tung vào Căn Cứ. Lúc bấy giờ, Đại Úy
Nguyễn Công Sum là Trưởng Phòng Chuyển Vận của
BCHQV3 đang lo lắng về tình hình gia đình còn ở Sài Gòn.
Tôi bảo anh về Sài Gòn sắp xếp gia đình ngay để sẵn sàng di
chuyển ngay khi cần thiết.
Trong khi đó tại bến Cogido, tôi đã chuẩn bị 5 LCM8 với
xăng nhớt đầy đủ, lương thực nước uống tràn dư, có khả năng
di tản đến Singapor an toàn. Tháng 4 biển rất yên lặng, không
có sóng động. Tôi đã bảo Thường con tôi, cùng về với Đại
Úy Sum, mục đích tránh pháo kích, và tin cho Quốc Nam,
chồng trước của Thanh Hương cùng đi với Đại Úy Sum trở
lại Căn Cứ.
Tình hình tại Biên Hòa nguy ngập. Tôi báo cáo cho Quân
Đoàn 3 những diễn tiến tại Căn Cứ Long Bình. Văn Phòng
Hành Quân không ai trả lời. Văn Phòng Tư Lệnh cũng im
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lặng. Tôi lại báo cho Trung Tướng Đồng Văn Khuyên về tình
hình VC pháo kích và tình hình Đại Tá Trần Quốc Khang.
Ông bảo:
- "Cố gắng phòng thủ Căn Cứ đêm nay, ngày mai hãy hay!”
Rốt cuộc vào giờ chót, Quân Đoàn không có ai hiện diện để
trả lời điện thoại cho thuộc cấp. Tư lệnh Quân đoàn đi đâu?
Tư lệnh phó? Tham Mưu Trưởng? Rốt cuộc tôi lại phải kêu
về Bộ TTM. Trung Tướng Đồng Văn Khuyên luôn luôn hiện
diện và sẵn sàng trả lời điện thoại giúp đỡ anh em trong hoàn
cảnh khó khăn.
Ngoài ra tình hình Căn Cứ Long Bình có vẻ nguy ngập, trong
khi tôi vẫn liên lạc mà không nhận được một lệnh lạc gì của
Quân Đoàn 3. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nghiêm chỉnh cho
canh phòng đàng hoàng Căn Cứ Long Bình, nhất là các điểm
xuất nhập Căn Cứ.
Sáng ngày 29/04/1975, địch pháo kích và gây áp lực mạnh
vào căn cứ Long Bình, chúng tôi một mặt cho một số đoàn xe
chạy về Bộ Tổng Tham Mưu, một mặt cho đoàn xe khác chạy
về Cục Quân Vận để xử dụng khi cần thiết, vì lẽ trong thời
gian cấp bách, chúng tôi đã cố gắng hết mình nhưng không
liên lạc được với QĐ3, Vùng 3CT, vì lẽ QĐ3 máy điện thoại
vẫn reo, mà chẳng ai trả lời, nên tôi phải đưa đoàn xe lên Cục
Quân Vận, vì Quân Đoàn 3 không còn xử dụng đoàn xe nữa.
Mọi diễn tiến này tôi đã có trình cho Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên, TMT Bộ Tổng Tham Mưu. Ngoài ra đêm 28/04/75,
tôi gặp Đại Tá Trang, Trung Tá Túc, và tôi đã thông báo quyết
định:
- "Ngày mai, 29/04/75, tôi sẽ liên lạc và di chuyển ra Quân
Vận Khu Vũng Tàu. Vậy ngày mai, ai muốn di tản ra Vũng
Tàu theo tôi? Vì nếu yên, chúng ta giải quyết việc chuyển
vận, nếu không yên chúng ta thoát lên tàu Mỹ”.
Đại Tá Trang Chỉ huy Phó trả lời ngay là:
- "Tôi sẽ theo anh".
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Còn Trung Tá Trương Văn Túc TMT BCH3TV, Đại Tá
Trương Đình Liệu, Chỉ huy Trưởng Tổng Kho Long Bình,
v.v. thì sẽ trở về Sài Gòn. Trung Tá Túc may mắn gặp Trung
Tướng Đồng Văn Khuyên, và Trung Tướng chỉ thị ra bến tàu
Tân Cảng ngay.
Trên đường đi ra Tân Cảng, gặp Đại Tá Châu và vài Sĩ quan
khác, nên đã cùng nhau kéo xuống Tân Cảng và di tản ra khỏi
Sài Gòn trên một LST của Đại Hàn, may mà thoát nạn. Riêng
Đại Tá Liệu CHT Tổng Kho Long Bình bị mắc kẹt lại và phải
đi học tập cải tạo trên mười năm.
Trong thời gian này, Trung Tá Ngô Ngọc Bảo, Chỉ huy
Trưởng Quân Vận Tổng Kho Long Bình, đi sát với tôi, vì anh
chẳng có phương tiện gì để di tản. Anh không rời tôi một
bước, vì sợ tôi bất thần ra đi mà bỏ rơi anh, và anh Bảo đã đi
với tôi lên trực thăng bay ra tàu Mỹ ở biển Vũng Tàu.
16, LÊN ĐƯỜNG TỊ NẠN:
a, Di Tản ra tàu Mỹ ngoài khơi biển Đông :
Sáng ngày 29/04/75, chúng tôi dùng trực thăng bay ra Vũng
Tàu. Trước khi lên tàu bay, tôi bảo Tài xế Huệ cùng đi với tôi
như anh đã đồng ý trước kia. Nhưng vào lúc đó anh xin ở lại
vì gia đình không có ai săn sóc. Thành ra cái túi đeo lưng
cũng ở lại với anh luôn. Trong cái túi đeo lưng đó, tôi đã
chuẩn bị các thức ăn cần thiết cho hai thầy trò. Khi đến Vũng
Tàu, trực thăng hết xăng, phải đáp điểm nhiên liệu đổ đầy
xăng dành cho trực thăng, sau đó chúng tôi đã bảo người lính
gác nhiên liệu hãy trở về với gia đình, vì lúc đó cũng chẳng
còn trực thăng nào cần tiếp tế. Trực thăng cất cánh bay và đáp
xuống một sà lan giữa sông, bên cạnh đó có chiếc LCM8 đang
đậu chờ. Chúng tôi xuống chiếc LCM8 và trực chỉ ra tàu Mỹ
đậu sẵn ở ngoài khơi. Phi hành đoàn trực thăng không xuống
mà lại bay thẳng về Sài Gòn đón gia đình của Pilot.
Sau khi chúng tôi xuống hết LCM8, tài công lái tàu liên lạc
với Thiếu Tá Phò, giang đoàn trưởng, thông báo chúng tôi đã
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
có mặt trên tàu LCM8. Thiếu Tá Phò ra lệnh tài công lái
LCM8 ra tàu lớn (Tàu lớn Mỹ đậu ngoài khơi). Khi LCM8
bắt đầu chạy, tôi bị say sóng nặng, ói mửa lung tung. Khi ra
đến tàu lớn, tôi cố gắng leo thang lên boong tàu. Khi lên đến
nơi thì bất tĩnh. Sở dĩ tôi bị mệt như thế là vì mấy ngày qua
tôi không ăn, không ngủ được, vì lo lắng tình hình quá. Các
ông bạn cùng đi với tôi chạy đi tìm, và dẫn tôi đến chỗ họ tập
trung.
Tôi vẫn mệt lắm, nằm đại xuống boong tàu, kế cận một gia
đình đông con cháu. Một ông cụ trông thấy vậy, ông quan sát
tôi và bảo rằng: "Ông kiệt sức vì đói!” tức thì ông lấy một cái
ly nhựa, đổ vào một ít sữa đặc, trộn vào một ít nước lạnh, ông
lấy ngón tay khuấy đưa cho tôi bảo uống.
Như người mất hồn, tôi cầm lấy ly sữa uống một hơi. Y như
lời ông cụ bảo, tôi tỉnh người ngay và cơn mệt nhọc tan đi
đâu mất. Tôi định thần và suy nghĩ lại thì ra hai ngày nay, tôi
không ăn một hột cơm nào mà cũng không ngủ vì tình hình
quá căng thẳng, kể từ khi gia đình vợ con tôi di chuyển qua
Guam.
Bấy giờ tôi mới đi một vòng cho biết tình hình trên tàu lớn.
Tôi gặp gia đình Thiếu Tá Lê Phước Phò, tôi than đói quá.
Vợ anh ta mới đưa cho tôi một bát cơm xấy, trên cơm có rắc
một ít mì khô để có chất mặn. Tôi ăn ngon lành. Càng ăn càng
thấy khỏe ra. Tôi và các bạn tiếp tục đi xuống hầm tàu, gặp
gia đình Trung Tá Khang (Lực lượng Đặc Biệt).
Bà Khang mừng rỡ và tặng tôi hai cái kẹo Chợ Lớn. Tôi trao
cho Đại Tá Trang một cái và tôi ăn cái kẹo Chợ Lớn kia, sao
mà ngon thế! Chất đường trong kẹo tỏa ra đến đâu là tôi biết
và khỏe ra đến đó. Thế mới biết khi người ta đói, thiếu thốn
dinh dưỡng trong cơ thể, thức ăn gì cũng làm cho con người
cảm thấy ngon lành.
Sáng ngày hôm sau, khi thức dậy, tôi thấy Thủy Quân Lục
Chiến Mỹ trên tàu phân phát sữa. Tôi hỏi cụ già “Có gì đựng
sữa không? Tôi đi xin.”
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ông cụ trao cho tôi cái thau nhỏ bằng nhựa. Xin sữa phải ngồi
sắp hàng và tiến lên như vịt. Khi đến phần tôi, anh phụ phát
sữa người Việt đổ cho tôi một ly nhỏ vào thau. Tôi bảo:
- “Gia đình tôi đông mà anh cho một ly làm sao đủ uống?”
Một anh lính Mỹ đen trông thấy, hỏi gì vậy. Tôi liền nói lại
bằng tiếng Mỹ câu vừa nói. Anh liền cầm lấy cái thau và múc
đại vào thùng sữa một thau đầy. Tôi mừng quá, bưng thau sữa
đầy uống một hơi cho khỏi bị tràn ra ngoài, rồi cầm thau chạy
về đưa cho ông cụ. Ông hỏi:
- “Sữa đâu mà ông lấy về nhiều vậy?”
Tôi trả lời:
- “Xin cám ơn ông cụ về ly sữa hôm qua cụ cho đã cứu sống
tôi, hôm nay tôi cố xin nhiều để cám ơn cụ.”
Sau đó, tôi từ giã cụ và di chuyển lại một gần giữa khoang
tàu, nơi các Sĩ quan chúng tôi cùng đóng đô. Tôi nói chuyện
với một Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, anh ta có nhiệm
vụ chỉ huy an ninh trên tàu. Do đó anh ta mời tôi lên phòng
ngủ của anh ta mà tắm. Tắm xong anh ta còn mời tôi một lon
bia. Anh Đại Úy này rất có cảm tình với các Sĩ quan Việt
Nam.
Vấn đề phân phối thực phẩm trên tàu thật là bê bối. Do đó
chúng tôi tự động chia nhau ra, người thì đặc trách phân phối
trong bếp, người thì phân phối thức ăn ngoài boong cho đồng
bào.
Chuyện mang thực phẩm từ trong bếp ra boong tàu do các
thầy trẻ tuổi của dòng Đồng Công phụ trách dưới quyền của
Linh mục Sơn. Tôi phụ trách phân phối trong bếp, nên dù sao
một đôi lúc, cũng có chút đỉnh bỏ miệng.
Tôi còn nhớ có một anh thủy thủ Mỹ cho tôi một trái cam, tôi
mừng quá, định ra ngoài boong tìm chỗ vắng mà ăn. Khi vừa
bước ra, trông thấy Đại Tá Trang mặt mày hốc hác bơ phờ vì
đói. Tôi liền trao cho anh quả cam, mắt anh sáng lên hỏi:
- “Đâu ra đây?”
Tôi trả lời:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- “Anh cứ ăn tạm đi, đừng hỏi”
Và anh cắn ăn luôn cả võ một cách ngon lành. Anh còn bảo
“Võ cam có nhiều Vitamin lắm!” Tôi không biết vitamin tốt
lành gì! Vì chính tôi cũng đang đói quá trời.
Tình hình trên tàu vẫn bi đát, vì tàu chở gần sáu ngàn người
mà chỉ có một cái bếp. Dù đã tận dụng 24 giờ nấu liên tục vẫn
không cung cấp đủ thức ăn cho ngần ấy người. Tôi liền nói
với Đại Tá Hoàng Văn Đoàn, Thị Trưởng Đà Lạt kiêm Tỉnh
Trưởng Tuyên Đức rằng:
- “Với tư cách niên trưởng, anh hãy cùng chúng tôi lên gặp
Thuyền Trưởng để giải quyết vấn đề này. Bằng không, chỉ
vài hôm nữa tàu sẽ bị loạn!”
Sau đó phái đoàn chúng tôi lên gặp thuyền trưởng yêu cầu
phải chia ra làm ba bếp: Đầu, giữa và cuối tàu. Mỗi nơi một
bếp và nấu liên tục 24/24. Chúng tôi hỏi thuyền trưởng rằng
tàu có đủ thực phẩm gạo và thức ăn uống không? Ông ta trả
lời tàu có đủ gạo và thức ăn nước uống, đồng thời ông đồng
ý kế hoạch của chúng tôi.
Chúng tôi xúc tiến ngay việc làm ba bếp. Đồng thời tổ chức
các toán nấu ăn, các toán phân phối thức ăn cho đồng bào,
các toán xuống hầm tàu lấy củi, (vì đây là tàu chở đạn, nên
có rất nhiều gỗ làm tầng kê đạn, sau khi đã dỡ đạn xong).
Chỉ trong một ngày đầu là công việc ăn uống đã chạy đều và
không còn cảnh tranh giành cãi cọ nhau nữa. Mọi người ăn
xong im lặng nằm ngủ hoặc nhỏ to trò chuyện với nhau,
không còn cãi cọ như trước.
Tàu chạy khoảng một hai ngày thì đến Subic Bay (Phi Luật
Tân). Chúng tôi được lệnh đổi tàu, một số người ở lại tàu cũ.
Tuy nhiên, một hai ngày sau chúng tôi cùng cập bến Guam.
Đây là một hòn đảo lớn, mọi vận chuyển từ Việt Nam qua
đều phần đông phải chuyển tiếp (transit) tại đây. Cũng có một
trạm Tiếp Liên khác, đó là Đảo Wake, nhưng số người ghé
nơi đây tương đối ít hơn.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khi đến Guam, chúng tôi phải làm các giấy tờ nhập cảnh Hoa
Kỳ, kê khai lý lịch. Trong khi làm thủ tục nhập cảnh, có một
số bác sĩ Mỹ hỏi tôi có biết tiếng Anh không? tôi trả lời có,
họ liền trao cho tôi một mảnh giấy ghi chỗ làm việc của bệnh
xá và bảo tôi đến trình diện ở đó.
Sau khi đã kiếm được lều ở, tôi đến bệnh xá và được bác sĩ
cho vào làm thông dịch viên và ghi tên các bệnh nhân cùng
bệnh trạng của họ trước khi trình bác sĩ khám. Khi làm việc
tôi phải mặc áo trắng, trông giống như bác sĩ, y tá.
Một giờ làm việc tại bệnh xá trả cho tôi $1.00. Có chút tiền
còn hơn không, đi lông nhông ngoài đường trong trại. Hơn
nữa khi vào Guam, móng chân cái của tôi lại sưng lên, đau
nhức, mỗi lần đi lãnh cơm, nối đuôi dài cả cây số, là một cực
hình. Trong khi làm việc tại bệnh xá, được thuốc xức ngón
chân, cơm nước mang đến tại chỗ, khỏe ru! Hơn nữa, làm
việc tại đây, tôi gặp lại nhiều bạn bè.
Một chuyện vui hy hữu là một hôm tôi thấy chị Thích mang
con vào khám bệnh. Tôi giả làm lơ xem chị có nhìn ra tôi
không. Suốt thời gian trên biển, tôi dang nắng trên sàn tàu,
nên người đen thui, rất khó nhận ra.
Chị Thích mang con vào nói với tôi:
- "Thưa Bác sĩ, con của con bị đi chảy hai hôm rồi!”
Nói xong, chị khều tay tôi hỏi:
- "Có phải anh Thông không?”
Tôi buồn cười quá, buột miệng:
- "Chính hắn đây! Còn Phạm Bá Thích đâu?”
và tôi cười to lên, làm chị Thích cũng cười theo. Chị nói:
- "Thế mà tôi cứ tưởng ông Bác sĩ nào!”
Tôi làm việc ở đây một ngày một đêm, bệnh viện phát cho
$17.00. Đêm hôm đó tôi phải về thu xếp áo quần để 3 giờ
sáng lên đường ra phi trường Anderson, Guam. Tôi được bay
vào lục địa Hoa kỳ.
Khi đến Phi Trường, tôi đang đứng lớ ngớ thì một nhân viên
hàng không hỏi:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- "Có ai đi một mình không?”
Tôi giơ tay lên và được đưa lên máy bay ngay. Thực sự thì
tôi muốn về Camp Penleton (CA) vì có gia đình tôi đang tạm
trú tại đó. Nhưng máy bay lại hạ cánh xuống phi trường Little
Rock (Arkansas) để đến trại Fort Chaffee.
17, ĐỊNH CƯ TẠI HOA KỲ
A, Đoàn Tụ Gia Đình: Thời gian thấm thoát, chúng tôi liên
lạc được với gia đình ở Camp Penleton và chúng tôi quyết
định về định cư tại thành phố Springfield, Missouri. Riêng
chúng tôi từ Fort Chaffee phải đến thành phố Springfield
trước một thời gian.
Gia đình vợ và con cái đến sau. Cùng về định cư tại thành
phố này, có gia đình của con gái của tôi là Thanh Hương cùng
em là Mỹ Hằng.
Gia đình tôi được ông bà luật sư Charles đỡ đầu. Thành phố
Springfield tương đối nhỏ, công ăn việc làm khó khăn. Chúng
tôi đã cố gắng đi xin việc mà không có.
Một hôm, tôi liều đi xin việc lao động qua một hãng tư. Họ
chỉ trả tôi $1.70 một giờ, mà công ty xin việc hãng tư còn cắt
xén một ít, thành ra chẳng còn bao nhiêu. Làm việc hơn 8
tiếng đồng hồ mà chỉ lãnh được $11.30. Việc làm hôm đó rất
nặng nhọc. Tôi phải lăn các thùng futs (phuy) từ trên trailer
vào trong kho. Tuy là thùng không, nhưng còn rất nhiều “bơ”
dính hai bên vách thùng, nên rất nặng. Tôi phải xếp thùng lên
hai tầng, việc làm này rất nặng nhọc. Thế mà thằng
Supervisor còn bảo xếp lên ba tầng. Tôi trả lời không làm
được. Ngoài ra, dưới đất, bơ đổ ra tràn đầy tứ tung. Tôi đi
giày lội như dưới bùn sình lầy. Bơ dính vào giày làm cho giày
rất nặng mỗi khi bước chân đi. Tôi phải uống nước lạnh liên
hồi, vì trời quá nắng gắt. Có lẽ trên 100 độ F. Làm việc này
mới nhận thấy công việc ở Mỹ không dễ dàng chút nào!
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tôi thắc mắc không hiểu tại sao họ không lấy “bơ” ra cho hết,
mà còn để lại trong thùng khá nhiều, làm cho các thùng rất
nặng khi chất lên hai tầng.
Chiều hôm đó tôi về nhà quá mệt, đừ người, phải nằm nhà
tĩnh dưỡng ba hôm mới lại sức. Hạnh thấy tôi làm việc quá
mệt nhọc mà chỉ có chút tiền như trình bày đã khóc vì thương
hoàn cảnh của tôi. Khi còn ở Việt Nam, tôi chưa bao giờ làm
việc vất vả như vậy.
Sau ba ngày, tôi lại xuống Sở tìm việc của chính phủ, tôi gặp
một case worker, tôi nói với bà là nếu không tìm được việc
cho tôi, thì cả nhà tôi (vợ và 9 người con) sẽ bị chết đói. Bà
hỏi:
- "Thế ông đã xin tiền xã hội và phiếu thực phẩm chưa?”
Tôi ngơ ngác không biết tiền Welfare và Food Stamp là gì.
Bà ta liền gọi điện thoại xuống Sở Xã Hội và nói chuyện với
một Case worker bên đó. Xong câu chuyện, bà bảo tôi xuống
Sở Xã Hội và gặp bà Linda, bà này sẽ giải quyết trường hợp
của tôi.
Tôi lại phải cuốc bộ từ Sở xin việc, đi xuống Sở Xã Hội vào
xin gặp bà Linda. Sở dĩ tôi nói “cuốc bộ”, vì từ khi sang Mỹ
gần ba tháng tôi có xe cộ gì đâu. Do đó, mọi sự di chuyển đều
bằng chân. Âu đó cũng là một cuộc thể thao chạy bộ, mà tôi
đã quen từ mấy tháng nay. May mắn, thành phố Springfield
(MO) tương đối nhỏ, các văn phòng Tiểu Bang tọa lạc san sát
gần nhau.
Bà Linda hỏi:
- "Tại sao ông đến đây từ tháng 7/75, mà ông không xin các
khoản tiền phụ cấp?”
Tôi trả lời vì không biết, mà cũng chẳng có ai hướng dẫn chỉ
vẻ. Thực vậy, ông bà Sponsor là luật sư, ông bà chẳng muốn
mất mặt khi chúng tôi biết đến những món tiền nhà nước giúp
đỡ dân nghèo nầy!
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ngày hôm đó, Sở Xã Hội đã cấp cho tôi mang về cả check và
phiếu tem thực phẩm gần 1,000.00 (một ngàn Mỹ Kim). Bà
xã tôi ngạc nhiên hỏi:
- "Tiền đâu mà nhiều dữ vậy?”
Tôi vừa mừng vừa mệt, tôi bảo bà xã hãy cất đi, chút nữa giải
thích. Khi cầm các phiếu thực phẩm, bà xã tôi lại hỏi:
- "Phiếu gì đây ?”
Tôi trả lời:
- "Đó là một loại Đô La đỏ!”
Bà xã đã chuẩn bị sẵn cho tôi món nhậu và một lon bia lạnh
mỗi buổi chiều. Bà luôn an ủi tôi hãy chịu khó vì gia đình và
dâng lên cho Chúa mọi khó khăn trở ngại. Bà cũng mang một
ly nước lạnh hoặc chanh đá ra ngồi uống nói chuyện an ủi tôi.
Một thời gian sau, tôi kiếm được việc tại một hãng buôn lớn
tư nhân với lương $2.35/giờ. Tuy lương ít, nhưng ngày nào
cũng có hai tiếng phụ trội (over time), nên một tháng cũng
lĩnh được $550.00 chưa trừ thuế. Đó là chưa kể những khi
gấp rút phải làm phụ trội ngày Thứ Bảy.
Công việc làm ăn đang xuôi chảy, tuy lương tiền không có
được bao nhiêu, thì chú Minh dự định mở lại cửa hàng buôn
bán và năn nỉ tôi lên Hoa Thịnh Đốn giúp chú. Chú đơn độc
lại yếu sinh ngữ, các cháu còn nhỏ dại. Vì tình anh em, tôi đã
xin nghĩ việc, lên Hoa Thịnh Đốn giúp chú thiết lập cơ sở
thương mại.
Chính danh hiệu Mê Kông Center là do tôi đặt cho cửa tiệm
của chú. Chú trả lương cho tôi $500.00 một tháng, nhưng
công việc làm thì bận rộn vì coi như việc nhà. Chưa kể ngày
Thứ Tư hàng tuần phải lái xe khởi hành lúc 3 giờ sáng từ Hoa
Thịnh Đốn lên New York để mua hàng, sau khi chất hàng
chạy xe trở về có khi 11 giờ đêm mới về đến nhà.
Làm việc như vậy gần 4 tháng. Một hôm, tôi nhận được thư
bà xã bảo tôi về gấp để lo việc khai thuế đầu năm 1976. Tôi
sốt ruột cần về lo việc nhà, dù chú không hưởng ứng, tôi cứ
đi và hứa khoảng một tuần sẽ trở lại.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
B, Bà Xã Tôi (Nguyễn Thị Hạnh) Lâm Trọng Bệnh:
Tôi đi từ Hoa Thịnh Đốn về đến nhà vào chiều Chủ Nhật.
Chiều hôm đó, Thanh Hương mời Ba Má qua nhà ăn cơm
chiều. Nhà Thanh Hương thuê dính vào sau căn nhà của
chúng tôi thuê. Trong khi ăn, cao hứng, má lại bảo gia đình
Hương chiều mai, thứ Hai, qua nhà Ba Má ăn cơm.
Ngày Thứ Hai cả nhà đi BattleField Mall ở Springfield mua
sắm. Chiều đến má làm cơm và cả nhà Hương qua tham dự.
Hôm đó, vì đi đường ba ngày bằng xe “bus”mệt nhọc, lại vừa
đi shopping về nên tôi hơi mệt, ăn cơm xong tôi vào giường
nằm nghỉ trước.
Tôi mệt quá ngủ thiếp đi, nên khi bà xã tôi vào giường, tôi
không hay biết gì. Mãi đến 5 giờ sáng, tôi tỉnh giấc, dậy và đi
ra phòng vệ sinh. Bà xã tôi vẫn ngủ. Đây là một sự lạ vì bà xã
tôi rất tỉnh ngủ, một tiếng động rất nhẹ cũng làm cho bà thức
giấc. Thế mà tôi dậy đi ra đi vào, mà bà chẳng hay biết gì.
Tôi nằm xuống giường khoảng 30 giây (nữa phút), thì tôi thấy
bà ngồi dậy, đứng lên lảo đảo, tôi vội bật dậy choàng tay đỡ
lấy bà.
Khi ấy tự nhiên tôi thấy bà đã không kiểm soát được sự tiểu
tiện. Biết có vấn đề, tôi vội hô các con dậy đỡ má. Má đã bất
tỉnh, không còn biết gì nữa. Đặt má lên giường nằm. Hằng
gọi 911 và xe cứu thương đến chở má vào Bệnh viện St. John
Hospital ở Springfield.
Vào Bệnh viện lúc 6 giờ sáng, chẳng có bác sĩ hay y tá nào
săn sóc cho má cả, trong khi má nằm mê man bất tỉnh ở trên
giường. Con cái, Ba và các người bạn Mỹ của má đứng xung
quanh giường bệnh.
Khoảng 9 giờ sáng má tỉnh dậy, các con mừng quá, kêu “má”
vang lên. Ba hỏi:
- “Có biết ai đây không?”
Má trả lời :
- "Mình chớ ai".
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ba hỏi :
- "Hồi đêm ngủ có ngon không?”
Má trả lời :
- "Ngủ ngon".
Ba chỉ vào bà Mỹ Eason, người bạn thường chở má đi nhà
thờ, má cũng biết và còn nói tên bà và mỉm cười chào bà nữa.
Mấy y tá bệnh viện, từ sáng đến bây giờ không săn sóc gì cho
má cả, đến lúc đó họ mới lăng xăng đến chích nước biển vào
cho má, vừa chích xong tức thì má ngất xỉu luôn, nằm vậy
cho đến khi má qua đời, vào ngày 07 tháng 05 năm 1976.
Không biết vì sao mà má bị bị “shocked”? Tính từ lúc đưa
má vào bệnh viện cho đến ngày má qua đời, thời gian khoảng
hai tháng trời. Sau khi tiêm thuốc biển, má luôn luôn trong
tình trạng hôn mê. Bác sĩ đã đưa má vào giải phẫu động mạch
nơi cổ. Mấy ngày đầu má còn tỉnh, rước mình thánh Chúa
được. Sau đó càng ngày bệnh càng trở nên nặng quá, hôn mê
nhiều và không còn biết gì khi cha tuyên úy bệnh viện đưa
mình Thánh Chúa cho má. Má không còn rước được Mình
Thánh Chúa nữa.
Mấy tuần chót, nhà thương đã cho má qua nằm tại Nursing
Home, và má đã qua đời tại đây vào lúc nào trong đêm sáng
ngày 07/05/76, gia đình được thông báo cùng ngày vào lúc 4
giờ sáng, tất cả vội vã chạy lên Nursing Home ngay.
Linh hồn má đã về với Chúa rồi, còn biết gì về thế gian nữa
đâu. Các con cái khóc nức nở. Một điều đáng tiếc là tại
“Nursing Home” người ta không cho thân nhân ở lại qua đêm.
Do đó, không có ai trong gia đình gặp được má, khi má trút
hơi thở cuối cùng. Đấy là một điều vô cùng ân hận, đau đớn
cho cha con.
Mọi sự đã qua hơn 30 năm rồi. Tôi buồn bã đến chảy hai hàng
nước mắt mà ghi lại sự việc. Gia đình tôi đau đớn khi mất đi
một một người vợ và một người mẹ tuyệt vời... Lạy Chúa,
con đã mất một người bạn đời lý tưởng khi nàng mới đến
tuổi 44 mà con chỉ mới có 49.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Lạy Chúa, chúng con chưa sống với nhau đến nửa cuộc đời.
Đứa con út chưa có ý niệm về sự sống chết của má. Lâu lâu
lại hỏi :
- Sao má đi đâu lâu quá mà chưa về với con?
Tôi phải ôm con mà trả lời:
- Con ơi… Má bỏ chúng ta đi rồi… má về Thiên Đàng, sẽ
phù hộ cho chúng ta.
Giờ này cháu lớn rồi, đã biết chuyện và luôn cầu nguyện cho
má.
Chúng tôi bình tĩnh lại để nhận thức rằng con người sống chết
là do thánh ý Chúa. Chúng tôi xin dâng lên Thiên Chúa lời
cảm tạ Chúa đã an bài về sự sống chết của bà xã tôi. Chúng
tôi quan niệm rằng mọi người đứng trước sự chết cũng như
vậy thôi. Chỉ có một điều là bà xã tôi chết quá trẻ, khi mới 44
tuổi, trong lúc nhiệm vụ của nàng đang còn có một số đông
con cái để dạy dỗ, hướng dẫn.
Suốt cuộc đời của Hạnh hy sinh cho chồng con. Nàng mến
thương chồng và hy sinh chăm sóc cho con cái hết mình. Sang
được Hoa Kỳ, tưởng rằng cuộc đời được sung sướng và
hưởng nhàn hơn. Ai dè nàng đã bỏ cha con ra đi quá sớm, để
lại bao nhiêu thương tiếc cho chồng con, trong khi đàn con
đang còn nhỏ dại, cần được sự chăn sóc dạy dỗ của mẹ hiền.
Linh cửu của Anna Nguyễn Thị Hạnh đã được chôn cất tại
nghĩa trang Giáo Phận Springfield, MO. Sau khi chôn cất má
xong, cả gia đình như những người mất hồn. Tội nghiệp nhất
là Bé Út, còn nhỏ mới hai tuổi, chưa biết gì. Út cứ hỏi “Má
đi đâu mà không về, má không mặc áo lạnh, má bị sưng phổi
đó!” Sở dĩ Út nói câu đó là vì má hay nhắc nhở con cái khi đi
ra ngoài, phải mặc áo cho ấm kẻo bị cảm, sưng phổi.
Buổi chiều, sau đám tang, thím Toàn đang ngồi trong bếp
dưới sàn nhà chặt thịt gà, bé Út lăng xăng chạy vào đứng sau
lưng, mừng rỡ, tưởng thím là má, Út hỏi:
- Má đang làm gì đó má?
Cả nhà nghe nói xúc động quá, khóc nghẹn ngào...
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tại nghĩa Trang của Tổng Giáo Phận Pringfield, một thời
gian sau đã có các vị giáo phẩm Việt Nam cùng an táng tại
đây, như Đức Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục, Linh mục
Cao Văn Luận, Linh mục Nguyễn Văn Phương và một số
đông các vị khác.
Nhiều lần chúng tôi định dời mộ má về Denver, nhưng mãi
thời gian lâu sau, việc đời mộ Má về Denver mới được thực
hiện ngày 13 tháng 8 năm 2007.
Trước đó, hằng năm, các con cháu đi về Carthage (MO.) dòng
Đồng Công tham dự Đại Hội Thánh Mẫu, đều có ghé thăm
và dọn sạch sẽ mộ má ở Nghĩa Trang Springfield, MO.
Nguyện xin Chúa Ba Ngôi ban phước lành cho Linh hồn
Anna Nguyễn Thị Hạnh được hưởng phúc trường sinh trên
nước Trời. Đồng thời xin má dấu yêu hãy cầu bầu cùng Chúa
ban cho cha con gặp được nhiều điều may mắn trong cuộc
sống ở trần gian.
C, Di chuyển khỏi Springfield (MO):
Sau khi đã chôn cất má xong, gia đình cha con cảm thấy vô
cùng lạc lõng và như thiếu mất một cái gì. Hình ảnh má cứ
ám ảnh vào đời sống của gia đình. Lúc bấy giờ, tôi mua một
chiếc xe Buick Skylark mới, đời 1977. Tôi đã chở Bé Út và
Ánh Hoa (Bê) đi theo giữ em. Tôi lái xe lên Washington DC,
rồi lại lái về trong mùa đông đầy tuyết.
Suốt dọc đường hai con nằm yên ngủ, riêng tôi một mình cứ
lái xe chạy, lo âu, buồn bã. Khi về đến nhà, mấy đứa con lớn,
nhất là Hằng, thúc giục ba đi khám bác sĩ vì thấy Ba có vẻ bơ
phờ mệt nhọc. Tôi đi Bác sĩ, kết quả cho biết áp huyết của tôi
lên cao và bác sĩ bắt tôi phải uống thuốc ngay. Tôi phải dùng
thuốc cao máu từ dạo ấy.
Tình hình của gia đình ở Springfield rất khó khăn. Nhất là đi
đâu cũng thấy hình ảnh của má. Tuy nhiên vấn đề quan trọng
là việc học hành của các con và công ăn việc làm. Thành phố
Springfield (MO) quá nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu cấp
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thiết đó. Tôi quyết định phải rời khỏi Springfield. Hai địa
phương tôi nhắm tiến tới là Washington DC hoặc Denver,
Colorado.
Sở dĩ tôi chọn hai nơi đó là vì tôi có người thân. Washington
DC có chú Minh, Denver Colorado có gia đình chú thím Toàn
và cậu Thạch. Sau khi làm balance, chúng tôi quyết lên
Denver Colorado. Tất cả gia đình đã di chuyển lên Denver
vào khoảng tháng 06 năm 1977. Đầu tiên mới đến, chúng tôi
tạm trú tại nhà chú thím Toàn, Nhưng sau đó một thời gian
ngắn, chúng tôi đã thuê một căn nhà khác cho tiện việc sinh
sống.
Sang năm 1978, chúng tôi mua căn nhà 705 S. Jersey Street,
Denver, CO. 80223 bằng cách “assume loan”, vì lúc bấy giờ
chúng tôi không có đủ khả năng mua nhà. Các con còn nhỏ
chưa đi làm, ba còn thất nghiệp. Căn nhà 705 S. Jersey Street
đã bán vào năm 1999 và số tiền lời cho hai đứa con út, sau
khi đã tham khảo ý kiến các anh chị và trả các khoản tiền còn
nợ .
Đến Denver, tôi đã đi làm tại Pease Company, một hãng làm
cửa “Deluxe”. Nhờ vào công việc ở hãng này mà tôi trở thành
chuyên viên cưa bàn. Tuy nhiên qua một thời gian ngắn, tôi
đã phải đổi sở làm, qua lời giới thiệu của Nguyễn C. Sum. Sở
mới của tôi là hãng Gate Energy Product. Hãng này chuyên
làm pile và battery, loại pile có thể nạp lại điện được
(rechargeable) dùng cho các T.V. và các máy móc về
Computer.
Làm việc tại đây hơn một năm thì hãng thu gọn lại để có
chương trình di chuyển cơ sở này đến một Tiểu Bang khác.
Do đó, một số đông nhân viên bị sa thải (laid off). Trong số
đó có tôi và con gái, Thanh Hài.
Về nhà, ngẫm nghĩ tuổi già rất khó xin việc, nên tôi quyết
định mở tiệm bán tôm cá (Sea food). Tiệm cá mở ra, sáng có
Mỹ Hằng trông coi, vì Hằng chiều mới đi học Đại Học. Chiều
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lại có Ánh Hoa và Diễm Hà, vì Hoa Hà học buổi sáng. Riêng
tôi thì phải chạy hàng, rất nhiều lúc không có mặt tại tiệm.
Đến ngày 26 tháng 07 năm 1980, Bưu điện lại gọi tôi đi làm
việc. Một điều tôi cũng xin nói là tôi đã đi thi để làm việc tại
Bưu Điện Hoa Kỳ vào năm 1978, và đã trúng điểm tuyển
96/100. Mãi hai năm sau (1980) Bưu Điện mới gọi tôi đi làm.
Sở dĩ năm 1978 tôi đi thi Bưu Điện là do chú thím Toàn giới
thiệu. Hai bác cháu cùng đi thi (Tôi và Kim Anh). Kết quả
hai bác cháu cùng đỗ vào Bưu Điện và đi làm cùng ngày. Kim
Anh đậu cao hơn vì nhanh tay, nhanh mắt hơn. Sau này, Kim
Anh được đề bạt lên chức vụ cao ở trong Bưu Điện và đã xin
thuyên chuyển về California.
Công việc buôn bán tại cửa tiệm “Rocky Mountain Sea Food”
vẫn tiếp tục trong ế ẩm. Tuy nhiên, sau khi hai con gái Hoa
và Hà vào Đại Học, thì lại có trở ngại về giờ giấc nên mới
thực sự khó khăn hơn. Sau cùng tôi quyết định đóng cửa và
trả nhà lại cho chủ phố, để con cái khỏi bỏ lỡ học hành và cá
nhân tôi cũng dễ dàng trong công ăn việc làm.
Cuộc làm ăn thua lỗ này đã gây thiệt hại cho tôi khoảng hơn
hai chục ngàn đô la. Nếu ngày ấy, tôi sang lại một tiệm rượu
(liquor) thì công việc đã phát triển mạnh và thu được nhiều
lợi tức, và cũng ít mệt nhọc hơn. Đã nói tôi là dân nhà binh,
không có tài buôn bán, tính toán… âu cũng là số phận!
Sau khi thanh toán xong tiệm Sea Food, tôi vẫn tiếp tục đi
làm Bưu Điện tại BMC Denver, cho đến ngày 03 Tháng 08
năm 2001, tôi xin về hưu vì tuổi đời đã lớn. Tổng cộng làm
21 năm.
Các con tôi, sau khi đến định cư tại Denver, đã tiếp tục theo
đường học vấn và phần đông đã tốt nghiệp Đại Học. Vấn đề
thành lập gia đình cho các con tôi, tôi sẽ đề cập đến phần sau.
18, TÔI LẬP LẠI GIA ĐÌNH:
Sau khi bà xã Anna Nguyễn Thị Hạnh qua đời, tôi không còn
gì tha thiết đến chuyện lập lại gia đình. Hơn nữa, lúc bấy giờ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
một số các con tôi còn quá nhỏ dại: Tiến 16 tuổi, Hoa 14 tuổi,
Hà 12 tuổi, Thọ 9 tuổi, Trường 7 tuổi, Ngọc Hân 3 tuổi.
Tuy nhiên 6 năm sau, tức là vào khoảng năm 1982, tôi tự cảm
thấy quá cô độc. Các con cái có cuộc sống riêng tư của chúng
nó. Nên tôi bàn với các con về việc tôi định lập gia đình lại.
Trước, tôi định lập gia đình với Trần Thị Quyên, người bạn
học cũ, là một giáo sư Trung học, chuyên dạy về môn Anh
Văn cho các sinh viên ở Việt Nam. Tuy nhiên vì đường sá xa
xôi cách trở, nên việc không thành.
Lúc bấy giờ có anh chị Hồ Châu Tuấn là bạn thân của tôi, đã
giới thiệu cô Maria Lương Thị Yến hiện định cư tại Pueblo,
một thành phố nhỏ ở phía nam Colorado. Yến có người con
riêng là Lương Quốc Lũy.
Sau khi cưới xong vào đầu năm 1982, tôi đã đưa tất cả về
Denver, vì thành phố Pueblo quá nhỏ, không có công ăn việc
làm, mà việc học hành cũng không có trường tốt.
Như trên tôi đã trình bày, tôi định tái lập gia đình với cô Trần
Thị Quyên ở Sài Gòn. Quyên là bạn học cũ của tôi, khi tôi đi
học lại vào năm 1959 để thi tú tài và vào Đại Học. Quyên có
bằng Cử Nhân Văn Khoa và bằng Cao cấp Anh Văn. Hiện
Quyên là một giáo sư Anh văn cho một trường Trung Học
Công lập ở Sài Gòn. Tôi quen Quyên thủa đi học từ dạo ấy.
Nhưng từ năm 1966, khi tôi còn là Thiếu Tá chuẩn bị du học
Mỹ, tôi đã không còn liên lạc với Quyên nữa, vì tôi sợ bà xã
tôi hiểu lầm về sự liên lạc này. Mãi đến sau năm 1976, khi bà
xã tôi đã mãn phần và tôi định tục huyền, tôi mới nghĩ đến
Quyên, nhưng lại không còn địa chỉ.
Tôi chỉ còn biết mang máng cô ở hẻm Phan Thanh Giản,
Dakao Sài Gòn. Thư chỉ đề đơn sơ như vậy, nhưng đã đến tay
nàng và được trả lời. Cô ta rất quí mến tôi và muốn lập gia
đình với tôi. Cô đã gửi cho tôi giấy tờ giả về hôn thú giữa tôi
và cô ta, mục đích là để tôi lập hồ sơ đoàn tụ.
Hồ sơ đã chuyển qua Tòa Đại Sứ Mỹ tại Thái Lan. Mọi việc
đã sắp thành thì tôi khám phá ra... hình như cô ta đã có chồng
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
và có con. Chồng cô ta là một Trung Tá Hải Quân VC, nên
tôi phải chấm dứt ngay.
Tôi quan niệm với tư cách đạo đức, tôi không được ly gián
tình nghĩa vợ chồng người ta. Nhất là khi họ đã có con với
nhau.
Tôi đánh điện tín về cho cô ta, nói dối là vì chờ đợi quá lâu,
nên tôi đã lập gia đình rồi. Cô ta buồn lắm, và yêu cầu tôi cứ
tiếp tục bảo trợ cô nàng và con cô sang Hoa Kỳ để có đời
sống tốt hơn. Tuy nhiên, tôi không làm được vì lý do chia rẽ
vợ chồng người ta, và sẽ có rắc rối với pháp luật Hoa Kỳ.
Không biết kể từ năm 1980, đời sống của Quyên ra sao, vì
chúng tôi không còn có sự liên lạc gì với nhau nữa.
Thời gian trước năm 1980, tôi vẫn lai rai lên Washington DC
giúp cho chú Minh về việc buôn bán hoặc coi ngó cửa tiệm
ăn. Tôi còn nhớ có một ông bạn, trước làm việc tại Lãnh Sự
Quán Việt Nam ở một nước láng giềng. Anh ta giới thiệu cho
tôi một phụ nữ, từng là vợ hai của một tỷ phú Việt Nam. Bà
này cũng đang ở vào tuổi xồn xồn trên 40 và đang mong ước
có một người chồng Việt Nam. Bà ta không thích chồng Mỹ.
Anh ta cho tôi biết là bà ta đang có trong tay ít nhất cũng từ
10 triệu Mỹ Kim. Anh ta chuẩn bị để đưa tôi lên gặp bà ta ở
một thành phố tại vùng Hoa Thịnh Đốn. Tôi đã thẳng thắn từ
chối, vì không muốn mang tiếng đào mỏ!
Và từ đó tôi không gặp và liên lạc gì với anh ta nữa. Ngoài
ra, cũng còn một số phụ nữ bề ngoài trông rất quí phái, cũng
đến gặp gỡ muốn làm quen, nhưng tôi đã từ giã Washington
DC trở về lại Denver.
A, Tái Duyên Với Lương Thị Yến:
Trong một dịp đến nhà anh chị Hồ Châu Tuấn chơi, anh chị
Tuấn có cho tôi biết ở Pueblo có một gia đình đàng hoàng.
Trong nhà có ông Cụ và hai người con gái. Sau một lúc nói
chuyện, trao đổi ý kiến, anh Hồ Châu Tuấn đề nghị tình
nguyện chở tôi xuống Pueblo chơi và xem mặt. Tôi đồng ý.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khi chúng tôi đến nhà thì đã quá trưa, trong nhà vừa ăn cơm
trưa xong. Ông cụ mời chúng tôi dùng cơm trưa cho tiện. Anh
Tuấn vui vẻ chấp nhận, vì đã quen thân trước. Và hai chúng
tôi ăn cơm với nhau một cách tự nhiên, như đã quen thân với
gia đình ông cụ lâu ngày.
Trong gia đình cụ Sang, chỉ có cụ, chị Phượng, Yến và bé
Lũy. Vì vóc dáng chị Phượng nhỏ, nên tôi có tư tưởng Yến là
chị mà chị Phượng là em. Không biết tại sao khi gặp Yến,
mặc dầu ngồi xa, nhưng nhìn “profile” hơi giống Hạnh, nên
tôi có cảm tình ngay, mặc dầu chưa biết tánh tình và tư cách
đối xử của nàng ra làm sao. Vì cảm tình đó, nên tôi quyết định
hẹn Yến một cuộc gặp gỡ trong tương lai.
Khi đã quen thân với nhau và đã có cảm tình với nhau, trong
một tình cờ, tôi mới được biết Yến đang còn quá nhỏ tuổi, đối
với tôi. Như vậy không cùng đồng trang ngang lứa với nhau.
Tôi suy nghĩ đắn đo.
Một hôm tôi nói thẳng với Yến về sự suy nghĩ của mình về
tuổi tác. Đồng thời đề nghị với Yến, chúng ta chỉ là bạn quen
biết nhau thôi, đừng nghĩ gì đến việc hôn nhân nữa. Yến đã
trả lời là ăn thua gì, chúng ta vẫn cứ tiến tới đường lối của
mình, Yến cho rằng đó là số mạng của chúng ta. Đã gọi là số
mạng thì suy nghĩ lo âu về tuổi tác không còn đặt thành
vấn đề nữa.
Tuy nhiên, tôi vẫn đắn đo. Tôi nhận thấy luật đời luật đạo,
không có điều khoản nào cấm lấy vợ hay lấy chồng trẻ tuổi
hơn mình đâu? Với ý nghĩ đó, chúng tôi xúc tiến mạnh đi đến
việc thành hôn.
Riêng tôi, tôi đã trình bày với con cái trong gia đình. Tôi và
Yến đã vào gặp cha sở Pueblo, chúng tôi làm giấy tờ cam kết
và quyết định sẽ có một con với nhau, theo giấy tờ của cha sở
giao cho chúng tôi điền ký vào lúc chúng tôi vào trình sự việc
với ngài.
Chúng tôi đã làm lễ thành hôn với nhau vào ngày Thứ Bảy,
30 tháng 01 năm 1982. Trong Thánh Lễ thành hôn, có linh
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
mục Việt Nam Trần Văn Minh đồng tế và còn một số quan
khách Mỹ, bạn của gia đình Yến tham dự khá đông đảo.
Gia đình con cái cháu chắt của tôi họp mặt khá đông đủ. Có
sự hiện diện của chú thím Toàn, cháu Liễu con chú thím
Minh, và anh chị em bên nhà gái của Yến. Sau Thánh Lễ,
chúng tôi có mời cha Sở, cha Minh và bà con, con cháu đến
ăn mừng trong bữa cơm trưa tại nhà hàng La Renaissance tại
Pueblo. Tại nơi đây, Yến đang làm việc hằng ngày.
Khi về lại Denver, chúng tôi có tổ chức một buổi tiệc ra mắt
với bạn bè thân hữu. Trong bữa tiệc, nhiều ông bạn riễu cợt,
đùa giai, vui nhộn.. . đánh dấu một cuộc đời mới của chúng
tôi.
Để tiết kiệm tài chánh, chúng tôi đã thuê một căn phòng rộng
thuộc Recreation and Park Center của tòa Thị Chính Aurora.
Chúng tôi nhờ các bà thân quen, chuyên môn nấu các món ăn
mang đến. Trong số các bà này, tôi phải cám ơn bà Trần
Trường Châu, bà Nguyễn Điều là những người đã có lòng
giúp đỡ chúng tôi thực hiện thành công bữa tiệc ra mắt hôm
ấy.
Sau những nghi lễ thành hôn hoàn tất, tôi xin phép bên nhà
gái được đưa Yến về Denver. Chúng tôi đã bàn với cụ Sang
nên dời gia đình về Denver, để còn có môi trường gần con cái
học hành và dễ dàng cho công ăn việc làm sau này. Cụ đã
đồng ý và chúng tôi xúc tiến ngay việc di chuyển về Denver,
Colorado.
B, Mua Nhà Tại Baker Place (Aurora): Sau hai năm, khi
chúng tôi đã mua nhà tại Aurora, tôi đã mời cụ Lương V.
Sang (nhạc phụ) về sống chung với chúng tôi. Lúc bấy giờ,
chúng tôi đã có được một bé trai vào ngày 11 Tháng 10 năm
1983, đặt tên Nguyễn Đình Joseph, nick name là cu Bờm. Sự
hiện diện của cụ trong gia đình, đã giúp đỡ chúng tôi rất
nhiều, vì cả hai chúng tôi đều đi làm mà thằng bé chẳng có ai
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ở nhà chăm sóc. Công ơn của cụ không bao giờ chúng tôi dám
quên.
Tôi đã thực sự thương mến và săn sóc cho cụ trong những
ngày cụ đau yếu. Tuy nhiên vì bạo bệnh (Ung thư phổi), Cụ
đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 25 tháng 08 năm 1993,
hưởng thọ 74 tuổi. Sau đó đã được an táng tại nghĩa trang ở
Boulder.
Mộ phần của cụ tọa lạc gần mộ cậu Cảnh, người con trai út
và mộ của bà dì mới được cậu Vinh đưa từ Việt Nam qua,
cũng được chôn cất tại nghĩa trang này.
Lên Denver một thời gian, Yến đi xin việc làm tại nhà hàng
Marriott ở downtown Denver. Lương tiền không cao, nhưng
đi làm cho khuây khỏa. Sau đó, có kỳ thi vào Bưu Điện, Yến
nạp đơn đi thi trúng tuyển, nên vào năm 1986 Yến được gọi
đi làm Bưu Điện.
Tánh Yến khi nói chuyện trong nhà thích gì nói nấy, lại rất
nuông chiều con cái. Tuy vậy khi giao thiệp với người ngoài,
Yến cũng lịch sự trong đối thoại. Đối với Yến, con cái là trên
hết, nhưng làm biếng đi lễ ngày chủ nhật. Tôi hằng cầu
nguyện cho Yến về điểm này.
C, Mua Nhà Tại Peoria Park, Aurora:
Năm 1995, chúng tôi bán căn nhà 16156 E. Baker Place, CO.
80013, và mua một căn nhà khác tại Evans Ave. Aurora, CO.
80014-1148. Hiện chúng tôi đang cư ngụ tại đây khi viết tập
Hồi Ký này.
Đây là một căn nhà tương đối rộng rãi (2,350 Square feet).
Nhà có hai tầng, tầng trên có 4 phòng ngủ, phòng dưới có một
phòng khách rộng, có phòng ăn tương đối vừa phải, có bếp
rộng và trong bếp có chỗ để bàn ăn (nook) trong gia đình. Sau
hết là phòng gia đình (Family room) tương đối rộng rãi thoải
mái. Nhà này có một basement (tầng hầm) cũng rộng như hai
phòng trên nhà, chỉ để chứa đồ đạc.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
19. CÁC CON CÁI CỦA TÔI:
Tôi xin cúi đầu cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi 12 người
con, 11 người con do Anna Nguyễn Thị Hạnh, người vợ đạo
đức hiền hậu đã ban cho tôi. Còn một người con thứ 12 là do
Maria Nguyễn Thị Yến đã sinh cho tôi ở Hoa Kỳ. Một cách
tổng quát, đàn con yêu dấu của tôi, đứa nào cũng tốt lành,
thương yêu nhau và kính trọng cha mẹ.
A, Người con đầu là PhaoLô Nguyễn Đình Thường: Sinh
năm 1949. Khi Hạnh có thai ở Đồng Hới, gần ngày sinh tôi
đã phải cho Hạnh về quê ở làng Đơn Sa, để áp dụng theo quan
niệm từ ngàn xưa “Con so về nhà mẹ”. Chị Huệ (dì Ký) là chị
ruột của Hạnh, đã đưa Hạnh về làng. Cả nhà ông mệ ngoại
mừng lắm, nâng niu chăm sóc Hạnh từng li từng tí, không
cho làm việc nặng, không cho đùa giỡn thái quá, đi đứng phải
khoan thai nhẹ nhàng. Hạnh vừa chuyển bụng đau thì cả nhà
đã chạy ra quỳ trước bàn thờ cầu xin Chúa cho bằng an. Khi
sinh rồi ông bà ngoại rất thương yêu chiều chuộng cháu, đúng
là “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Một thời gian
sau, mẹ con trở lại Đồng Hới để sinh sống với tôi. Tôi quyết
định vào Huế để vào làm việc tại Ty An Ninh Thừa Thiên,
theo lời mời của anh Hoàng Bá Linh, Trưởng Ty. Vì vậy, năm
1950, tôi và gia đình di chuyển vào Huế. Anh Hoàng Bá Linh
đã dành cho tôi hai phòng ở dãy nhà phụ của Ty. Chúng tôi
sống thoải mái, vì gia đình chỉ có hai vợ chồng, một con trai
là Thường và một cậu bé giúp việc tên Nguyễn Thìn. Thìn lo
giúp việc trong nhà và bồng em. Nguyễn Thìn là một cậu bé
rất giỏi. Một mình nó dám lội xuống hồ sen hái củ, dám trèo
lên cây cao bẻ cành khô làm củi đun bếp, v.v.
Khi vào Huế, chúng tôi ở vườn Canh Nông của Ty Công An
Thừa Thiên. Thường còn quá nhỏ chưa đi học được, hằng
ngày được má hay anh Thìn bồng đi chơi. Khi còn nhỏ,
Thường hay có tật cạp vôi, đất trên các tường, có lẽ cơ thể
thiếu chất vôi (calcium) chăng?
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khi Thường được khoảng 5, 6 tuổi, tuổi mẫu giáo, Thường
được Ba chở lên trường các sư huynh Kim Long, cho ăn ở
nội trú. Hai ngày sau, Ba trở lên xem tình hình học hành của
Thường ra sao. Thường đang ngồi học trong lớp, thấy xe Ba
chạy vào trường, là vội nhảy ra khỏi hàng ghế, tức tốc chạy
ùa ra sân, ôm chặt lấy Ba nhất định đòi về và không vào lớp
học nữa. Ba phải thưa với các Sư Huynh để cho Thường về
nhà một thời gian đã, vì còn nhỏ mà phải xa nhà nên nhớ cha
mẹ và các em. Sau đó khi bảy tuổi, Thường được đưa gởi cho
các soeur dòng Kim Đôi ở Truồi, cùng với em Hương 5 tuổi,
Tuấn 3 tuổi cho có anh em, và má sắp sinh em Hằng.
Tánh tình Thường hiền hậu, ít nói, an phận, không đua đòi và
rất thương yêu Ba Má và các em. Bẩm sinh thông minh,
nhưng không biết tại sao khi còn nhỏ có vẽ lười học. Có lẽ
khi còn bé có bệnh chảy mủ tai, mà lúc bấy giờ không có
thuốc thích đáng để chạy chữa kịp thời, gây ảnh hưởng đến
sức khỏe, làm cho con người mệt mỏi, uể oải chăng? Tuy
nhiên anh có trí nhớ dai. Hệ thống đường sá chỉ cần đi một
lần là đã in vào đầu. Ngoài đức tính hiền hậu, ít nói, không
ba hoa, anh lại là người chụp hình đẹp, lịch thiệp hiếu khách,
hay giúp đỡ bạn bè một cách thành tâm. Vì sự thành thực và
tốt đối với bạn, nên đôi khi gặp những người hay lợi dụng, có
thể dùng danh từ lạm dụng là đàng khác, đối với anh.
Khi Thường còn nhỏ, một hôm chú Minh đến chơi, thấy
Thường có vẻ buồn buồn, ngồi một mình. Chú hỏi: "Cháu
Thường có gì buồn không con?” Thường trả lời: "Dạ có”, Chú
Minh hỏi: "Buồn gì vậy?” Thường tự nhiên: "Dạ, buồn ngủ!”
Chú Minh cười và hết ý kiến.
Anh kẹt lại Việt Nam sau 1975, và lập gia đình với chị
Nguyễn Thị Niên, con gái ông bà Nguyễn Thọ vào ngày 09
Tháng 06 / 1975 tại Phú Nhuận, Sài Gòn, sau ngày chúng tôi
di tản hơn một tháng.
Ông bà Thọ là người đạo đức, đàng hoàng. Chị Niên là con
nhà gia giáo, cháu nội ông bà Tư Chữ và là cháu ngoại ông
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
bà Bang Nghiệp, là những người danh tiếng và có uy tín trong
làng mà chúng tôi đã có ý định làm sui gia, khi ông bà Thọ
đang làm việc tại Đại Học Huế, và cô Niên đang học tại Đại
Học này. Có thể nói, anh chị Thường được dựng vợ gã chồng
là do cha mẹ định đoạt đúng theo phong tục tập quán Việt
Nam, và lẽ dĩ nhiên có sự ưng thuận của anh chị.
Biến cố 1975 đã làm xáo trộn mọi sự. Ông bà Thọ và gia đình
đã phải chạy từ Huế vào Sài Gòn lánh nạn một tháng, trước
khi Huế thất thủ từ tháng 3 năm 1975. Tiếp theo Sài Gòn thất
thủ vào ngày 30/4 năm 1975. Chúng tôi đã phải di tản ra nước
ngoài. Tôi đã có kế hoạch cho người đón anh Thường vào
ngày 30/04/75. Nhưng khi người đón đến nhà ở đường
Trương Tấn Bửu, thì anh Thường vắng mặt, đang đi chơi ở
nhà ông bà Thọ ở tại Pétrus Ký, nên việc đón anh không thể
thi hành được. Do đó, anh bị kẹt lại tại Sài Gòn. Và cũng nhờ
anh bị kẹt lại, anh mới thành hôn với cô Nguyễn Thị Niên, do
ông bà Thọ sắp xếp lo liệu như đã định trước, nhưng vì thời
cuộc chưa thực hiện được. Đám cưới của anh chị Thường
Niên được tổ chức vào những năm quê hương mới mất tại
nhà thờ họ đạo Phú Nhuận, nên mọi việc sắp xếp và tổ chức
đơn sơ, vì lúc bấy giờ chưa liên lạc với nhau được, giữa quốc
nội và hải ngoại.
Nguyễn Thị Niên là một người con gái đạo đức, lanh lợi, biết
lo lắng cho gia đình. Mặc dầu không trực tiếp lo liệu lễ thành
hôn, nhưng chúng tôi rất tin tưởng sự khôn khéo của ông bà
Thọ. Vì ông bà Thọ là người tháo vát, biết phản ứng kịp thời
trong mọi hoàn cảnh khó khăn.
Ông bà đã lo lắng cho hai con một cách chu đáo, tốt đẹp.
Chúng tôi cám ơn ông bà xui. Rất tiếc khi tôi viết mấy hàng
này thì ông bà đã qua đời.
Trong giờ phút này tinh thần lắng đọng. Tôi xin có lời cám
ơn anh chị đã lo lắng đầy đủ cho con cái. Nguyện xin Thiên
Chúa chúc phúc lành cho anh chị nơi cõi vĩnh hằng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Anh chị Thường Niên có hai người con một gái và một trai.
Người con gái đầu tên Nguyễn Đình Tuyết Trinh, sinh ngày
14/04/1976. Cháu xinh đẹp, thông minh, hát hay… đã tốt
nghiệp Đại Học 4 năm về Art Science tại Đại Học Boulder,
Colorado. Tuyết Trinh đã thành hôn với Nguyễn Công Danh,
con trai ô. bà Nguyễn Công Sum vào ngày 25 Tháng 08 năm
2001, và có hai con gái xinh đẹp là Melody & Stella Nguyễn
Người con thứ hai là Dominic Nguyễn Đình Quốc Nguyên,
sinh vào ngày 09/08/1977. Hiện Nguyên đang làm việc tại
Bưu Điện Denver. Tháng tư năm 2010, cháu Nguyên lấy vợ
lần thứ hai bên Việt Nam, sau khi cuộc hôn nhân thứ nhất tan
vỡ. Vợ chồng đã cưới nhau tại Bình Thuận , và cô dâu tên là
Hồ Hồng Phương rất được lòng mọi người, bên gia đình
chồng thương mến.
B, Người con Thứ Hai là Nguyễn Thị Thanh Hương, tên
sinh hoạt văn nghệ và vẽ tranh là Diễm Châu (Cát Ðơn Sa):
Sinh ngày 12 tháng bảy năm 1951 tại Thành Nội Huế. Lúc
này tôi vừa thi trúng tuyển vào Quân Đội với cấp bậc Trung
sĩ đồng hóa. Tôi được làm việc tại Quận Bắc, đóng tại An Lỗ,
Thừa Thiên. Làm việc tại Quận Bắc được khoảng 5 tháng, thì
Quận Bắc giải tán, tôi lại được thuyên chuyển về Võ Phòng
Thủ Hiến Trung Việt.
Khi bà xã tôi sinh Thanh Hương, thì bà má vợ tôi phải lặn lội
từ ngoài làng vào Huế chăm nuôi. Tội nghiệp bà ngoại, suốt
ngày bận rộn theo con, theo cháu. Vì ngoài Thanh Hương còn
có anh Thường, mới hai tuổi. Trong nhà lúc bấy giờ có anh
Thìn, con ông bà Biện Sửu ở ngoài làng, vào giúp việc vặt
trong gia đình. Là con trai, anh cũng chẳng giúp được việc gì
nhiều. Anh Thìn còn muốn kiếm thêm tiền riêng, xin phép đi
bán cà rem buổi sáng, chiều mới về phụ việc cho bà ngoại.
Ai cũng biết ở Việt Nam lúc bấy giờ cuộc sống đang thô sơ,
làm gì có máy giặt, máy sấy hoặc cầu tiêu trong nhà. Hằng
ngày, cụ ngoại phải mang áo quần tã lót ra sông An Cựu giặt
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
giũ. Tình trạng thật là khó khăn cho một cụ già yếu đuối, bệnh
hoạn. Tuy nhiên bà ngoại vẫn cố gắng, vui vẻ và miệng bà
ngoại vẫn luôn luôn cười tươi. May là chẳng có khi nào bị
sẩy chân xuống dòng nước. Ấy thế mà bà ngoại chẳng khi
nào mở miệng than van, ngại khổ, ngại khó.
Lòng thương yêu của các bà mẹ Việt Nam đối với con cháu
là như vậy. Cao quí thay! Chẳng bù cho một số các bà mẹ
thời nay bị Âu Hoá, tôi nhấn mạnh là chỉ “một số” thôi, vì
lòng thương yêu hy sinh cho con cái của các bà mẹ Việt Nam
vẫn y như cũ.
Thanh Hương lớn mau, kháu khỉnh hay cười giống mệ ngoại.
Khi còn nhỏ thích làm dáng, tự chọn mặc áo quần, giày dép
đẹp, hay soi gương ngắm nghía, vuốt tóc. Cũng hay sửa sang
quần áo cho anh Thường và cõng em Tuấn đi chơi... Cũng vì
tật thích cõng mà có lần Hương 9 tuổi cõng chị Lan 18 tuổi,
con nuôi dì Ký bị trẹo chân đi cà nhắc, nhà thương Grall chữa
cả tháng không khỏi, má lo lắng quá đành phải nghe lời người
ta đưa đến 1 ông thầy ngãi, ông ra sân đào củ ngãi, đem vào
ngậm rượu phun vào chân ba lần, hôm sau hết cà nhắc! Lạ
thật!
Hương nhạy cảm, có đầu óc sáng tạo, ca hát ngay thời kỳ còn
bé. Hằng ngày vẫn quan sát công việc bếp núc theo lịnh má,
nhưng lại không chú tâm cho lắm để học hỏi, mà lại suy nghĩ
đâu đâu... Lúc còn nhỏ, những khi Ba đi làm về, xe Jeep vừa
đậu trước cửa là các con chạy ra đón theo lời chỉ vẽ của má.
Đứa thì đi lấy dép, đứa cất giày, chúng lăng xăng trông thật
dễ thương. Lớn hơn chút nữa, Ba Má gửi Thường, Hương,
Tuấn vào trường học các bà soeurs Kim Đôi ở Truồi từ khi
tuổi còn rất nhỏ, rồi trường Lasan Tabert, Providence, Regina
Pacis… hoặc trường các cha, v.v.. mục đích là để được dạy
dỗ theo đường lối đạo đức thánh thiện. Thanh Hương cũng
được vào học trường các bà soeurs như vậy.
Lúc bấy giờ, có nhiều trường các Soeurs sẵn sàng nhận các
con tôi vào trường các bà. Lý do cũng dễ hiểu, vì các cha, các
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thầy, các soeurs thuộc các dòng tu đều được Ba giúp đỡ
phương tiện chuyển vận nhà binh để xây cất nhà thờ, nhà
dòng, trường học. Do đó các ngài rất nể Ba Má, và cố gắng
mời mọc đem các con vào trường dòng của các ngài, để dễ
dàng nhờ giúp các phương tiện chuyển vận. Tôi cũng thầm
biết như vậy. Tuy nhiên, tiền ăn ở nội trú và học hành đều
được bà xã tôi thanh toán sòng phẳng, không bao giờ lợi dụng
một điểm nào, do đó các Frères, các Soeurs rất kính nể, thán
phục.
Khi vào Trung học ở Sài Gòn, Ba gửi Thanh Hương học ở
Saint Thomas đường Trương Minh Giảng, Sài Gòn. Lúc bấy
giờ Hương đã 17 tuổi, tuổi cặp kê. Hương được Nguyễn Xuân
Nam (biệt hiệu Quốc Nam) làm quen.
Chúng tôi có ý muốn con gái lập gia đình với những người
quen biết, đã ước hẹn với cha mẹ từ trước, tuy tuổi đời của
cháu còn nhỏ, học hành chưa xong, nhưng cháu không ưng
chịu điều nầy.... Do đó, khi đi học, Hương có nhiều anh chàng
theo đuổi.... Ðể được vợ, bố mẹ Quốc Nam đã đến nhà muốn
tổ chức lễ đính hôn. Chúng tôi biết Thanh Hương còn nhỏ,
chưa ý thức được thế nào là hôn nhân, thế nào là đời sống gia
đình.
Nhưng bên nhà trai muốn tiến tới đám cưới. Chúng tôi chưa
trả lời vì Thanh Hương đang còn đi học, hơn nữa lúc bấy giờ
còn có một vài mối khác xin hỏi. Sau cùng tôi cũng bằng lòng
vì Quốc Nam là một cựu sinh viên Sĩ quan đàn em trường Võ
Bị Quốc Gia Đà Lạt Khóa 22.
Sau một thời gian chung sống, hai người ly dị năm 1987 tại
Mỹ. Hương & Nam có ba con. Đó là Nguyễn Xuân Diễm Thu
(BiTy), Nguyễn Băng Trinh (Bé Ly) và Nguyễn Việt Long
(Cu Bee).
Thời gian sau, 1995 Thanh Hương kết hôn với Võ Hùng Kiệt,
tức Họa sĩ Vi Vi. ViVi là một họa sĩ kiêm điêu khắc gia tên
tuổi tại Việt Nam, công dân Canada, nay định cư tại Hoa Kỳ.
Anh đã từng thực hiện nhiều bức tranh lớn cho nhiều nhà thờ
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Mỹ và Việt ở hải ngoại, cùng các tác phẩm điêu khắc có giá
trị.
Khi mới sống chung với nhau, Hương đã làm lụng khá vất
vả... vì ViVi từ Canada qua, còn rất xa lạ với mảnh đất mới.
Kèm theo đó, Hương vừa đi làm, vừa chủ trương tờ báo “Phụ
Nữ Thời Nay Hải Ngoại” ở San Diego, với sự trình bày và
minh họa của ViVi... cũng như Hương tổ chức nhiều chương
trình phát thanh, văn nghệ, in sách thơ văn.... mục đích giới
thiệu sinh hoạt của họa sĩ ViVi đến với cộng đồng Việt tại
USA.
Đây là công việc bảo tồn văn hoá tốn nhiều công sức, gây
tiếng vang nhưng chỉ là đem vui tươi cho đời..., thực tế chẳng
có lợi ích gì cho việc sinh sống. Cho đến bây giờ, Hương còn
chủ trương một trang web chuyên về hội họa, mang tên:
www.hoasivietnam.com, có nhiều đọc giả yêu hội họa ghé
thăm... cũng chỉ vì tính yêu thích văn nghệ!
Về con cái của Thanh Hương như đã nói, có Nguyễn Diễm
Thu (BiTy) sinh năm 1970 tại Sàigòn, con gái đầu lòng đẹp,
thông minh, tự lập trong hoàn cảnh khó khăn và chăm chỉ học
hành, tốt nghiệp Đại Học San Jose về Business. BiTy còn có
tài chụp hình đẹp, rất “professtional”.
Ngày 24 tháng 5 / 2004, Bity đã thành hôn với 1 chàng trai
người Mỹ tên Brett Krosgaard, con của một bác sĩ. Brett làm
việc về ngành Bất Ðộng Sản. Có hai con trai kháu khỉnh là
Eliot sinh tháng 10 năm 2005 & Kai sinh năm 2007. Kai đã
được 1 công ty Sữa của Mỹ xin đăng hình quảng cáo in lên
hộp sữa cho hãng của họ. Diễm là người đã chụp bức ảnh rất
nghệ thuật đó. Hiện gia đình Diễm & Brett định cư tại Austin
TX.
Còn nhớ khi sanh Diễm Thu ở bệnh viện Ðức Chính tại Sài
Gòn, Hương đau bụng trong giờ giới nghiêm, phải chở đến
nhà thương bằng xe jeep của ông ngoại. Bà ngoại luôn luôn
túc trực bên cạnh mẹ cháu tại nhà thương. Vì thai quá lớn,
bác sĩ phải dùng máy hút nhiều lần mới sanh được. Khi ra
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
ngoài, đầu của BiTy bị kéo dài ra. Sáng hôm sau, ông ngoại
mặc quân phục vào thăm, thấy hình dáng của cháu như vậy
ông bà ngoại rất lo lắng. Bà ngoại bảo ông hỏi bác sĩ, bác sĩ
cho biết “Xin hai bác yên tâm, chỉ một lát hình dáng đầu của
cháu bé sẽ trở lại bình thường. Xin hai bác đừng có lo..."
Mặc dầu vậy, ông bà ngoại vẫn lo như thường. Ông ngoại vì
bận việc quân sự, phải từ giã baby và mọi người, lái xe về
Căn Cứ Long Bình. Riêng bà ngoại và bà Dì Ký (chị bà
Ngoại) vẫn ở lại bên mẹ con cháu trong nhà thương cho đến
khi mọi việc đã yên lành tốt đẹp. Khoảng một hai giờ sau,
ông gọi điện thoại lại hỏi xem đầu của cháu ra sao? Khi nghe
tin đầu của cháu đã trở lại bình thường, ông ngoại mừng lắm
và chiều hôm đó đã trở lại nhà thương thăm cháu.
Người con gái thứ hai của Thanh Hương là Helena Băng
Trinh Nguyễn (Bé Ly) sinh năm 1971. Bé Ly xinh đẹp, tánh
tình dễ thương, ăn nói rất nhỏ nhẹ... Lúc nhỏ, cứ chạy chơi
nhà hàng xóm một chút, lại chạy về ôm hun mẹ một miếng
rồi mới đi chơi tiếp... Khi còn bé ăn cơm, có đùi gà thì hay
thứ gì ngon, thì để dành ăn sau cùng... Bé Ly có một con trai
là Joseph Nguyễn sinh năm 1990, sau đó kết duyên với một
thanh niên Phi lai Tàu tên Dennis, có thêm 2 con, 1 gái là
Juliette Hạnh Nguyễn sinh năm 1998, và 1 trai là Matthew
Nguyễn sinh năm 2001. Joseph Nguyễn đã thụ huấn khoá sĩ
quan MP (Quân Cảnh) xuất sắc, cựu SVSQ trường West
Point. NY.
Bé Ly đã mất ngày 26 tháng 2 năm 2002 lúc 31 tuổi, trong
một tai nạn xe cộ tình cảnh rất thương tâm! khi các con còn
quá nhỏ, chưa biết gì. Đó là một điều đáng tiếc cho gia đình.
Người con thứ ba là Nguyễn Việt Long, sinh năm 1981 tại
Seattle, WA. nhà thường gọi là Bam Bee. Việt Long cũng đã
xong Đại Học tại Santa Cruz, CA., hiện làm việc tại Irvine,
CA., được ông ngoại, mẹ và các cậu dì thương yêu. Long còn
độc thân, vẫn đi làm từ ngày ra trường đến nay.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Thanh Hương có nhiều tài năng về văn nghệ, như hát hay từ
thuở nhỏ, nhưng chúng tôi chỉ cho hát ở trong trường Sao
Mai, và ca đoàn trẻ em nhà thờ chính toà Ðà Nẵng. Sau nầy
Hương đi hát được báo chí tặng danh hiệu “Dân Ca Chi Bảo”,
ra mắt 1 số băng Cassette và 7 CD thơ nhạc. Ngoài ra Thanh
Hương còn viết văn, xuất bản những truyện ngắn, dài... ký
tên là Diễm Châu TNQG, cùng nhiều bút hiệu khác.
Bây giờ sống chung với ViVi, lại "lây" qua nghề vẽ, dù không
hề học từ chồng... những bức vẽ khá đẹp, tôi thường thấy các
bìa báo trên khắp thế giới in tranh của Hương thường xuyên,
mỗi khi đến chơi nhà Hương Vi... Những bức vẽ đó được
Hương ký tên là Cát Đơn Sa để nhớ về làng Đơn Sa Quảng
Bình. Hai vợ chồng cũng hay đi triển lãm chung với nhau
khắp nơi. Ngoài khả năng thiên phú về âm nhạc, viết lách, vẽ
tranh, Thanh Hương còn khéo tay trong chuyện bếp núc,
trang trí. Hương nấu ăn ngon, lo lắng mọi thứ trong nhà, lau
chùi dọn dẹp từ trong ra ngoài, kiêm luôn việc trả "Bill" trong
gia đình. Nhiều tài, nhiều việc... nhưng hiện tại thì gia đình
yên ấm, vui vẻ. Ðây là một đứa con có tính cách và dính líu
đến hai chữ "nghệ sĩ" nhất trong nhà. Gia đình Hương - ViVi
hiện cư ngụ tại San Diego, California.
C, Người con thứ ba của chúng tôi là Phao Lồ Nguyễn
Đình Tuấn: sinh năm 1953 tại Tam Tòa (Đồng Hới, Quảng
Bình), khi tôi đang theo học khóa 8 tại Trường Võ Bị Liên
Quân Đà Lạt. Lúc bấy giờ, may nhờ bà chị vợ là dì Ký lo lắng
chăm sóc trong ngoài, cùng lo cho các cháu, kể cả vấn đề sanh
nở của bà xã tôi.
Dì đã đóng vai như bà mẹ trông nom săn sóc cho con gái.
Công ơn của dì Ký khá to lớn đối với gia đình tôi. Chúng tôi
và các cháu luôn luôn mang ơn dì. Hình như thời gian đó,
dượng Ký đang ở ngoài làng. Sau dượng vào Đồng Hới lo
công việc lái xe, thường xuyên vắng nhà, nên dì mới có nhiều
thì giờ lo cho gia đình tôi như vậy.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Dượng Ký lúc bấy giờ là một trai tráng khỏe mạnh, chăm chỉ
lo công ăn việc làm, mà anh chị chưa có con, mặc dầu đã lập
gia đình lâu. Anh Ký là người chân thật, hiền lành, đạo đức.
Anh cũng thương yêu và lo lắng cho gia đình tôi rất nhiều.
Kỳ nhà tôi di tản qua Mỹ năm 1975, anh bị bệnh nan y và mất
sau đó. Cháu Phượng con gái anh chị sau này tháo vát và lanh
lẹ không thua gì Dì khi còn là thiếu nữ xuân xanh.
Nguyễn Đình Tuấn rất kháu khỉnh khi còn nhỏ. Tuấn bị bịnh
đau lỗ rốn, xức nhiều loại thuốc mà vẫn bị chảy nước. Má và
dì Ký phải lau rửa bằng thuốc tím hằng ngày và rắc bột thuốc
trụ sinh. May mắn một thời gian sau, rốn khô lại và lành luôn.
Khi còn nhỏ, Tuấn rất thích chơi điện. Cái gì Tuấn cũng cắm
vào lỗ điện (outlet). Ba má cấm mãi mà vẫn nghịch, không
vâng lời... vẫn thích chơi tất cả cái gì có trong tay đều được
cắm vào lỗ điện.
Một hôm, cu cậu cầm sợi giây nối diện, không biết lấy ở đâu,
cắm vào lỗ điện. Tay mằn mò sao đó, bị điện giật cho một
phát. Anh khóc ré lên, mặt tái mét. Từ đó anh không còn dám
rờ vào giây điện và các lỗ cắm điện nữa. Kinh nghiệm đau
thương là một bài học có hiệu lực nhất. Tuy nhiên, may đó là
điện có áp suất thấp. Gặp điện cao thế (high voltage) thì rất
nguy hiểm đến tính mạng.
Khi nhỏ 3 tuổi, có lần ba má cho Tuấn theo anh Thường, chị
Hương học nội trú ở Truồi vì má đang có bầu chị Hằng, Tuấn
nhớ má nên bám theo chị Hương như cái đuôi từ ăn đến ngủ
cũng nằm chung với chị, khi ngủ có lúc đái dầm ướt cả quần
áo chị, mà khi các soeur hỏi “sao mà khai thế”? thì Hương lại
ngây thơ trả lời “chắc trời nóng nên con ra mồ hôi nhiều”!
Sau nầy ba má cho Tuấn học ở Trường các thầy dòng Tabert.
Anh học giỏi và chuyên cần. Tuấn đã đậu bằng thành chung
Pháp khi học xong 4ème année (Brevet complémentaire). Sau
khi đậu bằng brevet, Tuấn được đổi sang học tại Trường
Trung học Chu Văn An để học thi Tú tài. Tốt nghiệp tú tài
toàn phần xong, Tuấn được nhận vào Đại học Minh Đức, học
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
về “Khoa Canh Nông”. Đại Học Minh Đức lúc bấy giờ do
Linh Mục Bửu Dưỡng làm Viện Trưởng.
Tuấn đang học năm thứ ba thì biến cố 30/04/75 xảy đến và
đã phải cùng Gia Đình di tản qua Hoa Kỳ. Chuyến di tản gia
đình lần này không có Ba cùng đi. Do đó, mọi việc đều giao
cho Tuấn hướng dẫn và đảm trách. Vì lẽ, má không nói được
tiếng Anh, trong khi các em còn quá nhỏ dại. Mọi việc liên
lạc với Mỹ, đều do Tuấn đại diện. Còn Ba thì phải ở lại lo
lắng nhiệm vụ quân đội cho đến khi tan hàng!
Đến đất Mỹ định cư tại Springfield MO., vì thành phố nhỏ
không có những trường Đại Học khá, nên đến năm 1977, sau
khi má qua đời một năm, thì cả gia đình dời sang Denver,
Colorado. Tại Đại học Metropolitain Denver, Tuấn đã tốt
nghiệp kỹ sư điện tử (Electronic Engineer).
Kể ra, sự học của Tuấn cũng thật vất vả. Khi ở MO., chân ướt
chân ráo vừa tản cư sang Hoa Kỳ, thành phố Springfield.
Tuấn vừa đi học vừa đi làm việc rửa xe. Sau một thời gian,
vừa đi làm cho hãng bán xe. Công việc hằng ngày cực khổ
mà không có xe đi, phải chạy bộ. May mắn sau đó, có một bà
Mỹ cho mượn chiếc xe đạp để đi làm. Trước khi rời
Springfield, Tuấn đã lau chùi kỹ lưỡng, và trả chiếc xe đạp
lại cho bà với lời cám ơn nồng nhiệt.
Khi còn học Trung học ở Sài Gòn, Tuấn có quen biết một cô
bạn gái, cô Hoàng Thị Nga, con ông bà Hoàng Quốc Lữ. Trên
thực tế thì tôi rất quen Hoàng Quốc Lữ. Ông ta trước kia làm
việc tại Công Thự Tạo Tác Huế, hơn nữa Lữ là em ruột của
Hoàng Chuộng, mà Chuộng là bạn thân của tôi. Chúng tôi
quen biết nhau khi Hoàng Chuộng còn làm việc tại Phòng
Tổng Quản Trị Quân Khu 2 Huế. Thế nhưng khi nghe Tuấn
nói rằng cô Nga con ông bà Lữ, thì tôi chưa biết Lữ nào, vì
tên Lữ thơ mộng nên nhiều người đặt. Tôi gặp Thiếu Tá Trần
Thừa, một Sĩ quan làm việc dưới quyền chỉ huy của tôi. Thiếu
Tá Thừa hỏi:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
- Nghe đâu Đại Tá sắp hỏi vợ cho cháu Tuấn là cô Nga, con
Thiếu Tá Lữ phải không?
Tôi hỏi lại:
- Thiếu Tá Lữ nào vậy?
Thừa trả lời:
- Thiếu Tá Lữ làm việc trên Tổng Cục Chiến Tranh Chính
Trị. Anh ta là em rể Trung Tướng Trần Văn Trung đó!
Nói như vậy, tôi lại hoàn toàn không biết Thiếu Tá Lữ là ai.
Những ngày cuối cùng của VNCH, tôi nhận chỉ thị của
BCH3TV tiếp thu Căn Cứ của Ủy Hội Quốc Tế tại Vũng Tàu.
Khi đến nơi, Khu Tạo Tác Vũng Tàu do Thiếu Tá Lữ làm
Trưởng Khu đã sẵn sàng bàn giao.
Gặp nhau, quen biết và bắt tay rồi làm phận sự. Tôi hoàn toàn
không biết Thiếu Tá Lữ là cha của cô Nga. Do đó tôi tỉnh bơ,
ra lệnh cho Quân Vận Khu Vũng Tàu tiếp nhận doanh trại.
Mục đích của BCH3TV và BCHQV3 chúng tôi là dùng cơ sở
doanh trại này để làm nơi tập trung một số gia đình Sĩ Quan,
Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ để vào giờ chót di tản ra tàu Mỹ.
Nếu tôi biết Thiếu Tá Lữ này là thân phụ của cô Nga, thì kế
hoạch sẽ vô cùng tốt đẹp, vì lúc bấy giờ tôi có cả một giang
đoàn LCM8 từ Vùng 5 Tiếp Vận kéo vào và đặt dưới sự chỉ
huy của tôi.
Sang đến đất Mỹ, tôi mới ngã ngửa người, vì Thiếu Tá Lữ
này chính là cha của cô Nga, bạn gái Tuấn.
Sau khi ổn định cuộc sống ở Denver, Tuấn đã liên lạc được
với Nga ở Iowa University. Theo sự thỏa thuận của hai gia
đình, một lễ đính hôn giữa Tuấn và Nga được tổ chức tại
thành phố Clinton (IA).
Tôi còn nhớ, chúng tôi xuất phát từ Denver, ngoài số bà con
trong gia đình, còn có một số bạn bè tháp tùng, trong đó có
chú Sum và chú Miên. Khi đến nơi, ngoài sự nhận ra ông Lữ
này... mà khi ở Sài Gòn không hay biết ông ta là cha của cô
Nga. Đồng thời cũng trong ngày hôm đó, ông bà Lữ đang làm
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
đám cưới cho con gái đầu là cô Mai. Chúng tôi được mời như
là thực khách bất đắc dĩ.
Tuy vậy, trong tiệc cưới, chúng tôi được trang trọng giới thiệu
như là khách mời từ Denver, Colorado tới. Mọi người chào
mừng bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt. Khi đến phần
văn nghệ giúp vui, MC mời phái đoàn Denver tặng cho cô
dâu chú rể một bản nhạc mừng trong ngày cưới. Phái đoàn
Denver cử gà nhà là Trần Trường Miên đại diện, trình bày
một bản ruột có tên là “Nỗi Lòng”.
Miên lên sân khấu có Nguyễn Công Sum đi theo hộ tống,
cùng là khuyến khích và cổ võ. Nhưng khổ nổi, suốt dọc
đường Miên thưởng thức nhiều Lave quá, nên có vẻ “xỉn”
mất rồi. Anh cố rán nhưng hát không ra tiếng. Anh cố gắng
mấy lần, nhưng không ra tiếng nỗi, phải xin lỗi đi xuống với
lý do bị cảm dọc đường. Cử tọa thông cảm.
Tiếp đó một thực khách đại diện cho Iowa lên trình bày một
bản nhạc đáp lễ. Bản nhạc được hát thật là hay, từ âm thanh
đến cách trình diễn. Phái đoàn Denver bẽ mặt quá, trong khi
gà nhà “Miên” rút vào hậu trường, đã cất giọng “ngáy” o o
ngon lành.
Viết mấy dòng này để kỷ niệm vui và nhớ anh em trong tình
thân mật. Đồng thời xin cầu nguyện cho anh Trần Trường
Miên, vì anh cũng đã qua đời rồi!
Tiệc cưới tan khoảng 6 giờ chiều. Đến 8 giờ tối mới bắt đầu
lễ “Đính Hôn” tại tư gia ông bà Lữ. Chúng tôi đưa lễ vật sánh
lễ, cùng khay trầu rượu và trình bày những lời lẽ xin phép
làm lễ “Đính Hôn” cho hai cháu Tuấn và Nga.
Sau khi nhà gái nhận lễ, mọi người vui vẻ chia nhau ly rượu
champagne mừng tương lai cho đôi trẻ. Trong tiệc đính hôn
này có sự hiện diện của Bà Trung Tướng Trần Văn Trung, tự
Hoài Nam, từ Pháp đến cùng với cậu con trai nhỏ, khoảng 9,
10 tuổi.
Mục đích của bà đến Hoa Kỳ là tham dự tiệc cưới của cô Mai,
cùng chia vui với tiệc dính hôn của hai cháu Tuấn Nga
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Đến năm 1980, gia đình ông bà Lữ di chuyển về Houston, mở
một tiệm chạp phô (grocery). Chính năm này, lễ cưới của
Tuấn Nga cũng được cử hành tại Houston vào ngày
24/05/1980.
Tôi còn nhớ, chúng tôi di chuyển từ Denver xuống Houston
bằng xe “Van”. Lúc đó vào thời kỳ cuối tháng 5/80, khí hậu
Denver đang mát lạnh vào mùa Xuân. Nhưng khi xe chạy
xuống địa phận Texas, thời tiết trở nên nóng bức.... đến
Houston thì khí trời trở nên nóng và ẩm thấp dễ sợ. Hơn nữa
xe không có máy điều hòa không khí.
Đến Houston hơi trễ, nên phần đông hàng quán đã đóng cửa,
trong khi xe phải chạy lẹ cho kịp thời gian, vì sợ quá khuya.
Chúng tôi được Tuấn hướng dẫn đến khách sạn đã thuê sẵn.
Đi đường mệt nhọc, đến nơi ăn uống qua loa, liền nằm ì ra
ngủ.
Tôi ngủ được một giấc thì thấy đau bụng, thức dậy vào nhà
vệ sinh. Sau đó tôi cảm thấy lạnh toát toàn thân. Tôi mệt đừ
người và bước ra khỏi nhà vệ sinh, tôi bị té và nằm bất tỉnh
giữa phòng.
May mắn lúc bấy giờ các anh, các chị thanh niên đang còn
thức nói chuyện gẫu, như Đạt, Tuấn, Tiến, Hiệp, v.v. Các anh
liền chạy lại vực tôi dậy. Nhưng tôi mệt quá, nên các anh lại
đặt tôi nằm xuống, tắt máy lạnh, làm massage, cạo gió. Bôi
xoa dầu nóng, đấm bóp một hồi tôi tỉnh dậy. Mỗi lần xoa bóp
đến đâu thì phần thân thể ấy như được sưởi ấm và đưa sức
sống đến đó. Nhờ các cậu thanh niên khỏe mạnh và đầy sinh
lực này mà tôi lấy lại sức khỏe mau chóng.
Khi tôi té xuống sàn nhà, bị rã rời thể chất, tôi cứ nghĩ rằng
ngày mai tôi không thể tham dự đám cưới được thì nguy to.
Vì tôi là chủ hôn về đàng trai. Tuy nhiên, nhờ ơn Chúa
thương, tôi đã được các thanh niên con cháu có sức khỏe, đem
lại được sự bình an.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Sáng hôm sau, tôi vẫn cảm thấy bình thường, như vừa có một
giấc ngủ ngon. Tôi nhanh nhẹn tắm rửa, thay áo quần, sẵn
sàng đến nhà thờ tham dự lễ cưới, như người khỏe mạnh.
Đám cưới cử hành tốt đẹp tại Thánh Đường. Tại đây, tôi gặp
một chuyện cười hy hữu. Số là tôi đang đứng trước cửa nhà
thờ đón tiếp quan khách đến dự thánh lễ. Tôi gặp nhiều khách
lạ ở Houston mà không biết ai. Tôi liền bảo một cậu ăn mặc
chỉnh tề, con ông bà Lữ:
- “Cháu vào nhà thờ mời ba cháu ra để tiếp đón khách
Houston, vì phần đông bác không biết họ là ai.”
Cậu bé trả lời:
- “Dạ vâng, nhưng bác là ai?”
Tôi phải trả lời:
- "Tôi là ba của anh Tuấn đây!”
Bấy giờ cậu mới chạy vào nhà thờ mời ông Lữ ra tiếp khách.
Sau đám cưới, Nga dọn về Denver theo Tuấn. Qua thời gian,
Nga Tuấn đã thuê hết apartment này đến apartment khác. Rồi
đến mua nhà tại 10720 Julian Ct. Westminster CO. 80030.
Cuối cùng đến năm 1999, Tuấn Nga mua một mẫu đất và xây
một custom house tại đường Pecos, Westminster, CO. 80020,
tọa lạc ở phía Bắc Denver, khoảng ngang đường 145 Ave.
Gia đình Tuấn Nga còn có cậu Việt, là anh trai của Nga ở
chung, nên gia đình rất đông vui…
Tuấn Nga đã sinh được cháu trai đầu lòng tháng 3 năm 1981,
đặt tên là Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, nick name là cu Mun.
Cả hai gia đình nội ngoại mừng rỡ cho vợ chồng Tuấn Nga.
Nhân ngày sinh của cháu, ông nội lên thăm, thấy cháu nội
mới sinh, có nước da ngăm ngăm trặm trịa khỏe mạnh, ông
liền đặt cho cháu nick name là “Cu Mun”. Tên này được gia
đình dùng để gọi thân mật trong nhà đến hôm nay, mặc dầu
Mun đã lớn. Cháu có khiếu chơi trượt băng, đã tham dự nhiều
cuộc thi Ice Skate, và có nhiều bằng cấp khen thưởng treo đầy
nhà. Cháu đã ra trường đại học năm 2009, và đang đi làm.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Cháu thứ hai của Tuấn Nga cũng là con trai, đặt tên Nguyễn
Hoàng Thiên An tức Alan, nick name là Cu Bi, sinh vào tháng
03/1987, cháu lanh lẹ, đô con, dễ thương...
Tuấn Nga đã có hai con trai rồi, muốn có một gái nữa cho vui
cửa vui nhà, thủ thỉ với mẹ. Nhưng anh chị rất sợ, nếu cố gắng
lần này mà có thêm một thằng cu nữa thì e phải “cạo đầu đi
tu” và trong nhà phải thường trực có “ear plug”, vì kinh
nghiệm cu Bi khi còn bé, cũng nghịch ngợm lắm, chỉ một
mình mà đã inh ỏi cả nhà. Anh chị Tuấn may mắn lần này
Chúa cho một cô gái xinh xắn ra đời theo ý muốn của cha mẹ.
Bé Nguyễn Hoàng Như Ý, với nick name là bé Huyền, được
sinh ra vào tháng 5 năm 1994. Hai bên nội ngoại rất vui mừng
và hy vọng sau này lớn lên, Như Ý sẽ xinh đẹp và ngoan
ngoãn đạo đức, vâng lời cha mẹ, quí mến anh em, đặc biệt lễ
phép và thương yêu ông bà hai bên nội ngoại. Như Ý nay
(2014) đang theo học về ngành Nha, cố gắng học hành để
thành tài, làm cho cha mẹ, anh em bà con cô bác, nhất là các
ông bà nội ngoại hai bên vui mầng hãnh diện vì con cái cháu
chắt. GĐ Tuấn Nga hiện định cư tại Westminster, Colorado.
D, Người Con Thứ Tư Của Chúng Tôi là Anna Nguyễn
Thị Thanh Hài: được sinh tại Huế vào ngày 05 tháng 06 năm
1955. Sau khi chúng tôi di tản từ Đồng Hới vào Huế, sau Hiệp
Định Genève (21/07/1954). Chúng tôi đã mua lại của Trung
sĩ 1 Chung một căn nhà ở gần Canh Nông, Thành Nội Huế,
làm nơi cư ngụ. Thanh Hài đã đựơc sinh ra tại căn nhà này.
Thời gian này, ở Huế có phong tục là các bà mẹ đều sinh con
tại nhà, chỉ mời bà mụ (sage femme) tức là bà đỡ đẻ đến giúp
cho sản phụ sinh nở mà thôi. Từ trước tôi có ý định đưa bà xã
đến Bệnh Viện Trung ương Huế, nhưng bệnh viện quá xa, các
Bảo sinh viện tư rất hiếm ở Huế lúc bấy giờ. Hơn nữa, bà xã
tôi muốn sinh tại nhà với sự giúp đỡ của bà mụ mà không
muốn đi nhà thương. Lúc đó nhà tôi có hai cô gái giúp việc.
Một cô đi chợ nấu ăn, còn cô kia lo tổng quát trong nhà.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tối hôm đó, bà xã tôi chuyển bụng, tôi cấp tốc đi rước cô mụ
về. Trong phòng riêng, chỉ có cô mụ và tôi giúp đỡ cho sản
phụ. Chỉ không đầy một tiếng đồng hồ, việc sinh nở đã hoàn
tất. Mẹ tròn con vuông, chúng tôi xin cảm tạ ơn Chúa.
Ba người con trước, khi má sinh đều có bà ngoại hoặc dì Ký
chăm lo săn sóc, tức là có người thân bên cạnh để má được
an tâm. Giờ này, bà mụ xa lạ, bà con chẳng có ai, nên bắt
buộc ba phải có mặt để má lên tinh thần khi “vượt biển”. Theo
tục ngữ Việt Nam thì “Đàn ông vượt biển có năm có ba, đàn
bà vượt biển xót xa một mình!” Ý nói khi đàn bà sinh nở được
ví như vượt biển khó khăn với sóng gió giông bão mà chỉ lẻ
loi một mình. Vì vậy, cần phải có người thân bên cạnh.
Đối với tôi, đây là lần thứ nhất, tôi phải chứng kiến và phụ
giúp với bà mụ trong việc sinh nở của bà xã tôi. Thực ra, tôi
chỉ là tên để bà mụ sai vặt: Lấy cái khăn, chuyền cái dao, cái
kéo sau khi đã chùi alcool, khử trùng để dùng vào việc cắt
cuống rốn cho em bé, trao cái giây đã lau alcool cho bà mụ,
trao áo quần, tất chân tay của em bé đã chuẩn bị sẵn. Đặc biệt
là cái nồi lửa để sữa ấm cho mẹ con sau khi sinh, v.v.. Tôi đã
biến thành một phụ tá đắc lực cho bà đỡ.
Em bé sinh ra được đặt tên là Thérèse Nguyễn Thị Thanh Hài.
Bé xinh đẹp, mũi cao, mặt trái xoan, dáng hiền hậu.
Sau khi sinh Thanh Hài, tôi được chỉ định thành lập Đại Đội
tân lập 251 Vận Tải, đóng tại phía nam cầu An Cựu Huế. Tôi
đã di chuyển gia đình về một villa sẵn có trong đơn vị và bán
căn nhà trong thành nội Huế.
Thanh Hài càng lớn càng xinh đẹp, nết na. Khi di chuyển vào
Sài Gòn, ba má gửi vào trường các bà phước Regina Mundi,
sau đó ít lâu lại đổi đi học tại trường các bà soeurs Thiên
Phước (Tân Định). Thanh Hài có nhiều bạn gái thân quen,
nhưng thân nhất là cô bạn học tên Thy Vân, con của nhạc sĩ
Anh Bằng. Hai cô có vẻ thân thiết với nhau, thường ở lại nhà
nhau cuối tuần. Thy Vân cũng di tản qua Hoa Kỳ và đang là
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Giám Đốc hãng Asia, một hãng ca nhạc Việt Nam lớn tại Hải
Ngoại, trụ sở tại Nam California.
Khi Thanh Hài đến tuổi cặp kê, có nhiều gia đình đánh tiếng
muốn làm sui gia, nhưng Thanh Hài đang đi học. Một hôm,
một thanh niên bác sĩ ở miền Trung, được chú Minh giới thiệu
vào Sài Gòn đến thăm nhà, có ý gặp mặt Thanh Hài. Ba má
dặn “Con đi học ăn mặc đàng hoàng, khi về nhà có khách,
con chào hỏi lễ phép”.
Sáng hôm đó, Thanh Hài đi học mặc một áo dài trắng cũ màu
cháo lòng nhăn nhó. Khi khách đang ngồi trong nhà, Thanh
Hài đi học về, cái mặt xụ xuống một đống, chào hỏi qua loa
rồi lên lầu mất dạng. Sự việc chứng tỏ Thanh Hài không thích,
mà đã không thích thì làm gì cũng ngược lại.
Khi di tản qua Hoa Kỳ, định cư tại Springfield, Missouri,
cũng có một sinh viên bác sĩ sắp ra trường, rất muốn làm quen
với Thanh Hài để đi đến hôn nhân. Nhưng rút cuộc cũng
không đi đến kết quả nào.
Trong khi đó tại Springfield, có anh Đoàn Thế Đạt, thường
hay lui tới nhà thờ trong những ngày lễ, sinh hoạt ca hát thánh
ca Việt Nam... Thế là hai anh chị Đạt Hài có vẻ tương đồng
ý chí .
Sau đó thì Đạt đã đến thăm thường xuyên gia đình. Má cũng
gặp Đạt nhiều lần, tuy nhiên vấn đề hiểu biết về gia đình cha
mẹ... thì chỉ biết rằng ông Đoàn Khoát, cha của anh Đạt đang
sống với gia đình riêng ở đây, còn mẹ ruột anh Đạt đang ở
Việt Nam. Thôi thì căn bản là hai đứa chúng nó thật lòng
thương yêu nhau là được...
Nhưng sau đó không lâu, vì cơn bệnh bất ngờ, má đã qua đời
một cách nghiệt ngã đau đớn cho gia đình. Tôi trở nên lo lắng,
sợ hãi... vì một đàn con đông, còn bé nhỏ mà không có mẹ
hiền chăm sóc. Trong khi đó, Ba nghĩ đến chuyện học hành
của con cái và công ăn việc làm của chúng sau này, nên Ba
và gia đình con cái phải di tản lên Denver, Colorado, là nơi
có bà con họ hàng, nhiều phương tiện học hỏi để tiến thân, và
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
cũng là nơi có nhiều công ăn việc làm, dễ dàng cho con cháu
sau này.
Riêng anh chị Đạt Hài vào năm 1978 đã đi đến hôn nhân sau
khi gia đình di chuyển lên Denver, Colorado, như đã trình bày
trên.
Một buổi tiệc cưới được tổ chức tại Denver vào ngày 22 tháng
10 năm 1977. Đạt và Hải có ba con:
- Con gái đầu lòng, Catherine Đoàn Thụy Như Hiền, sinh
ngày 03/08/1978. Cháu gái đầu lòng cũng xinh tươi không
thua gì mẹ. Hiền hiền hậu như tên đặt, rất dễ thương.
Khi mới sinh, còn ở chung nhà với ông ngoại. Ông đi đâu,
cháu cũng lủi thủi theo sau, nhiều khi vô ý không biết, ông
lui lại giậm phải chân cháu. Ông gọi Như Hiền là cái đuôi của
ông ngoại là do vậy. Như Hiền đã lấy chồng, đó là anh
Vincent Nguyễn, người cùng quê Quảng Bình, làng Văn Phú.
Hai cô cậu đã có hai baby rất dễ thương tên là Angelli Tuyên
Nguyễn sinh năm 2003 và Jasalin Quyên Nguyễn sinh 2008.
-Đứa thứ hai của Thanh Hài là con trai. Khi Hài vào phòng
sinh, Đạt biết được con trai, anh đã hớn hở reo mừng, hân
hoan ra mặt, kết quả đó là Đoàn Minh Đức, tự Cúc Cu, sinh
ngày 28/03/1983.
-Người con tiếp theo là Dominic Đoàn Minh Đạo, tự là Lu
Lu, sinh ngày 29/06/1985. Minh Đạo tuy chưa vợ, nhưng đã
có một thằng cu con tên Nathaniel sinh năm 2005 lúc anh mới
20 xuân xanh.
Những đứa con của gia đình Đạt Hài có vóc dáng cao to,
nhưng dễ thương, lễ phép với ông ngoại và với các cậu mợ,
dì dượng...v.v..
Thời gian sau đó, mẹ anh Đạt từ VN qua và cùng ở chung
trong gia đình. Bà cụ đã mất đúng vào ngày Lễ Tạ Ơn tháng
11/2013.
Anh Đoàn Thế Đạt cũng từng bị bịnh bệnh ung thư, nhưng
sau đó, nhờ ơn Chúa đã được chữa trị lành. Đó là một phép
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
lạ! Cả gia đình vui mừng cảm tạ ơn Chúa. Hiện tại GĐ Hài
Đạt ngụ tại Denver, Colorado.
Nguyện cầu cho Đạt Hài một cuộc sống hạnh phúc, đầm ấm
thương yêu trong gia đình, có một cuộc sống lý tưởng.
E, Người Con Thứ 5 Của Chúng Tôi Là Anna Nguyễn Thị
Mỹ Hằng: sinh ngày 08 tháng 11 năm 1957 tại Huế. Thời
gian này tôi đang làm Đại Đội Trưởng Đại Đội 251 Vận Tải,
đóng tại An Cựu, Huế. Bé Mỹ Hằng được sinh ra khi chúng
tôi đang ở trong một villa tọa lạc trong doanh trại của Đại Đội
251 Vận Tải.
Mỹ Hằng khi nhỏ là một em bé bụ bẩm, tóc quăn như búp bê
rất dễ thương. Thời gian này, tôi đi công tác nhiều, nhất là
phải tiếp tế cho các tỉnh miền nam vừa mới được tiếp thu như
Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Mất ăn, mất ngủ, đồng
thời lo lắng trang bị và tổ chức cho đơn vị mới thành lập (Đại
Đội 251 Vận Tải, đóng tại An Cựu Huế), do đó tôi bị gầy yếu
xanh xao. Như đã nói trên, tôi phải uống sữa dê hằng ngày thì
mới lấy lại được sức lực. Mỹ Hằng lúc bấy giờ còn nhỏ, Ba
uống gì cũng đòi uống theo, do đó ngày càng mập tròn (Get
fat!), đến nỗi các anh chị chọc là con “mập địt!” Sau đó, Ba
má không dám cho con uống sữa dê nữa, chỉ cho một chút để
khỏi khóc, đòi mà thôi.
Hằng rất thông minh lanh lẹ, vâng lời Ba Má khi còn nhỏ, rất
có ý tứ, nhắc bảo anh chị em, có khi còn lo lắng cho cả chị
Hài nữa. Ba Má dặn điều gì thì chỉ cần một lần thôi. Mỹ Hằng
vâng lời và làm đúng ngay, có khi còn nhắc nhở các anh chị
là khác. Mỹ Hằng có tư cách như một “supervisor” từ khi còn
nhỏ tuổi. Anh chị nào không nghe là mách Ba Má liền.
Nhỏ tới lớn Mỹ Hằng khỏe mạnh, ít nói, học hành chăm chỉ.
Khi qua Mỹ, những lúc đi học về nhà nói chuyện huyên
thuyên, nhiều khi Má chẳng hiểu gì.
Xong Trung học, vào Đại Học, Mỹ Hằng tốt nghiệp 4 năm
Đại Học với cấp bằng Kỹ Sư Điện (Electrical Engineer). Kể
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
từ thời gian này, Mỹ Hằng có biệt danh là “Mệ Trợ”, vì mệ
Trợ nói hơi nhiều vì cái gì cũng biết và rất lý sự. Tuy vậy, Mỹ
Hằng được Ba Má tin cậy nhất. Giao cái gì, việc gì là y
nguyên cái đó, làm đúng công việc Ba Má giao phó.
Mỹ Hằng đã kết duyên với anh Lý Chí Nguyện, một kỹ sư
điện tử, con ông bà Lý Hà Trinh. Nguyện được cha mẹ cho
du học tại Hoa Kỳ năm 1971. Khi còn ở Việt Nam, ông bà
Trinh buôn bán hàng điện tử tại Mỹ Tho. Ông bà di cư tị nạn
ở Hoa Kỳ, sống tại thành phố San Diego (CA). Ông bà Trinh
là người Việt gốc Hoa, hiền lành, vui tính và hiếu khách.
Lý Chí Nguyện và Nguyễn Thị Mỹ Hằng đã làm lễ thành hôn
tại Denver vào ngày Thứ Bảy 30 tháng 11 năm 1985 tại
Thánh Đường Al Saints, Denver, CO. Sau lễ Thanks Giving
trong một ngày khí hậu rất lạnh. Anh Nguyện - chị Hằng cư
ngụ tại Denver, CO., đã có ba người con gái sau đây:
1, Michelle Nguyện Lý (nick name Cubby) sinh ngày
31/08/1986 đúng ngày Labor Day, đã lấy chồng gốc Phi tên
Evan Osborn tháng tám ngày 16 năm 2014 .
2, Monica Lý Tân Niên (Nick name Chí Mén) sinh ngày
31/12/1987, đúng vào ngày New Year Eve. Monica cũng đã
thành hôn với một bác sĩ trẻ tên Frank năm 2013 tại Denver,
Colorado.
3, Melissa Lý Lan Viên (Nick name Bé), sinh ngày
7/12/1991, ngày “Pearl Harbor Day” kỷ niệm ngày Nhật Bản
bỏ bom tại Trân Châu Cảng (Honolulu - Hawaii).
Mỗi người con của Nguyện Hằng được sinh ra trong một
ngày kỷ niệm đặc biệt của Hoa Kỳ.
Có một điều đặc biệt là lúc trước cả ba cháu gái này chơi “đá
banh” rất giỏi, nhất là Chí Mén. Có lẽ vì bố Nguyện là tay
cầu thủ bóng tròn có hạng tại Denver. Khi còn tấm bé, các
con được bố dẫn đi coi đá banh thường xuyên, nên đã hấp thụ
và nghiền môn thể thao này rồi chăng? Cứ mỗi weekend là
có chương trình đá banh của các con, nên cha mẹ phải đưa
con đi, mất rất nhiều thì giờ cho sở thích này, mà cũng là sở
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thích của bố Nguyện luôn. Tuy nhiên, đó cũng là cái hay, hơn
là để các cháu đi chơi các nơi khác.
Các cháu của Nguyện Hằng là những cô gái đẹp, học hành
giỏi, kính trọng ông bà nội ngoại. Ông Bà cha mẹ có đức thì
mặc sức cho con cháu hưởng. Tổ tiên ông bà ta đã dạy cho
con cháu như vậy.
F, Người Con Thứ Sáu Của Chúng Tôi Là Phao Lồ
Nguyễn Đình Tiến: sinh ngày 06/09/1960 tại Sài Gòn. Là
một thanh niên đẹp trai, thông minh và tháo vát, giỏi âm
nhạc… nhưng đường tình duyên có phần lận đận.... Theo
gương ông Bill Gate giàu nhất thế giới hiện nay, Tiến vào học
hỏi nghề kinh doanh... Sau đó, Tiến xin phép đi Cali và
nghiên cứu về thị trường. Anh vào làm việc và điều hành một
cửa tiệm Furniture lớn. Tiến đã xuất sắc trong công tác này...
Có nhiều năm kinh nghiệm về buôn bán “Furniture”.
Bản tính Tiến hiền hậu, chung thủy... và mọi việc phải đúng
quy tắc. Tánh tình hay thương người. Có tinh thần trách
nhiệm, lo lắng và thương yêu gia đình, có lòng tin yêu vào
Thiên Chúa một cách tuyệt đối. Ba hằng cầu nguyện cho Tiến
thành công cả phần đời lẫn phần đạo.
Sau đó, Tiến có ý định xúc tiến việc thành lập gia đình với
một cô gái miền Nam, đến từ VN thành phố Cần Thơ vừa
định cư tại Mỹ. Sau đó Tiến ra mắt người bạn mới là Nguyễn
Bảo Ngân tại một tiệm ăn ở Los Angeles. Trong cuộc gặp gỡ
ban đầu, Ba lúc nào cũng “welcome” theo ý thích của con cái.
Một thời gian không lâu sau đó, Tiến Ngân làm lễ thành hôn
vào ngày 02 Tháng 02 năm 2002 tại San Diego, California
với đầy đủ bà con họ tộc tham dự.
Tiến Ngân, tính đến hôm nay đã có ba con, đó là:
- Maria Nguyễn Thùy Hạnh sinh năm 2003. Mới sinh, Ba Mẹ
lấy tên Bà Nội đặt cho con để tưởng nhớ bà nội. Tội nghiệp
cháu Hạnh khi hơn 1 tuổi bị bệnh yếu gân xương sống, nên
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thường bị đau, chỉ nằm, không ngồi và đi đứng được. Khi
cháu năm tuổi (2008) thì từ trần. Thật là thương cho cháu.
- Cháu thứ hai là một anh cu tên Nguyễn Đình Trung sinh
ngày 05 Tháng 05 năm 2005. Cu Trung này, tương lai sẽ rất
tháo vát, mau mắn... Bé Trung lanh lẹ, tuy nhỏ con nhưng đã
biết xã giao... chứng tỏ sẽ là một người kế nghiệp cha, buôn
bán giỏi.
- Nguyễn John (Tâm) sinh năm 2007, hiền lành, đẹp trai...
Ngoài ra Gia đình Tiến Ngân còn có Nguyễn Long sinh năm
1998, là con riêng của Bảo Ngân. Long lanh lẹ, khá thông
minh.... lúc nhỏ hay quậy phá các em! Nay lớn lên thay đổi
tính lại rất dễ thương... Long học giỏi và nghe lời các cô chú
trong nhà, các cô rất thương...
Thời gian sau, Tiến tách ra mở tiệm Furniture, buôn bán tại
Chula Vista, San Diego, California. Việc buôn bán đã tiến
triển một cách tốt đẹp. Sau đó vài năm, Tiến lại khuếch
trương thuê thêm một tiệm khác, lớn hơn và sầm uất hơn.
Tiệm mới này cũng tọa lạc tại Chula Vista, cách tiệm cũ
khoảng hơn một cây số. Như vậy, tính đến ngày tôi viết tập
Hồi Ký này, Tiến có hai tiệm Furniture đang hoạt động. Và
khi sắp in sách, thì vì ảnh hưởng của kinh tế toàn cầu... lại thu
gọn một tiệm lớn và một tiệm nhỏ (2014).
Công việc của Tiến Ngân khá bề bộn, vì hai cửa tiệm
“Furniture”. Cha mẹ vừa lo công việc trong gia đình cho các
con, vừa phải tìm thì giờ ra tiệm để kiểm soát kế toán hàng
hóa bán mua, order hàng mới, kiểm soát hàng tồn kho một
cách tổng quát.
Đây là một công việc cần có khả năng hiểu biết về chuyên
môn, luôn luôn “up date”theo sát vấn đề, không thể chểnh
mảng vừa chơi vừa làm mà được. Vì chỉ cần lơ là một chút
xíu, là mất bạc ngàn như trở bàn tay. Ba và gia đình hằng cầu
nguyện cho tất cả các con cái ăn nên làm ra. Đặc biệt, cầu xin
Thiên Chúa ban cho gia đình Tiến Ngân gặp mọi điều may
mắn tốt đẹp nhất, hai vợ chồng biết thương yêu và lo lắng,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
tôn trọng lẫn nhau, sự lớn mạnh của con cái, sự học hành và
dạy dỗ con nên người hữu ích. Kế đến công ăn việc làm, luôn
an lành tốt đẹp và được Thiên Chúa chúc phúc lành cho gia
đình.
Đó là ý cầu nguyện hằng ngày của Ba, của Ông đối với tất cả
các con cái, cháu chắt của gia đình họ tộc chúng ta.
G, Người Con Thứ Bảy là Nguyễn Thị Ánh Hoa: Ánh Hoa
(Nick name là Bê), sinh vào ngày 20 Tháng 08 năm 1962 tại
Dưỡng Đường Saint Paul Đà Nẵng do các Bà Soeurs Saint
Paul de Chartre (?) trông coi. Trong khi đó tôi còn làm việc
tại Đà Nẵng, Trung Việt. Nhiệm vụ của tôi lúc bấy giờ là Tiểu
Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Vận Tải mới thành lập, doanh
trại đóng tại Phước Tường, nhưng gia đình tôi vẫn tạm trú tại
Đại Đội 1 Tiếp Liên, tức Căn Cứ Chuyển Vận Đà Nẵng, vì
trước kia tôi chỉ huy Đại Đội Tiếp Liên này. Thời gian mới,
gia đình chưa sẵn sàng di chuyển. Hy vọng trong một thời
gian gần, gia đình sẽ di chuyển đi nơi khác.
Vì tôi đã thuyên chuyển đi làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn
11 Vận Tải đồn trú tại Căn cứ Phước Tường, nên tôi đã xây
một villa tại Thanh Bình. Một villa, có ba phòng ngủ lớn,
một phòng khách rất rộng rãi, một phòng ăn, nhà bếp, nhà
kho và mọi tiện nghi khác. Chúng tôi di chuyển về đây khi
sinh bé Diễm Hà.
Lúc còn nhỏ từ khi ở Đà Nẵng Ánh Hoa hơi gầy, lại thích cạp
ăn gót mấy đôi dép cao su… được các anh chị đặt tên là “Bê
nhom” hay “tàu hầm”… vì mỗi lần xem TV thấy tầu ngầm
lặn dưới nước thì Hoa lại kêu lên là “tàu hầm”. Ánh Hoa xanh
xao ốm yếu vì biếng ăn. Hoa lúc còn nhỏ thật là khó khăn
trong việc ăn uống. Mỗi lần ăn là một khổ nhọc cho má, mặc
dầu má bận rộn về công việc nhà, và nhất là đang mang thai
bé Hà. Nhưng không có má, Hoa không ăn.
Má vừa bận rộn và lo lắng cho các anh chị lớn, vừa phải
nuông chiều bé Hoa. Việc cho Hoa ăn uống là một cực hình
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
như trên đã nói. Má phải dụ dỗ vuốt ve, vừa phải năn nỉ, mới
được một miếng ăn vào miệng. Mỗi lần con ăn được một
miếng là má vui mừng ra mặt, hớn hở cười vui như trúng
được số độc đắc. Má thường bảo con ăn đi cho no, cho má
mừng, cho Ba đi làm về mừng nào.
Ánh Hoa nghe má nói vậy, liền kéo áo lên chỉ vào bụng mình
mà nói: "Con no rồi, má thấy hông”. Má liền chỉ vào rốn của
Hoa, nói: "Con mới ăn được chút xíu, như vậy làm sao con
lớn bằng chị Hương được? Con còn phải ăn nhiều để lớn hơn
chị Hương, để còn đi học, khi về nhà còn giúp cho má và sau
này giúp cho em Hà nữa chứ (em chưa sinh mà đã đặt tên)!”
Hoa nghe má nói vậy, mới chịu ăn thêm vài ba muỗng. Khả
năng cố gắng chỉ có vậy. Tuy nhiên, lần lần quen, nên mỗi
lần ăn thêm một chút. Má cũng khổ sở vì con không chịu ăn,
má cứ than phiền với Ba hoài về chuyện này. Trong nhà chỉ
có Bê nhom là không chịu ăn. Tuy nhiên, má vẫn nhẫn nại và
cố gắng. Có lần Má dọa: "Con không chịu ăn, con không lớn
được, sau này nhỏ xíu như em bé, không đi học được, không
đi làm được, không lớn lên được, chẳng lẽ con bắt má bồng
con hoài hoài sao? Bồng con rồi ai bồng bé Hà”... Thế là con
lại cố gắng ăn thêm vài ba muỗng, má mừng quá, lại dỗ ngọt
hơn. Trong nhà, khổ nhất là Ánh Hoa không chịu ăn.
Sau khi sinh Diễm Hà, hằng ngày Má rất bận rộn vì phải chăm
sóc cho em bé mới sinh, nhưng đến giờ ăn là má phải dỗ dành
Ánh Hoa một lúc, với lời khuyến khích mới chịu ăn vài ba
muỗng. Sau một thời gian, Ba phải hỏi các bác sĩ và họ có chỉ
cho một vài loại thuốc kích thích bao tử, Ba đã cho con uống,
nhưng không hiểu việc hiệu nghiệm có được bao nhiêu.
Tuy nhiên, sau này khi Hoa đã lớn, Ba Má không còn lo cho
con nữa vì con đã có trí khôn rồi. Mặc dầu không chịu ăn khi
còn bé, nhưng tánh tình Anh Hoa khi lớn lên thông minh
không thua sút gì với ai... khi tiếp xúc với xã hội bên ngoài.
Ánh Hoa càng lớn càng khôn ngoan, ăn nói chững chạc, việc
nào vào việc ấy. Học hành thông minh. Ba má cứ sợ con khi
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
còn nhỏ không chịu ăn, sẽ có ảnh hưởng vào trí thông minh
và sắc diện của con sau này. Tuy nhiên, trường hợp “kén ăn”
của Anh Hoa không ảnh hưởng đến sắc đẹp và trí thông
minh của cô nàng.
Anh Hoa đã lập gia đình với Quý Huy (sinh ngày
06/07/1962), con ông bà cựu Trung Tá Bảo Định, vào ngày
26 Tháng 05 năm 1990 tại California. Đám cưới rất vui,
nhưng Ba nghĩ thầm và luyến tiếc, nếu Má còn sống thì vui
biết bao nhiêu. Vì Má đã chịu khó và hay than thở lo lắng vì
Hoa biếng ăn, sợ sau này con yếu, không học hành được và
xấu gái chăng. Nếu trường hợp má đi đâu xa lâu ngày, nay
mới về, má trông thấy, gặp lại các con, má sẽ ngạc nhiên biết
bao.
Hiện nay, Huy Hoa đã có hai con, một trai, một gái sau đây:
-Cậu con trai đầu: Jessey Quý Định Hiếu, sinh ngày
20/09/1993 tại California (San Diego). Cô con gái thứ hai :
Miranda Quý Thy Thảo, sinh ngày 16/02/1995 tại San Diego.
Hiện nay, anh chị Huy Hoa và hai con sống tại nhà riêng ở tại
Spruce Run Dr. San Diego, CA.92131. Gia đình hiền hòa, vợ
chồng thương yêu đầm ấm bên nhau, làm ăn phát đạt. Ba
mừng cho các con và các cháu.
Ánh Hoa hiện nay vóc dáng cũng trung bình. Trong khi đó,
lại có đầu óc suy tư lớn, thông minh, lanh lợi. Ánh Hoa nhìn
xa, thấy rộng, biết suy nghĩ đắn đo, không a dua nịnh hót.
Trong gia đình anh chị Huy Hoa rất thuận thảo... Huy Hoa
làm việc cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, vì cả hai đều đã đậu
bằng Kỹ Sư Điện tử ở Đại Học California, nhưng nay Hoa đã
nghĩ hưu.
Quý Huy, là con trai út của ông bà Bảo Định, một Sĩ quan
cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trường hợp của
Huy cũng giống Ánh Hoa. Qua Hoa Kỳ, mẹ mất sớm, lủi thủi
sống với Ba và các anh chị em. Lo lắng học hành và đã ra Đại
Học. Đi làm việc trong một hãng xưởng Hoa Kỳ. Anh chị gặp
nhau, hợp nhãn, hợp tình và đã đi đến quyết định nắm tay
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
nhau xây dựng gia đình, tạo hạnh phúc cho nhau, đưa nhau
đến cõi hạnh phúc của hôn nhân.
Huy Hoa đã nêu một gương sáng cho gia đình và cho con cái.
Hai anh chị thương yêu nhau trong sự kính trọng vị nể nhau.
Anh chị vẫn giữ lễ đối với nhau trong việc giao tiếp hằng
ngày. Ba cho đó là “Một Thiên đàng ở trần gian”.
Thành thực mà nói, Ba rất vui mầng mỗi khi đến thăm gia
đình của Huy Hoa và các cháu. Ba, Ông Ngoại hằng nguyện
cầu cho sự hạnh phúc riêng tư gia đình của các con cháu. Đó
là hạnh phúc miên trường mà Ba hằng cầu mong Thiên Chúa
thương ban cho tất cả mọi gia đình các con cháu vậy.
Các con cố mà giữ cho cuộc đời gia đình mình được thăng
hoa, nêu gương sáng, khả dĩ bà con cô bác trong họ tộc được
thơm lây và hãnh diện về cuộc sống của chính vợ chồng con
cái mình.
H, Nguyễn Thị Diễm Hà: (tức là Bé) là người con thứ 8 trong
gia đình. Diễm Hà được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Saint Paul
của các Soeurs áo trắng Saint Paul de Chartre ngày 4 tháng 9
năm 1964 ở thành phố Đà Nẵng. Sau thời gian lưu lại tại nhà
thương mấy ngày thì được các bà Soeurs cho về, thì Diễm Hà
là người con đầu tiên được về sống trong nhà mới xây tại bãi
biển Thanh Bình Đà Nẵng. Cô được xe chở về nhà mới với
Ba Má, nhưng cô vẫn nằm ngủ, cần gì sự tiếp đón vui mầng
của các anh các chị đâu. Các anh chị làm ồn, cười nói ồn ào,
làm cho Hà tỉnh dậy mếu máo khóc, má phải ẵm vào phòng
vỗ về cho ngủ. Má dặn các anh chị im lặng cho em ngủ. Các
anh chị không còn dám hó hé. Ai làm ồn là bị Mỹ Hằng chạy
vào mách Má ngay. Các anh chị mất hứng!
Diễm Hà lớn mau lẹ, như một con búp bê, với nước da trắng
hồng rất dễ thương. Cô được các anh chị thương yêu chiều
chuộng nâng niu vỗ về. Suốt ngày, các anh các chị, sau khi đi
học về, là vây quanh, đùa giỡn với bé. Cô ả mau khôn lớn và
biết hết mọi sự do các anh chị nói chuyện và bày vẽ cho.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Đến khoảng một năm sau, Ba Má cho thuê căn nhà này cho
hãng cung cấp báo chí của Mỹ. Vì vậy Ba Má và các con phải
vào thuê căn nhà tọa lạc trước Bệnh viện Têrêxa của chú
Minh. Kể ra thì căn nhà đó hơi chật trội, nhưng cũng tạm
được, hơn nữa ở ngay trước cửa nhà chú thím Minh và chú
thím Toàn. Sự liên lạc của gia đình tôi, với gia đình các chú
thím Minh và chú thím Toàn tương đối dễ dàng hơn. Tuy
nhiên hai năm sau đó tôi phải đổi vào Sài Gòn để chuẩn bị du
học Hoa Kỳ, khóa Advanced Transportation.
Tôi xin ghi lại là khoảng năm 1964, 1965 tình hình Đà Nẵng
rất lộn xộn, dân biểu tình đập phá khắp nơi. Đồng bào Phật
Giáo xuống đường tấn công đồng bào Công Giáo ở giáo xứ
Thanh Bồ Đức Lợi. Họ đã phóng lửa đốt cả các căn nhà ở
Thanh Bồ Đức Lợi. Ở ngay dưới phố Đà Nẵng, một anh thợ
giày nghe nói người công giáo, bị dân biểu tình Phật giáo ùa
nhau lại đánh bề hội đồng, chết ngay trên đường phố.
Đồng thời cũng vào khoảng thời gian ấy, tôi có lệnh thuyên
chuyển về Sài Gòn để lập thủ tục xuất dương du học khóa cao
cấp Quân Vận tại Hoa Kỳ.
Ba Má và các con vào Sài Gòn thì căn nhà ở Phú Nhuận đã
sẵn sàng vì như trên đã trình bày, chú thím Minh và các cháu
đã di chuyển ra Đà Nẵng vì tình hình ổn định và trật tự đã vãn
hồi tại địa phương này.
Sau khi vào Sài Gòn, Ba Má sắp đặt cho con cái đi học lại.
Mấy anh lớn như Thường, Tuấn, Tiến thì học ở Tabert, còn
chị Hương thì học Regina Pacis. Mấy đưá con nhỏ thì học ở
Trường Tư Thục trên đường Nguyễn Huệ, trước mặt nhà dì
Ký.
Ba còn nhớ, có một hôm Ba chạy xe Lambretta đi đón Hà. Bé
Hà còn nhỏ khoảng 5, 6 tuổi. Vừa thấy xe ba, là Hà chạy băng
qua đường ngay, không cần nhìn ngó xe cộ chạy qua lại. Một
anh thanh niên lái xe Lambretta đang chạy nhanh qua trước
trường, thắng vội gấp, tiếng bánh xe rít to trên mặt đường!!!
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
may một chút xíu nữa là đụng phải bé Hà rồi. Hú vía, Chúa
thương che chở.
Đưa Hà về nhà Ba kể chuyện cho má nghe, má phải dành gần
nửa giờ, để giải thích cho bé Hà hiểu về cách băng qua đường.
Từ ngày đó, Hà thấy Ba chạy xe đến đón, bé Hà không còn
dám chạy ẩu qua đường để ra với Ba nữa. Mà Hà phải đứng
chờ tại trong cổng trường, khi Ba vào cổng trường dẫn bé ra,
lúc đó mới được nắm tay Ba dẫn băng qua đường. Má chỉ cần
dạy cho con một lần, sau đó con cứ vâng theo lời. Hơn nữa
khi má chỉ vẽ cho các con, không phải chỉ một người, mà cả
nhà đều phải thinh lặng mà nghe, ai không hiểu có quyền hỏi
lại.
Khi di tản qua Hoa Kỳ, Diễm Hà chỉ khoảng 10, 11 tuổi. Cái
tuổi cần mẹ hướng dẫn, khuyên bảo thì má lại mất, má lại
được Chúa gọi ra khỏi thế gian. Đàn con như đàn gà con mất
mẹ, nên đã bị lạc lõng trên trường đời. Trong số con cái, ngoài
các anh các chị lớn, còn lại toàn là dưới 10 tuổi, như Diễm
Hà, Đình Thọ, Đình Trường, Ngọc Hân. Anh Tiến và Hoa,
tuy hơn 10 tuổi, nhưng cũng còn ngây thơ, nhất là mới sang
Hoa Kỳ, một đất nước mới lạ. Tất cả còn quá nhỏ, trong khi
đó Ba suốt đời lo việc nhà binh, ít có khả năng điều hành lo
lắng việc trong gia đình.
Trong nhà Má một tay lo liệu, quyết định và sắp xếp. Khi các
con đang ở vào cái tuổi cần sự săn sóc để ý của mẹ, thì mẹ đã
ra đi một cách xót xa đau đớn, đột ngột, không ngờ được của
mọi người.
Tuy mất Mẹ, nhưng Diễm Hà một thời gian sau, lớn lên mau
chóng và lo lắng giúp đỡ nhiều cho gia đình. Hà đã thân quen
với anh Nguyễn Tuân, một kỹ sư về Computer Science, sau
này anh chuyên đi dạy các lớp về computer trong Đại học.
Anh chị đã nên vợ chồng từ năm 1986 và có hai con:
1, Nguyễn Hoàng Benjamin, sinh ngày 04/11/86 đã hành
nghề đi dạy các lớp chuyên môn như ba cháu.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
2, Nguyễn Tân Scott, sinh ngày 07/11/1991, cháu còn học
Đại Học.
Hai cháu Hoàng và Tân rất dễ thương, cố gắng trong việc học
hành... Anh Nguyễn Tuân là một Kỹ sư, chuyên đi dạy các
lớp computer cao cấp do hãng tổ chức. Muốn được tuyển
dụng dạy các lớp này, huấn luyện viên phải là những tay “cừ
khôi” về computer, và rành rõi trong ngành chuyên môn.
Ngoài ra Huấn luyện viên phải “updated” các nguyên tắc,
cũng như mọi luật lệ mới về môn học. Tôi chỉ nghe kể và
viết lại, e rằng có sự sơ sót.
Hiện nay Tuân vẫn đi dạy về computer, không phải chỉ dạy
một chỗ, mà phải đi hầu hết các Tiểu Bang để dạy môn học
này. Benjamin nay cũng được bố giới thiệu làm cùng nghề
như vậy.
Diễm Hà thì lo công việc tại Thánh Đường Giáo xứ Đức Mẹ
Hằng Cứu Giúp tại Salt Lake City (UT) Hà là tay giúp nhà
thờ đắc lực trong mọi công việc vinh danh Chuá.
Tại Salt Lake City, Linh Mục Đa Minh Hà Đăng Thụy là linh
mục chánh xứ Giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp tại địa
phương, rất quen thân và thương mến gia đình Tuân Hà.
Ba nguyện cầu xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho gia đình
hai con Tuân Hà, và cầu xin Thiên Chúa ban mọi điều an lành
tốt đẹp cho sức khỏe, đặc biệt sức khỏe của Hà, sau khi Hà
được qua khỏi bịnh ung thư cuống họng… và xin Chúa
thương ban mọi sự thanh bình thịnh vượng cho gia đình và
các con cháu.
I, Nguyễn Đình Thọ: là người con thứ 9 trong gia đình. Thọ
sinh vào ngày 25 tháng 03 năm 1967 tại Quận Phú Nhuận,
Thành phố Sài Gòn. Nguyễn Đình Thọ (Nickname cu Tèo)
theo Ba Má và anh chị em sang định cư tại Hoa Kỳ vào năm
1975, lúc mới 8 tuổi đời. Suốt thời gian định cư tại Hoa Kỳ,
Thọ đã theo học từ Tiểu học, lên Trung học và qua chương
trình Đại Học. Thọ đã tỏ ra cố gắng và hoàn tất việc học hành
trong ngành Đại Học và đã thu được kết quả một cách thành
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
công tốt đẹp, đồng thời đã tốt nghiệp Đại Học về Computer
Sciences vào năm 1991.
Năm 1991 vào ngày 27/07/1991, Nguyễn Đình Thọ đã kết
duyên với cô Trần Thị Hòa, tự là Vie, tốt nghiệp về Behavior
Science cùng năm cùng trường. Là con gái Bà Marie Kim
Lan BùiVănTri tại Denver, Colorado (Hiện bà Lan đang sinh
sống cùng gia đình Thọ Vie). Thân phụ ở California đã quá
vãng.
Thọ Vie đã cho ra đời bốn cháu, hai trai hai gái kháu khỉnh
dễ thương, với tên gọi và ngày sinh ghi sau đây:
1, Nicholas Nguyễn Hiếu, con trai đầu sinh ngày 30/03/1993
tại Denver, Colorado
2, Luke Nguyễn Hảo, con trai thứ hai sinh ngày 20/02/1995
tại Denver, Colorado. Sau này lớn lên, chắc Hảo cũng cao
lớn, đẹp trai lắm.
3, Sarah Nguyễn Thảo, một cô gái xinh xắn, sinh ngày March
08/1997 tại Denver, Colorado.
4- Bé gái Remy sinh December 20 năm 2006 giống cha như
đúc.
Cả bốn cháu đều ngoan ngoãn học hành. Hằng ngày, Ba Mẹ
chở xe đi học và thỉnh thoảng đi đó đây. Hễ gặp ai bà con,
các cháu khoanh tay chào hỏi rất lễ phép và dễ thương.
Thọ Vie là lớp trai gái thuộc hệ thống trẻ tuổi khi đến định cư
tại Hoa Kỳ, tuổi đời đang ở dưới vị thành niên, tức là khoảng
7, 8 tuổi, hai anh chị đã lớn lên trong những gia đình lễ nghĩa.
Do đó, cả hai anh chị đều đơn sơ, trong trắng, thành thật...
được sự thương yêu quí mến của các cha mẹ hai bên, và sự
nể nang trong tình thương của tất cả các anh chị em trong cả
hai gia đình.
Anh chị Thọ Vie có một trang Web, lấy tên là
“AsiaXpress.com”, để phổ biến tin tức thế giới và tin địa
phương tại Hoa Kỳ, với sự tham gia của Bờm, đứa con thứ
12 của tôi. Kể ra, từ ngày thành lập đến nay, AsiaXpress.com
đã hoạt động gần trên 5, 6 năm trời.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
AsiaXpress.com luôn luôn được phổ biến bằng Anh ngữ, tin
tức tổng quát, không dành riêng cho một quốc gia hay một
đảng phái chính trị nào.
Hiện nay, Thọ - Vie và bốn con cùng bà ngoại sinh sống tại
căn nhà mới xây năm 2004, tại phía Nam Aurora, địa chỉ S.
Walden Way, Aurora, CO. 80016.
Nguyện xin Chúa chúc phúc lành cho hai con Thọ Vie và các
cháu được mọi điều hạnh phúc, an lành tốt đẹp nhất và các
cháu học hành giỏi, nên người hữu ích cho nhân quần xã hội.
Cầu chúc cho gia đình con cháu an vui thánh thiện và mọi
điền may mắn tốt đẹp nhất trên cõi đời này.
J, Nguyễn Đình Trường: Người con thứ 10 của chúng tôi là
Phao Lồ Nguyễn Đình Trường (gọi là Ti), sinh vào ngày 27
tháng 08 năm 1969 tại Sài Gòn Việt Nam.
Tháng 04 năm 1975, vì hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị rơi
vào chế độ cộng sản. Toàn dân Việt Nam, nhất là đồng bào
Việt Nam Cộng Hòa đều dứt khoát di tản lánh nạn tập đoàn
cộng sản Bắc Việt dù gặp trăm ngàn khó khăn nguy hiểm.
Tuy nhiên, có người gặp hoàn cảnh thuận tiện cho quyết định
của mình, có người cùng một quyết định đó nhưng lại gặp
bao nhiêu gian lao khổ lụy trong cuộc vượt thoát và bao nhiêu
cảnh buồn đau khổ lụy trong cuộc di tản, kết cuộc không gặp
sự may mắn như ý sở nguyện của mình. Họ đành phải chịu
cảnh tang thương, đau khổ, có khi còn bị chết chóc đau
thương. Nhưng số Trời đã định vậy, biết làm sao hơn, đành
phải chấp nhận thiên ý vậy.
Lúc bấy giờ Trường chỉ mới hơn 5 tuổi, cái tuổi chỉ biết chơi
đùa, chưa có ý thức về chính trị, cuộc sống cũng như về
những vấn đề ưu tư khác trong gia đình và xã hội.
Trường đã được di tản với má và các anh chị vào tháng 04/75.
Rời khỏi Sài Gòn ngày 26/04/75 trên một chiếc phi cơ Hoa
Kỳ để bay qua Guam.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Đến tạm trú tại Guam được vài hôm thì lại được di chuyển
cùng gia đình qua California, ở tại trại Tám Camp Pendleton,
Nam California.
Từ nhỏ đến khôn lớn, Trường luôn được khuyến khích khi đi
học từ lớp mẫu giáo, các lớp Tiểu học, hết Trung học, qua
Đại Học và cuối cùng Trường đã đậu bằng kỹ sư Đại học về
Computer Science Engineering tại Hoa Kỳ.
Đến hôm nay, khi Ba viết bài này thì Trường đã trên 40 tuổi
mà vẫn chưa thành lập gia đình. Tuy qua bao nhiêu người giới
thiệu, bao nhiêu mối mời gọi, bao nhiêu cô sẵn sàng nâng
khăn sửa túi, Trường vẫn không bằng lòng ai… như không
nghe, không biết, không thấy. Tuy nhiên, Trường có tính dứt
khoát là khi gặp mà không thích thì ngưng, không liên lạc hay
lợi dụng... Ba cầu mong cho Trường mau có kết quả tốt đẹp
về hôn nhân.
Thời gian sau khi xong Đại Học, Trường làm việc cho các
hãng điện tử. Sau đó vì các hãng xưởng sa thải nhân viên quá
nhiều, vì tình hình kinh tế Hoa kỳ xuống dốc. Trường đã phải
đi làm thương mại, buôn bán và giúp tiệm “Furniture”cho anh
Nguyễn Đình Tiến một thời gian. Hiện nay (2014) Trường đã
được Huy - Hoa giới thiệu đi làm việc cùng sở với anh rể
Huy.
Nguyện xin Chúa và Mẹ Maria chúc phúc lành cho con trai
của ba...
J, Nguyễn Đình Ngọc Hân: Đây là người con gái út của
chúng tôi với bà xã Nguyễn Thị Hạnh. Má qua đời khi Bé Út
mới hơn hai tuổi. Bé Út tức Ngọc Hân được sinh ra vào ngày
21 tháng 05 năm 1973 tại Sài Gòn, Việt Nam. Khi Má sanh
Bé Út, bác sĩ nhận thấy có sự khó khăn và má bị xuất huyết
quá nhiều. Bác sĩ đã viết giấy về khuyên gia đình là không
nên sanh thêm nữa, vì sợ rằng Má sẽ bị băng huyết, rất nguy
hiểm đến tánh mạng.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tuy nhiên, sau lần sanh này, má đã được kiêng cử, không còn
dám sanh thêm. Thực ra, Má cũng nghĩ đến kiêng cữ bằng
thuốc ngừa thai trong những tháng năm trước. Tuy nhiên, thời
gian đó ngừa vậy là có tội đối với đạo Công Giáo, nên chúng
tôi không bao giờ dùng thuốc ngừa thai. Thế nên Má luôn bị
mang bầu hoài. Có một điều là tuy chúng tôi có nhiều con,
nhưng vì Má nuôi con quá cẩn thận, khéo léo… nên những
đứa con đều hồng hào, khoẻ mạnh, xinh đẹp.
Khi má bị bịnh và mất đi, Bé Út còn quá nhỏ, chưa được ba
tuổi chẳng hiểu biết gì. Cách xa má hơn một tháng khi má
nằm trong bệnh viện, Bé Út nhớ má vô cùng, nhưng vì còn
quá nhỏ, không được vào nhà thương thăm, nên không biết
phải làm sao. Do đó các chị phải thay nhau chăm sóc, đùa
giỡn, dỗ em… để Bé Út đỡ buồn.
Vì còn nhỏ chưa hiểu nên Bé Út cứ hỏi Má đi đâu mà không
về. Nhất là khi má còn sống, hay nhắc bảo các anh chị phải
lo mặc áo ấm khi đi học hoặc khi ra ngoài. Hằng ngày các chị
Hài, Hằng có bổn phận phải lo lắng cho em ăn uống, hằng
đêm phải chăm sóc cho em yên ngủ. Vì Hài, Hằng là hai chị
tương đối lớn nhất trong gia đình. Tội nghiệp Út nhớ má quá
mà không biết má đi đâu không về. May mắn vì có các anh
các chị đông, nên Bé Út cũng đỡ buồn và đỡ nhớ Má. Tuy
nhiên, lâu lâu Bé Út cũng hỏi Ba:
- "Sao Má đi đâu lâu quá mà Má không về?”
Mỗi lần con hỏi như vậy là tôi cũng chết đứng trong lòng.
Cho đến lúc con lớn lên vào khoảng 5, 6 tuổi, Ba mới nói cho
con biết Má đã chết và đã về Thiên Đàng chầu Chúa trên nước
Trời rồi. Ba nói như vậy, con nghe mà có lẽ cũng chẳng hiểu
biết gì vì Út còn nhỏ. Càng ngày lớn lên, Bé Út nhận biết
được sự chết và sự sống của con người.
Ngọc Hân lớn lên rất ngoan ngoãn, cố gắng học hành và đã
thành công trong việc học. Khi đã ra trường Ðại Học, Ngọc
Hân khó kiếm được công ăn việc làm tại Denver, Colorado.
Nên Út di chuyển sang California để kiếm việc dễ dàng hơn.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Bên California có chị Hoa, Anh Tiến, chị Hương… lẽ dĩ
nhiên kiếm job dễ dàng hơn là ở Denver, do đó có người gọi
Denver là miền cao xứ tuyết .
Ngọc Hân thành công trong việc học và đã kiếm được công
ăn việc làm tốt đẹp ở California, đúng như ý nguyện.
Khi tuổi đời lớn đủ, Ngọc Hân đã đáp ứng “tình bạn đời” với
một chàng thanh niên gốc Trung Hoa, tên Stephen Kwo. Sau
một thời gian quen biết, Ngọc Hân lo liệu và dàn xếp để
Stephen Kwo trở lại đạo Công Giáo. Stephen tỏ ra hết sức tin
tưởng vào Thiên Chúa và ngoan đạo. Anh tình nguyện đọc
Thánh kinh mỗi ngày Chúa Nhật tại Thánh Đường. Ba và gia
đình rất hoan nghênh ơn kêu gọi để anh trở nên một người
công giáo đứng đắn. Đồng thời khen ngợi Ngọc Hân đã hoạch
định chương trình để giúp Stephen trở lại thành một người
công giáo gương mẫu!
Đến ngày 21 Tháng 08 năm 2004, Stephen Kwo và Ngọc Hân
làm Lễ Thành Hôn tại San Diego California, sau đó có trưởng
nam tên Christopher Ly Wei - Min Kwo sinh January 11/
2006, và thứ nữ là Sophie Minh Tiên Kwo sinh November
12/2007. Hai cháu bé đẹp trai, đẹp gái, giống mẹ hồi nhỏ...
Ông ngoại mừng cho các cháu đáng yêu! Mong rằng các cháu
ngoan hiền và khỏe mạnh ...
Đến năm 2014 vì nhiều lý do, Ngọc Hân đã ly thân với
Stephen, ba mẹ con hiện đang sinh sống cùng nhau. Ba
nguyện cầu xin Thiên Chúa ban cho Ngọc Hân được gặp mọi
điều an lành tốt đẹp nhất.
K, Nguyễn Đình Joseph: là người con trai của Ba và Má
Nguyễn Lương Yến, người vợ sau của tôi, được thành hôn
vào ngày 30 Tháng Giêng năm 1982. Nghĩa là sau 6 năm, khi
bà xã Nguyễn Thị Hạnh đã quá vãng, và nay thì người vợ sau
Lương Yến cũng đã qua đời năm 2011 vì bạo bệnh.
Nguyễn Đình Joseph được sinh ra tại Denver, Colorado vào
ngày 11/10/1983. Hiện nay Joseph đã ra trường Đại Học CU,
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Denver (CO.) ngành báo chí, sau đó làm việc tại một toà báo
ở Denver. Hy vọng sẽ thành công trong xã hội.
Joseph có vóc dáng cao to, hơi “đô con”. Tuy nhiên vì Joseph
chịu khó tập thể dục hằng ngày, chỉ ăn vừa đủ no theo tỷ lệ,
do đó không quá mập như một số thanh niên khác.
Ba cầu nguyện hằng ngày cho tất cả các con đạt đến sự thành
công thánh thiện và khôn ngoan đạo đức đó. Một điều Ba
hằng tâm niệm hằng ngày, đó là vấn đề ĐẠO ĐỨC. Hãy luôn
luôn thi hành sự Đạo Đức đối với Thiên Chúa và tha nhân.
Theo nhận xét của Ba, Joseph cố gắng hơn nữa thì sẽ không
thua một người nào, sẽ đậu nhiều bằng cấp cao hơn. Ngày
xưa, khi Ba còn đi học, Ba luôn luôn được xếp hạng 10 người
đầu trong lớp. Kể cả khi tham dự lớp Sinh Viên Sĩ Quan tại
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, Ba vẫn được xếp hạng 10
người đầu lớp khi mãn khóa với sĩ số gần 170 thí sinh chấm
đậu. Do đó Ba được ưu tiên tuyển chọn Binh Chủng Quân
Vận như Ba muốn khi ra TrườngVõ Bị Đà Lạt.
Ba luôn cầu nguyện cho Joseph và các con nhiều khôn ngoan
thánh thiện để lèo lái cuộc đời vào nẻo đường vinh quang
hạnh phúc thánh thiện mà Gia Đình hằng mong muốn, trước
là để tự giúp mình, sau là để vinh danh Thiên Chúa cùng đề
cao Gia đình họ Nguyễn mà Tổ Tiên đã gắng công gầy dựng.
20, GIA ĐÌNH TÔI ĐẾN HOA KỲ :
Gia đình vợ con tôi được di chuyển từ Sài Gòn bằng phi cơ
qua Subic Bay vài ngày, từ Subic Bay bay qua Guam cũng ở
vài ngày, từ Guam đi Hawaii ở lại một đêm, sau đó tiếp tục
bay đến LA, di chuyển bằng xe Bus đến Nam California, tạm
trú tại Camp Pendleton, tọa lạc một nơi gần San Diego. Hình
như nơi này là một căn cứ quân sự nhường cho dân tỵ nạn
được di tản tới.
Khi còn ở Sài Gòn, tôi đã lo cho gia đình tôi di tản qua Hoa
Kỳ trước. Riêng tôi phải ở lại trông coi Căn Cứ Long Bình.
Quân Đoàn 3 đã di tản trước Căn Cứ Long Bình chúng tôi.
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Khi Quân Đoàn đã di tản, buộc lòng tôi phải trình cho Trung
Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu phó Bộ Tổng Tham
Mưu và là Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận Bộ TTM.
Trung Tướng ra lệnh:
- "Anh hãy cố phòng thủ đêm nay, ngày mai sẽ hay!”
Sáng ngày 29 Tháng 04 năm 1975, Quân đội Bắc Việt đã tràn
ngập trên các nẻo đừng khắp vùng Biên Hòa, Long Bình.
Chúng tôi không biết phải làm thế nào, trong khi Quân đoàn
đã bỏ trống, chúng tôi lại liên lạc về Bộ Tổng Tham Mưu,
trình Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, nhưng cũng không
còn gặp được. Chúng tôi không còn biết phải liên lạc với ai,
không còn lối thoát nếu không thi hành gấp thì sẽ bị kẹt lại
trong khi gia đình của tôi đã được sắp xếp qua Guam. Rốt
cuộc chúng tôi phải dùng trực thăng bay thẳng ra Vũng Tàu,
lên tàu Mỹ lánh nạn.
Như đã trình bày, khi tôi lên tàu Mỹ bị xỉu vì bị đói quá, đã
hai ba ngày tôi chẳng ăn gì cả, hai nữa là mất ngủ, vì mấy
đêm liền tôi hiện diện trên tuyến phòng thủ, có ngủ được chút
nào đâu. May là mấy ông bạn vực tôi dậy, đi kiếm cho một
vài miếng cơm!
Thực sự mà nói, lúc bấy giờ tôi mới biết là bị đói quá, cái gì
bỏ vào miệng tôi đều cảm thấy quá ngon. Khi đã được bình
tĩnh hơn, tôi đi theo các bạn xuống hầm tàu, gặp một bà bạn
trao cho một cái kẹo ăn sao mà ngon thế!
Lúc bấy giờ tôi mới có ý nghĩ rằng, khi con người đói, cái gì
có thể ăn được đều rất ngon miệng, kể cả những cái rất tầm
thường như kẹo bánh. Thú thực với quí vị, hằng ngày không
có khi nào tôi dám ăn kẹo Chợ Lớn đâu, thứ nhất là kẹo làm
thiếu vệ sinh, thứ hai là kẹo được làm với những chất liệu thô
sơ tầm thường, có thể có hại cho sức khỏe như bị đau bụng,
tiêu chảy, thứ ba là thiếu bảo trì ruồi nhặng khi làm kẹo bánh
có thể ruồi nhặng mang vi khuẩn vào kẹo bánh, v.v... nhưng
giờ này, cái kẹo Chợ Lớn đã làm cho tôi quá ngon miệng, tôi
thầm cám ơn ai đã làm ra cái kẹo đang ngậm trong miệng, và
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
cũng thầm cám ơn người đã cho kẹo. Tuy ăn kẹo ngon miệng,
nhưng biết đâu một chút xíu nữa ông “Tào Tháo” lại đuổi
mình chạy. Nhưng may mắn, những lo âu của tôi đã không
xảy ra.
Một điều khác tôi xin trình bày là mấy hôm chót tại Căn Cứ
Long Bình, vì đi tuần tiểu hằng đêm nhiều quá, nên ngón chân
cái của tôi bị sưng lên, đau đớn vô cùng. Tôi phải mang giày
sandale thay vì giày cao cổ nhà binh. Vì lý do đó, khi đến
Guam, tôi được chọn vào làm việc tại clinic, trạm y tế nhà
binh, để ghi danh các bệnh nhân và thông dịch cho bác sĩ.
Như trên tôi đã trình bày, làm việc tại Trạm Y tế, tôi có hai
cái lợi: không phải đi lấy cơm phải sắp hàng dài khoảng 1 cây
số, tôi e rằng chân tôi bị sưng, sẽ rất khổ và khó khăn cho
tôi... Do đó, hằng ngày có người mang cơm đến trạm Y tế cho
chúng tôi. Nhờ chăm sóc thuốc men và không đi đứng nhiều,
nên chân tôi bình phục mau lẹ.
Làm việc tại Trạm Y tế trong Trại Tỵ Nạn Guam được
khoảng ba ngày, tôi được tin Trạm Chuyển Vận Trại sẽ có
phi cơ bay về California. Tôi xung phong đi ngay, mục đích
để gặp gia đình. Tuy nhiên khi máy bay cất cánh, nhân viên
phi hành đoàn cho biết phi cơ sẽ đáp xuống TB. Arkansas, và
sẽ có xe bus chở về Fort Chaffee.
Tôi quá buồn, vì làm sao gặp được gia đình hiện đang ở Nam
California?
Tôi phải xin di chuyển ra Springfield, Missouri và tạm định
cư tại Tiểu Bang này. Sở dĩ tôi viết “Tạm định cư” vì lý do là
vì thành phố này nhỏ, việc làm hiếm hoi, các trường Trung
học, Đại học ít và không có phẩm chất cao. Hơn nữa lương
tiền trả cho công ăn việc làm rất hạn hẹp, so với các Tiểu
Bang lớn.
Gia đình tôi (vợ và các con) hiện tạm trú tại Trung tâm tỵ nạn
Nam California. Nếu tôi qua đó đoàn tụ với gia đình và định
cư tại California, có lẽ cuộc đời của gia đình tôi đã có nhiều
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
thay đổi, hơn là đi định cư tại Denver, Colorado. Tuy nhiên,
chúng tôi vẫn tin vào số phận do sự an bài của Thượng Đế.
Sau đó chúng tôi sum họp với nhau, nhưng không lâu thì bà
xã tôi qua đời tháng năm 1976 tại Springfield Missouri! Tôi
buồn quá, Springfield chỉ là một thành phố nhỏ với dân số lúc
bấy giờ khoảng 150,000 người. Sau đó gia đình tôi đã di
chuyển đến Denver, Colorado, và ở đây cho đến ngày nay.
Khi mới tới Denver, chúng tôi đã được chú thím Toàn giúp
nơi ăn chốn ở tại nhà chú thím. Thực ra thì con cái hai gia
đình đông đúc và còn nhỏ, do đó cũng gặp trở ngại. Sau đó
tôi đã tìm thuê một căn nhà khác. Dù sao thì tôi cũng phải
cám ơn chú thím Toàn đã lo lắng cho chúng tôi nhiều, khi
mới chân ướt chân ráo đến đây.
Chúng tôi coi như định cư ở Denver, Colorado, đã cư ngụ tại
đây hơn cả 30 năm trời, gần suốt cả cuộc đời di tản qua Mỹ
Quốc. Một số các con cũng đã di chuyển qua Nam California,
để buôn bán hay làm việc tại đó. Sau khi mãn khóa học,
chúng nó đã thành lập gia đình ở California và sinh sống làm
việc tại San Diego luôn. Hiện nay, có Nguyễn Thanh Hương
tức Diễm Châu, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Ánh Hoa,
Nguyễn Đình Trường, Nguyễn Đình Ngọc Hân và cá nhân tôi
hiện cư ngụ tại San Diego, đây là thành phố lý tưởng nhất cho
người già tại Mỹ. Riêng Nguyễn Diễm Hà thì đóng đô tại Salt
Lake City, Utah. Phần còn lại gồm có Nguyễn Đình Thường,
Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Hài, Nguyễn Thị Mỹ
Hằng, Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Đình Joseph thì cư ngụ tại
Denver và các thành phố phụ cận, thuộc Tiểu Bang Colorado.
Tuy là ở cùng một thành phố, nhưng khoảng cách cũng khá
xa nhau. Đi lại thăm nhau cũng mất nửa tiếng, nhất là những
khi gặp giờ “tan sở” hoặc giờ “đi làm”, kẹt xe.
Hằng năm thì chúng tôi cố định những ngày “Họp Mặt” gia
đình, gồm có ngày Tết Nguyên Đán, Ngày “Giỗ Mẹ May 07”,
hay ngày Lễ Giáng Sinh... Đó là những ngày quan trọng, các
con cái tề tựu về để họp mặt ăn mừng, cầu nguyện cho Mẹ và
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Ông Bà Tổ Tiên. Mộ của má trước đó mai táng tại Nghĩa
Trang Công Giáo Springfield MO, nay đã chuyển về an táng
tại Denver năm 2007 cho dễ dàng thăm viếng mộ phần.
*
* *
Cuộc sống tại Denver đã được an bài một cách tốt đẹp. Năm
1978, chúng tôi được tham dự kỳ thi vào làm việc tại Bưu
Điện. Nhờ phúc đức, tôi đã được số điểm cao (96/100). Nhờ
vậy, đến năm 1980, Bưu Điện Hoa Kỳ gọi tôi vào làm việc.
Tôi làm tại BMC Denver.
Tại Bưu Điện, lương tiền tương đối khá hơn đi làm việc ở
ngoài. Tôi đã làm việc tại BMC Denver tổng cộng là 21 năm,
từ năm 1980 đến năm 2001 là về hưu. Tôi về hưu vào năm
tôi đã 75 tuổi đời. Kể ra tuổi đã lớn, nhưng vào năm ấy, ngoài
những bệnh cao máu, cholesterol, tôi chẳng có bệnh gì cả và
trong người cảm thấy rất khỏe và mạnh. Hằng ngày, tôi hay
đi bộ thể dục vào khoảng trên ba (3) miles.
Ba năm sau, vào khoảng năm 2004, mạch máu bên phải cổ
tôi bị nghẹt, sau khi khám tại máy đo Bệnh viện Saint Joseph,
tức là máu từ tim lên đầu, do vậy tôi phải mổ mạch máu đó.
Mổ mạch máu này rất nguy hiểm, vì nếu lệch một chút là liên
quan đến hệ thống thần kinh, không còn biết gì nữa, chỉ còn
nằm chờ chết. May mắn. Việc giải phẫu của tôi đã được thi
hành một cách tốt đẹp. Qua sáng hôm sau, Bác sĩ trưởng đoàn
giải phẫu Saint Joseph đã đến thăm tôi rất sớm, khoảng 5 giờ
sáng. Ông chỉ đi xa xa ở phía ngoài nhìn tôi xem tình hình ra
sao. Trong khi đó, tôi đã dậy và nhìn thấy ông. Tôi dơ tay
chào ông và hỏi ông tôi đã được mỗ chưa? Ông trả lời “Anh
đã được mổ chiều hôm qua rồi và anh cảm thấy thế nào?” Tôi
trả lời “Tôi cảm thấy tốt” và tôi yêu cầu ông cho tôi được tháo
các giây cột tay chân tôi vào thành giường. Đồng thời “Tôi
muốn vào nhà vệ sinh”.
Bác sĩ chỉ thị cho nhân viên túc trực tháo gỡ các phương
tiện tiếp nhận nước tiểu và mở các giây cột an toàn vào thành
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
giường. Tôi đứng dậy và đi vào nhà vệ sinh một cách tự nhiên
như người khỏe mạnh. Đồng thời tôi xin Bác sĩ được về nhà
chiều hôm ấy, nhưng ông không đồng ý, vì còn phải theo dõi
tình hình và vết mổ. Do đó tôi phải ở lại đến chiều Chúa Nhật
mới được về nhà.
Cám ơn Thiên Chúa đã thương tôi, giúp sức che chở tôi trong
cơn giải phẫu nguy hiểm, mọi việc đã được qua đi một cách
tốt đẹp.
Trong năm 2005 vào khoảng Trung tuần tháng 07 dương lịch,
các con tôi đã tập họp đông đủ tại Denver, Colorado để mừng
sinh nhật thứ 80 của tôi. Sự thật ngày sinh của tôi là ngày 11
tháng 12 năm 1925. Tuy nhiên, các cháu nói rằng nếu chờ
đến tháng 12 là tháng lạnh lẽo, có nhiều mưa tuyết tại
Colorado, sự đi lại rất bất tiện và khó khăn cho việc tổ chức.
Nhất là sự khó khăn cho các anh chị em ở các Tiểu Bang khác
về Colorado.
Đó là một nhận xét rất xác đáng và thiết thực.
Thực sự ra thì Ba đồng ý tổ chức sinh nhật của Ba cứ 10 năm
làm một lần. Nghĩa là năm 50, 60, 70, 80 tuổi là những năm
các con mừng sinh nhật cho Ba. Từ 80 tuổi trở lên, cái tuổi
gần đất xa trời, có lẽ nên tổ chức năm năm một lần. Như vậy
sau 80, sẽ tổ chức vào tuổi 85, 90, 95. Đó là ý muốn của tuổi
già, nhưng không biết Chúa có thuận cho chúng ta sống đến
số tuổi đó hay không. “L’homme propose, Dieu dispose! Con
người đề nghị, Thiên Chúa quyết định”. Chúng ta chỉ vâng
theo thánh ý Ngài thôi.
Cuộc đời sống tị nạn xa quê hương đã gần 40 năm tại đất
khách quê người, hiện tại thì sức già, thể xác đã mỏi, sinh
hoạt yếu. Mọi khả năng vật chất và trí não đã chùn bước,
không còn lanh lẹ mạnh khỏe như tuổi thanh xuân. Về vật
chất và trí não, chúng ta đã được ơn trên sắp xếp theo đúng
đường lối tuần hoàn của vũ trụ.
Chúng ta nguyện cầu xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho họ
tộc ăn nên làm ra, cứ mỗi hai năm gắng duy trì tổ chức họp
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
mặt Gia Tộc Họ Nguyễn một lần, như đã từng làm lâu nay…
Có cuộc sống hiền hòa đạo hạnh, lý tưởng và luôn biết kính
trọng, tuân theo lề luật đạo giáo, đồng thời cầu xin Ngài
hướng dẫn cuộc sống vật chất và tinh thần của chúng ta được
đi đúng đường hướng đã vạch sẵn trong phúc âm, gia tộc họ
Nguyễn chúng ta được an vui, hạnh phúc, thành công...
Nguyễn Đình Thông
Nguyễn Thị Hạnh & Nguyễn Đình Thông
Hình ảnh 12 người con & cháu chắt gia đình tôi:
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Các con chụp tại Denver tháng 8 năm 2014
Ngày Tết năm 2011 tại Denver, Colorado
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Đám cưới Michelle tháng 8 / 2014 tại Denver - 6 chị em
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi Ký Gia Đình Họ Nguyễn
Hồi ký Gia Đình Họ Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Đình Thông
Cựu Đại Tá Quân Vận VNCH 1975
Xuất bản tháng 1 năm 2015
tại San Diego, California - USA
Mọi trích dịch phải có sự đồng ý của gia đình tác giả *
(*) Diễm Châu Nguyễn email: catdonsa@yahoo.com
Nguyễn Đình Ngọc Hân email: hanahut@gmail.com
Tel: (909) 856-7784
English Translation
Memoirs of the Nguyễn Family
NGUYỄN ĐÌNH THÔNG
Former Lieutenant Colonel
Army of the Republic of Vietnam
Commander of Military Transportation Region 3
Deputy Commander of Long Binh Base
Medals:
- Fifth-Class National Order of Vietnam
- Gallantry Cross
- Croix de Guerre with Silver Star
- And several others that have been lost…
The Nguyen Family Memoir
Family Annals of the Nguyễn Clan
Started writing in the United States - December 11, 1995,
when the author was exactly at the age of Thất Thập Tòng Tâm Sở Dục.
(As stated by Confucius in the Analects, referring to the age of 70)
It is possible to do as one wishes in accordance with moral principles.
- Respectfully dedicated to parents with the filial piety and reverence
of a child who has not yet repaid in any way
the debt of gratitude for the birth and upbringing bestowed by Father and Mother.
-Cherished memories of my dear wife Anna Nguyễn Thị Hạnh,
an ideal life partner who left us too soon,
who helped me greatly in life,
both spiritually and materially.
The Diary of the Nguyen Family
Family Chronicles of the Nguyen Clan
INTRODUCTION:
In our Vietnamese society, during the feudal period, under the yoke of colonialism, and especially under the communist regime's authoritarian rule, the people suffered from poverty, hunger, and lack of education... As a result, very few families have recorded their family's historical relics, relatives, and clan members in written documents. These documents are also known as family genealogies. Except for aristocratic families, those with power and authority, intellectual families with academic achievements, or wealthy families with ample financial resources, most people did not have the means to create such genealogies. The vast majority of the population, struggling to make ends meet, were preoccupied with their daily survival, and
People are busy with their livelihood, worrying about making ends meet, and no longer have the time to think about anything else, let alone keeping a family record. I think that our ancestors' clan may have had a family record in the past, but over the centuries, through political and military upheavals, and events such as the Trịnh-Nguyễn conflict, our clan's family record was likely lost or destroyed. However, whether our clan is the Nguyễn family or another, and whether we have a family record or not, is just a question, a hypothesis, and the truth is unknown to anyone.
This diary does not aim to replace a family record, but rather
I am recording a few connections of our family clan from the recent past, a period in which I myself lived. At the same time, I would like to note down some stories, both joyful and sad, about the lives of our ancestors and elders, those who shared the same time and space in the journey of life, or stories about our hometown, with the purpose of allowing our descendants to read for entertainment and to gain some knowledge about our clan, as well as not to forget their roots.
Certainly, there must be some shortcomings, so if anyone knows of any errors, please kindly point them out, and I will supplement and correct them for accuracy. Moreover, I would like to mention that, because of my children,
The Nguyen Family Memoir
As many of my younger relatives live abroad, their understanding of the Vietnamese language is somewhat limited. Therefore, I have to explain or provide detailed annotations for every quote or foreign word, as well as our own beloved Vietnamese language.
Sincere gratitude is expressed.
SPECIAL NOTE:
This Memoir is only circulated within the author's family clan. For any quotations, please contact the author's family (*).
Written in Aurora, on December 11, 1995
Nguyễn Đình Thông
(*) Diễm Châu Nguyễn email: catdonsa@yahoo.com
Nguyễn Đình Ngọc Hân email: hanahut@gmail.com
ARTICLE 1: A FEW DISTINCTIVE CHARACTERISTICS OF MY HOMETOWN:
(Note: I will continue translating if you provide the rest of the text)
Family Annals of the Nguyễn Clan
My hometown is called Đơn Sa commune, Quảng Trạch district,
Quảng Bình Province, in the central region of Vietnam. It is called Đơn Sa commune because the soil in the village's fields has a mix of red and yellow sand: Đơn refers to the red and yellow color, and Sa means sand. Before 1945, Đơn Sa was a thriving commune with a population of over 4,000 able-bodied men, not including women, children, and the elderly. This was a large commune. To the east of the commune, there is a sand dune with a reddish-yellow color that runs along the coast from the mouth of the Gianh River (Linh Giang) to the foot of Đèo Ngang Mountain (Roòn). The sand dune is nearly 2 kilometers wide before reaching the East Sea, which the Chinese call
The South Sea. This sand dune is blown by the northeast wind every year, and the sand gradually encroaches on the villagers' cultivated land, and so on from year to year, the cultivated land becomes increasingly narrow, if no prevention measures are taken, the sand will invade all the cultivated land of the villagers.
Today, Quảng Bình Province is quite famous for having Phong Nha - Kẻ Bàng, a system of about 300 large and small caves. Phong Nha Cave has been evaluated by the British Royal Caving Research Association as the world's most valuable cave with four first-place rankings: the longest underground rivers, the highest and widest cave entrance, the widest and most beautiful sandy beaches, and the most beautiful stalactites.
the most beautiful... was recognized by UNESCO as a world heritage site in Southeast Asia. In 2005, the British Cave Association discovered a dry cave, named Paradise Cave, which is even larger and more beautiful than Phong Nha Cave.
Around 1938 and 1939, while our Vietnamese homeland was under French colonial rule, a Franco-Vietnamese company was established by Mr. Urbain, Director of the Bank of Indochina in Tourane (Bank Indochinois de Tourane), and Mr. Phan Văn Thú (Hồng Lô Tự Khanh, Tứ Đẳng Triều Đình), often referred to as Mr. Hường Thú, Head of the Quảng Khê Customs Station (with an office located on the southern bank of the estuary).
The Nguyen Family Memoir
The company (near the Gianh River) had pine trees planted on the sand dunes, known as "dương liễu" or more accurately, "phi lao" trees. The task of planting "phi lao" trees was very labor-intensive under the direct supervision of Mr. Nguyen Que, whom I call Dượng Que as he is the husband of my aunt, and Mr. Que is a villager from Đơn Sa.
After digging holes for the trees, workers had to nurture them regularly by watering them every day until the "phi lao" trees took root and became self-sustaining.
Thanks to the "phi lao" forest, the sand was held back and no longer encroached upon the agricultural land of the villagers, and also thanks to the forest
This allowed the villagers to collect leaves and branches to use as firewood, instead of having to hire a boat every year to go to the forest, cut wood, and bring it back for use. The Urbain Company and Phan Văn Thú had a plan to plant "phi lao" trees from Quảng Khê, the mouth of the Gianh River (Mỹ Hòa), to Roòn (Đèo Ngang). However, the project was only implemented up to the border of Đơn Sa commune before being disrupted due to the Việt Minh's seizure of power, and the difficulties caused by the militia around 1944 and 1945. As a result, the "phi lao" forest only existed to that extent and could not be expanded further north. I wonder if anyone has continued to plant more since then?
We would also like to note here that Phan Văn Thú was a close friend of my father. He often drove cars, or
I would ride my bike from Quảng Khê to Đơn Sa village to visit my father. Every time my grandfather came, my father would tell me to tie up the dog, because we had a very fierce dog named Lu at home. At the same time, I would run out to open the gate and hold his bike for Grandfather Hường (a nickname derived from Hồng Lô Tự Khanh). Grandfather Phan Văn Thú was the father of Lieutenant Phan Văn Đức, a close friend of mine. Mr. Đức had a stepdaughter, an artist named Lan Ngọc, who lives in Southern California and is married to my uncle Nguyễn Công Nghi, also from Quảng Khê and a fellow hometown friend. However, my uncle Nghi's relationship ended in divorce in middle age, after they had many daughters together.
Family Annals of the Nguyễn Clan
Đơn Sa commune is located north of the Gianh River (Linh Giang), about 3 kilometers from the Gianh River ferry terminal. To the north of Đơn Sa village is Thọ Đơn commune, commonly known as Làng Kẻ Tiếu. The village has a sparse population, and the residents make a living by weaving baskets. The fields and gardens are not very extensive, so the majority of the people are poor and struggling to make ends meet.
To the northwest of Đơn Sa village, it borders Thổ Ngọa village, which has limited land and few fields and gardens. The residents make a living by making conical hats, which they sell at the Ba Đồn periodic market, held every 10 days. The villagers, like those in Đơn Sa, were also mostly poor before 1945.
There was nothing to be called prosperous. The village had a family, whether good or bad depending on individual perspectives, that of Mr. Đỗ Mậu, a sergeant of the indigenous guard. Later, thanks to his diplomatic skills, he was promoted to the rank of Major by President Ngô Đình Diệm (despite not attending any military academy), and was considered by President Diệm to become the Director of the Military Security Bureau of the Army of the Republic of Vietnam.
Later on, he himself betrayed President Diệm, joining the coup group led by Dương Văn Minh to overthrow the Ngô Đình Diệm government on November 1, 1963, and ruthlessly assassinated President Diệm.
President Ngô Đình Diệm and his brother Ngô Đình Nhu, the advisor to the First Republic regime!
In 1975, after fleeing overseas, Đỗ Mậu published another book in 1986. In this book, he overly praised himself through boastful and fabricated arguments, distorting and slandering... to humiliate the reputation of Mr. Ngô Đình Diệm and his family.
Readers wonder why Đỗ Mậu, a person who received favors from the President and the Ngô family, would do such a thing. Is it a case of "saving someone, only to be repaid with ingratitude" as the old folk saying goes?
Family Memoirs of the Nguyen Clan
Moreover, the book also slanders the Catholic Church, blasphemes the Vatican, and insults genuine nationalists, leaving readers astonished.
In my opinion, this book has no historical value because it presents false information that benefits the enemies of the Vietnamese people. Some people even believe that Do Mau did not have the capability to write this book and instead lent his name to a group of people who wrote it with the intention of causing religious destruction and dividing the national ranks. This is because, given his abilities, it would be impossible for him to write a thousand-page book.
This question will be judged by history later on.
However, we must not forget to honor and highly praise one of his nephews, Trung Úy Đỗ Thọ, an Aide-de-camp to the late President Ngô Đình Diệm. Đỗ Thọ was a loyal officer to the late President Ngô Đình Diệm until the very end at the Church of Cha Tam (Chợ Lớn), a shining example of loyalty for future generations, somewhat redeeming the family's reputation. It is truly a case of a bitter tree bearing sweet fruit.
To the west of Đơn Sa village lies Thuận Bài village, which had many mandarins serving in the royal court of the Nguyễn dynasty. Many uneducated commoners from the village migrated to Sài Gòn to make a living, one
A large number of people worked as electricians, specifically in household electricity, meaning 120 or 220 volts (low voltage). The villagers of Đơn Sa, persuaded by their relatives, also migrated to Saigon to work as electricians, but they worked with high-voltage power lines (High voltage) instead.
High-voltage electricity did not benefit the ordinary commercial activities, but only benefited industrial commerce, whereas in Vietnam at that time, industrial commerce was rare, not yet widespread, and underdeveloped. Meanwhile, the shops that opened to serve people's household electricity needs were very common and crowded with customers. As a result, the people of Thuận Bài village opened many "household electricity" shops to provide materials and services.
The Nguyen Family Memoir
He would directly serve customers, and as a result, they became relatively more affluent than the villagers of Đơn Sa.
To the south of Đơn Sa commune is the village of Diên Phúc, a small hamlet that is a part of the Đơn Sa parish. The villagers of Diên Phúc are relatively few in number, kind-hearted, and unassuming. Many people from Diên Phúc have relocated to the United States, including Mr. and Mrs. Nguyễn Điều and their family, who currently reside in Aurora, Colorado.
Another small parish, also located to the south of Đơn Sa commune, is the Hói Tre parish. The majority of the people in this parish are from Văn Phú village and make a living as fishermen, but Hói Tre is a place where they would temporarily stop to rest overnight after a long day of exhausting work.
Over time, Hói Tre became a permanent settlement. The followers of this faith also built a small chapel for the congregation to gather and pray together morning and evening.
I don't know what the chapel is like today after the devastating war. Currently, in the United States, there is a family of Mr. Nguyen Hoc in Denver who are followers of this faith. The Hói Tre chapel belongs to the Đơn Sa parish. The people here are very virtuous and content with their simple lives. However, overseas, they have worked in various professions, including trade, restaurants, and have achieved great success.
In the distance, to the north, lies the Hoành Sơn mountain range, a range that stretches across the provinces of Quảng Bình and Hà Tĩnh. In the past, when the Nguyễn family was oppressed and suppressed in the north, they were helped by a nobleman who lived in this mountain range.
Familiar with geography, it guides the saying: "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại chung thân” (One Hoành Sơn range, can tolerate the body for a long time), and the Nguyễn family migrated to the South, settled in Thuận Hóa, south of the Hoành Sơn range, and survived and rebuilt the Nguyễn Dynasty's career for nearly 150 years. It ended in 1945 with Emperor Bảo Đại.
National Route 1 runs through Quảng Bình to Hà Tĩnh, passing through the Hoành Sơn range via Đèo Ngang. This place has beautiful scenery, and because of that natural beauty, Bà Huyện Thanh Quan, a famous poet at that time, was inspired by the scene to compose an immortal poem:
Family Memoirs of the Nguyen Clan
As I approach Đèo Ngang at dusk,
Grass and trees mingle with leaves and flowers.
Under the mountain, a few hills slope,
Scattered along the river, a few houses form a market.
I recall my country with a pained heart,
Longing for my family with a tired mouth.
I stop and stand still, gazing at the Sky, Mountain, and Water.
A private sentiment, a bond between us.
(Note: During my school days, this poem was written as: Scattered along the river, a few houses form a market. At Đèo Ngang, on National Route 1, there's the Roòn River to the south and the Kỳ Anh River to the north, beyond the pass.)
The villagers would gather to buy and sell goods on both banks of this small river. Boats would often come in from the sea, bringing goods from various places. The buying and selling activities were scattered along the river, with transactions taking place in houses that served as markets. There were no highland people or savage tribes living here, so why do some Vietnamese language teachers nowadays refer to a few houses as "rợ"? In my opinion, the term "chợ mấy nhà" (a few houses market) is more accurate, as people used their houses as markets to exchange and trade goods coming from the north or being transported to the south.
1. The "Quốc" refers to a type of bird called "quốc" or "cốc" in some places.
2. "Gia Gia" refers to a type of bird called "Da" or "Đa Đa". The poem suggests that the beautiful scenery evokes feelings of nostalgia and homesickness. The two words "Quốc Quốc" are paired with the two words "Gia Gia" in lines 5 and 6.
From the northwest to the southeast, a river flows lengthily, embracing the entire area, which is the Linh Giang river, also known as the Gianh River, a historic river that divided the country during the Trịnh-Nguyễn conflict, lasting nearly 200 years. This is a major river located in the northern part of Quảng Bình province. The riverbed is very deep, especially at the river mouth. The water at the Gianh River mouth flows very strongly. Therefore, during the French colonial period, the French and the Huế Imperial Court had intended to build a bridge spanning the Gianh River, from Quảng Khê to Mỹ Hòa, but it was not feasible due to the deep riverbed and solid rock, making it impossible to drive piles and pour concrete with steel reinforcement into the riverbed.
Family Annals of the Nguyễn Clan
The river was not bridged. Moreover, at that time, construction techniques were still underdeveloped, and resources were limited, so it was not feasible. For a long time, vehicles had to use ferries with engines to transport them from one side of the river to the other and back. Hopefully, with modern technology, a bridge has been built across this section of the river, bringing numerous benefits to the people's transportation.
This very river has caused annual flooding, resulting in countless tragic consequences for the people in the region. Due to the strong river current, the locals have a traditional singing verse:
(Note: The provided text seems to be incomplete, as it ends with "ví von:" which is an introduction to a traditional singing verse or a proverb. If you provide the complete text, I can translate the entire passage for you.)
"When the water of Đồng Nai dries up,
The flow of Sông Gianh decreases, only then will the curse be lifted"
Currently, the local authorities have built National Highway 1 running from Quảng Khê to Cao Lao Hạ village, and constructed a large bridge from Cao Lao Hạ across the Gianh River to the area belonging to the southern border of Thuận Bài village. As a result, the section of the national highway from Quảng Khê Mỹ Hòa passing through Đơn Sa village to the Thọ Đơn intersection has been abolished. I will discuss this issue later.
One thing we must acknowledge is that our hometown village is poor, because "the land is rocky when plowed," the fields and gardens are limited, and there are no natural resources. If the villagers did not leave to make a living elsewhere, specifically in Saigon, they would not be able to survive.
stood out from the annual famines. But also thanks to the experience of working away from home, the relatives in Đơn Sa village were able to save money to build beautiful and elegant houses with brick and tile, and construct a large and magnificent Church, with a 30-meter-high bell tower. From the top of the bell tower, one can see the Gianh River mouth in the distance, and look up to Ba Đồn street, both locations, south and north, are about 3 kilometers away from Đơn Sa village.
The village has an elementary school for the children, teaching from grade 1 to grade 3. Mr. Nguyễn Thủ, the patriarch, was my father and the grandfather, great-grandfather, and great-great-grandfather of the descendants in our clan, was the person
The Nguyen Family Memoir
He took charge of supervising the construction of the church bell tower and the village's elementary school.
The Đơn Sa village church, due to its dilapidated condition and extensive damage, was rebuilt in 2005, with Father Nguyễn Trọng Thể, the parish priest of Đơn Sa, leading the fundraising efforts and overseeing the construction. The inauguration ceremony was held on August 5, 2005, under the chairmanship of Bishop Cao Đình Thuyên of the Vinh Diocese.
From a poor and disadvantaged village that was not favored by nature, the villagers' efforts and savings have brought the village to a new level of development.
The village held a relatively affluent position. It can be said that Đơn Sa village before 1945 was a wealthy village in Quảng Trạch Prefecture, because the people knew how to save when they went to work far away in Sài Gòn. Moreover, the spirit of thriftiness and preparedness, knowing how to "store grain to prevent famine, store clothes to prevent cold" as taught by our ancestors, helped the villagers avoid the hardships of war and the annual floods, hunger, and suffering, and instead brought the village to a relatively affluent position in the region.
In the year of Ất Dậu 1945, when the Japanese army confiscated the people's rice, using it to burn fires instead of coal in factories, and at the same time banned the transportation of rice from the South to the North,
This led to a horrific famine, resulting in the death of nearly two million people, mostly in the northern and north-central regions of Vietnam.
This is a war crime for which the Japanese government must take responsibility towards the Vietnamese people...
At that time, the villagers of Đơn Sa still lived in peace, with no one dying of starvation. Meanwhile, the surrounding villages, such as Thổ Ngọa, Thọ Đơn, and Phan Long (with the town of Ba Đồn), were severely affected by the famine, with many victims dying tragically. During the Ba Đồn market sessions (held every 10 days) during the famine, I saw hand-pulled carts collecting and concentrating the corpses in one place.
Family Memoirs of the Nguyen Clan
The people who died at the market were due to overeating (eating too much while being hungry). The vendors, out of kindness, often gave too much food to those who were begging. The hungry people could not restrain their cravings, so they forced themselves to eat and died from overeating.
Đơn Sa Village was a purely Catholic village. The villagers only had one or two families who followed a different faith. However, life was still harmonious, and there was never any religious discrimination or conflict. In fact, the relationships among the villagers were very close, regardless of their religion, and there was no discrimination in marriage and matchmaking.
When the Việt Minh movement seized power, the villagers did not follow the Việt Minh, for the simple reason that the Việt Minh was communist, and communism had been condemned by the Catholic Church. Those who followed communism would be subject to "excommunication," meaning they would be cut off from the Church and no longer have any connection with the Catholic Church. This was a very severe moral punishment for the faithful.
For that reason, during the early days of the Việt Minh's seizure of power, the villagers had spontaneously fortified their village to resist the Việt Minh, preventing them from entering the village to propagate their ideology, collect taxes, arrest people, and so on. The local Việt Minh had harbored a deep grudge against the people of Đơn Sa village from the very beginning.
The reason the Việt Minh harbored such hatred towards the people of Đơn Sa village was due to the following three factors:
Firstly, Đơn Sa Village is a Catholic village. Secondly, Đơn Sa Village is more prosperous than other villages, so it is often envied and resented; and thirdly, Đơn Sa Village has been secure since it fenced off the village against the Viet Minh from the beginning.
Due to this hatred and jealousy, when the country was divided at the 17th parallel by the Geneva Accords in 1954, the local cadres decided as follows:
a- To change the name of Đơn Sa Commune to Đơn Sa Village. A commune with over 4,000 able-bodied men, not counting women, children, and the elderly, was referred to as a village. This renaming revealed immaturity and misplaced jealousy, with the wrong target and purpose.
Family Annals of the Nguyễn Clan
in order to take revenge and demean the village of Đơn Sa, but also to humiliate the scholars and educated individuals of Vietnam.
b- The second grudge that the local VM forces imposed on the Catholic villages, from Đơn Sa and Diên Phúc to Mỹ Hòa, was to cut off the section of National Highway 1 from the Thọ Đơn intersection down to the Gianh River Ferry. They redirected the national highway to run straight from Thọ Đơn village through Phan Long and Thổ Ngọa villages to Thuận Bài village, and then built a bridge from Cao Lao Hạ village, connecting to Quảng Khê and continuing on the original National Highway 1. Meanwhile, the old National Highway 1 from Thọ Đơn to Mỹ Hòa was abandoned and not maintained or repaired, which could have made it a viable provincial road for transportation purposes.
The connection to other villages in the area is no longer uninterrupted. Currently, as I write this, the old national highway section has been abandoned and severely damaged. It's unknown what the authorities will decide in the future.
This is a regrettable mistake made by the local Vietnamese authorities, which we think is an attempt to isolate these villages, cutting them off from national transportation and disconnecting them from the civilization of the outside world.
The disruption of transportation has caused difficulties in transporting goods, the economy has become stagnant, and the need to transport materials for development projects has been hindered.
At the villages in the region, it would be extremely inconvenient because the means of transportation could not reach the desired locations. To transport materials to the desired locations, it would be very costly, sometimes three or four times more expensive and slower, because the only means available was manual labor. Therefore, large-scale plans were very difficult to implement.
Hopefully, in the future, this national highway section will be reopened due to the practical needs of the national economy and the convenient transportation of local villages in the region. At the same time, it will save fuel in the long run for the convoys of vehicles traveling throughout the North.
The Nguyen Family Memoir
To the south (across Vietnam), we no longer had to take a long, winding detour on an unnecessary road.
We were surprised and wondered why, during that time, some local village officials who followed the Viet Minh and held important positions in the local government did not use their influence to fight for the rights of the people in the related villages. This was a regrettable oversight and also a mistake against their hometown and the local people.
However, this is now a thing of the past, due to the hatred and ignorance of the local cadres at that time. Hopefully, nowadays,
This national highway section has been restored due to the need for transportation and national economy.
In general, Đơn Sa village is located in a good geographical position, but in terms of agriculture, the land for cultivation is too limited, lacks fertility, and is often affected by annual storms and floods, resulting in very low yields. Therefore, it can be said that Đơn Sa is one of the poorest villages in terms of agriculture. Due to this poverty, the people of Đơn Sa village have always migrated to Saigon to find work and bring back wealth to support their families, making the villagers become rich and prosperous, avoiding the annual hunger and poverty. Although they have gone to establish themselves in far-off places, the people of Đơn Sa village still cherish the place where they were born and raised, and often return to their roots.
Returning to their hometown, they brought back money and resources to build houses and villages. As a result, Đơn Sa Village has a very prosperous appearance: most of the houses are built with brick, tiled with terracotta, and look elegant; the yards are cemented and clean; the villagers dress neatly and neatly, standing out compared to the people in the surrounding villages.
The administrative center of Quảng Trạch Prefecture is Ba Đồn City, located in Phan Long Village. The Quảng Trạch Prefecture is situated here. Ba Đồn is about 3 kilometers away from Đơn Sa Village if you follow the national highway, but if you take the village road, it's just under 2 kilometers, passing through Thổ Ngọa Village to Phan Long Village. The boundary of Đơn Sa Village's fields reaches almost to Thổ Ngọa Village.
Family Memoirs of the Nguyen Clan
I was very surprised to see a strip of land stretching up to near Thổ Ngọa Village, almost reaching the Dinh hamlet of this village! When I inquired, the elderly villagers told me: in the old days, when the two villages disputed their boundaries, neither side would give in. Therefore, the elders of the two villages agreed to let out a rooster from each village to fight each other, and the rooster from Đơn Sa Village won, chasing the Thổ Ngọa rooster up to near the Dinh hamlet of this village. That's why the boundary of Đơn Sa Village extends so far into Thổ Ngọa Village!
Going back in time, from ancient times, Quảng Bình belonged to the Ô region, which was ruled by King Chế Mân of Champa (Jaya Simhavarman)
offered to the Great Việt nation during the reign of Trần Anh Tông, as a betrothal gift to marry Princess Huyền Trân in early June 1306. When she returned to Champa, Princess Huyền Trân was bestowed the title of Queen Paramecvari.
The local dialect in this region still retains many ancient Mường Vietnamese words (according to scholar Thái Văn Kiểm), such as the following folk sayings:
Ba Đồn is the land of Ô region
A group of soldiers' wives
Going to visit their husbands (trảy = going, running)
Encountering a stormy rain (trộ mưa = a heavy downpour)
The road is rugged and difficult
The sun has set
The Ngang Pass has not been climbed
The rocky cliff is steep and frightening
The feet climb and slip
Encountering aunt carrying rice
Seeing uncle herding buffalo
Where are the Ba Đồn soldiers?
Or:
The buffalo eat in the middle of the rice field with blooming flowers
Who can't see, has something strange happened?
Family Annals of the Nguyễn Clan
(A buffalo eats in the middle of a rice field with ripening grain, who can't see, isn't it strange?).
However, the folk literature of our ancestors shows us that the above proverb consists of four countries: Trâu (buffalo) represents the state of Mạnh Tử, Lỗ represents the state of Khổng Tử, and also includes the two states of Ngụy and Tề. The meaning of ancient Vietnamese words is indeed profound!
ARTICLE 2: MY PATERNAL GRANDMOTHER:
When I grew up and gained some wisdom, I saw and recognized my paternal grandmother. I did not get to see my paternal grandfather, perhaps they had already passed away.
My grandfather had a tall and sturdy build, similar to that of a European, with a high nose, deep eyes, and was very strong. His name was Nguyễn Văn Kim, and the villagers often called him Ông Bản Kim (Bản being a village official position). My grandmother's name was Nguyễn Thị Em, and the villagers often called her Mệ Bản. According to the traditional Vietnamese notion, once a woman got married, she would only be referred to by her husband's name, and her own name would no longer be used, except in rare cases. My grandmother was also taller than the average Vietnamese woman. One unusual thing about her was that she had a pair of eyes with yellow irises, similar to those of
the German women in Europe.
My paternal grandfather led a very moral, kind, honest, and loving life, always showing affection to his grandchildren. Every time I ran over to his house to visit, he would always pick a few sour guavas or a few sweet tamarinds for me. That's all we had in the countryside.
According to my father's account, when he was young, my grandfather also followed his friends to Dong Nai (Saigon) to do business. Typically, villagers who went to Saigon, lacking a specialized profession, would only work as manual laborers, loading and unloading cargo at the Saigon port. At the ports, there was usually a group of hoodlums led by a ringleader, often referred to as the "big brother" group. These hoodlums would often bully the laborers into paying a daily fee,
The Nguyen Family Memoir
gave in to them. Those who didn't obey were beaten, tortured brutally, and sometimes even put their lives at risk. In particular, they were not allowed to look for work at the dock anymore. Due to the cruelty of these thugs, all the dockworkers were terrified and obeyed them, with no one daring to complain or voice any grievances.
My grandfather went to the dock to look for work and was immediately accepted by the contractor because of his tall, strong build and European appearance. After finishing work, my grandfather received his pay and left, but was confronted by one of the thugs who demanded that he hand over his earnings.
The gang's leader and his cohorts blocked the way and demanded that they pay a fee. In reality, my grandfather was unaware of the procedures of this group of thugs. Caught off guard by their rude and provocative behavior, my grandfather politely said:
"Sir, we have worked hard from morning till now and have only earned this much money. If you take a third of it, what will we have left to eat?"
The leader didn't even bother to respond and instead jumped in to hit my grandfather. At the same time, his henchmen also joined in. Facing this dangerous situation, my grandfather had to defend himself. With his extraordinary strength, he quickly grabbed the leader, seizing his leg near the ankle,
He spun his entire body like a stick to both defend and strike several others. The whole group was shocked.
The leader of the gang begged for mercy, almost dying, and my grandfather grabbed the back of the leader's collar and gently placed him on the ground. He knelt down and kowtowed to my grandfather, begging for his life, and the rest of the group knelt down together to apologize, as they did not know about my grandfather's extraordinary strength and revered him as their "Anh Hai", ready to follow his orders.
My grandfather paid no attention to what they were saying. He scolded them, especially the leader, saying:
"You should not bully the weak or take advantage of being in a larger group to intimidate others. This is a lesson for you to remember for the rest of your life."
Family Memoirs of the Nguyen Clan
From then on, they no longer dared to make a sound when my grandfather was around, and many laborers asked my grandfather to intervene when they were oppressed. At that time, the hoodlums didn't have guns like they do now; if they had, my grandfather might not have been able to protect his life.
The contractors at the dock witnessed the scene and saw my grandfather's extraordinary strength, so they asked him to become the "cai" (Supervisor) to manage the workers at the dock, but due to his gentle nature and being new to the city, unfamiliar with the work, he declined and only asked
He just worked as an ordinary laborer.
It's true that "the strong win and the weak lose" and La Fontaine's fable applies to this situation: "La raison du plus fort est toujours la meilleure!" (The reasoning of the strongest is always the best!).
All of our descendants who read this later will be relieved, because if this had happened in today's time, our grandfather would not have been able to survive.
ARTICLE 3: SOME CHARACTERISTICS OF MY PATERNAL GRANDMOTHER'S SIBLINGS AND CHILDREN:
My paternal grandmother had a total of 10 children, and the names of these children are as follows:
Aunts and Uncles:
Before listing the names of my aunts and uncles, I would like to explain that my paternal grandfather had two wives, and my first paternal grandmother had passed away after having only one child with him, who was:
1- Aunt Nguyễn Thị Hòa, often called Aunt Giáp Phúc (her husband was Hồ Phúc). Uncle Phúc had four daughters, namely: sisters Khơi (whose husband's name is not mentioned), Quí (whose husband's name is Tán), Thảo, and Qui. Sister Tán has children named Brother Tịnh (who became a Tabert monk and has passed away), Brother Thanh (who settled in Baton Rouge, Louisiana, USA), and Sister Vựng (whose husband is Brother Lệ) who currently resides in Lincoln, Nebraska (USA). Aunt Giáp Phúc was very kind-hearted,
The Nguyen Family Memoir
was a person of high moral character and loved his grandchildren, which is why I often visited him. Uncle Phúc passed away early.
Aunt Hòa later had her fingers curled up. According to her account, when it was too cold, she would warm her hands by the fire, and the heat from the fire caused her cold fingers to curl up. Therefore, later on, she would often advise her children and grandchildren to be careful when warming their hands by the fire on cold days.
After the traditional marriage with my paternal grandmother, my paternal grandfather had 9 children:
1- Aunt Nguyễn Thị Hiệp, often called Aunt Duyên (her husband was Uncle Duyên). Aunt and Uncle Duyên had children
There were names recorded as follows:
Chị Trùng, anh Quý, chị Thanh, anh Lâu, anh Văn, and anh Lý.
My grandmother and the children were very afraid of my grandfather, yet he was a kind person. Although he was strict and firm with the children at home, he was also kind and cheerful with us, his grandchildren and great-grandchildren. My grandfather suffered from a disability due to a cerebral hemorrhage and lived for a few more years before passing away.
2- My father, Nguyễn Thủ, was often called Ông Bát Thủ, with "Bát" being a royal title conferred upon him when he worked in the Imperial City of Huế during the reign of King Khải Định. My mother was Nguyễn Thị Quyến. My parents had nine sons: Xướng, Suất, Trí, Tuệ, Thông, Minh, Sáng (Toàn), and Láng. When my mother passed away, my father
After I got married, I had a child, and then I gave birth to another child, Nguyễn Hồng Thịnh. Besides that, my parents had all sons, no daughters, while they really wanted a daughter, but it wasn't meant to be, so they adopted and raised three girls. They were chị Thơ, chị Nguyện, and chị Tám.
Chị Thơ got married when I was still young, so I didn't get to see her often, until I grew up, got married, and had children of my own, and that's when I met her again. Her husband was anh Đào Trọng Thành, who was still quite young when I wrote this, at 96 years old, and he passed away later on November 23, 2009, at the age of 102. They had the following children: chị Thanh, chị Hoa,
Family Memoirs of the Nguyen Clan
My sister Hiền, and brother Sỹ. My sister Hiền (her husband is Nguyễn Văn Thông, a former Lieutenant of the Republic of Vietnam Military) has two children, a eldest daughter named Nguyễn Đào Uyên Phương and a son named Nguyễn Văn Thái, both beautiful children who resemble their parents when they were young. Brother and sister Thông Hiền reside in the Washington D.C. area. Their granddaughter Nguyễn Đào Uyên Phương is married to a handsome young man from South America, and they have a son named Tony born in 2007.
My sister Nguyễn Thị Thơ passed away in Saigon in 1982 due to a serious illness.
As for my sister Nguyện, I often met her when I was little until
As I grew up, I gained more wisdom. Later, when the country was divided, we lost touch, and Uncle and Aunt Nguyện Thuyết had passed away during this period.
Uncle and Aunt Nguyện Thuyết had many children, but since we lived far apart for a long time, I don't remember all of their names. I only know that they had an eldest daughter named Út Nậy, who was kind, gentle, and soft-spoken. She married a man from Thuận Bài village, worked as an electrician, and had an electrical goods store in Sài Gòn. There were also Uncle Vui and Uncle Vẻ, who often kept in touch with our family. In addition, there were several younger cousins whom we hadn't met since the country was divided, and we had to flee, so we hadn't had the chance to meet them.
I don't recognize any face. Brother and Sister Thuyết have passed away during the time of the country's division.
- Due to the war, Sister Tám was lost and her current whereabouts and fate are unknown. Sister Tám is a few years older than me, a kind and gentle person with a pretty face, a compassionate and loving nature towards her younger siblings. I don't know if she is still alive or has passed away.
3- Uncle Nguyễn Hứa (Khôi): The younger brother of my father, named Khôi by my paternal grandmother. Uncle Khôi was sent to become a priest by my paternal grandmother. Because he didn't receive a calling, he returned to secular life. He didn't want to keep the name Khôi, as it was often confused with his older brother's name, Thủ (also known as
Family Chronicles of the Nguyen Clan
When people referred to my father, they would often teasingly mispronounce his name in a way that wasn't very flattering. "Thủ Khôi" became "thổi khu"... so he decided to change it to Hứa. However, my uncle still had bad luck with his name. Because when he worked in the palace, Emperor Bảo Đại granted him the title of "Thất phẩm Triều Đình". Usually, people would call him "Mr. Thất Hứa", so my uncle wanted people to call him Đội Hứa instead.
My uncle and aunt had three children: Uncle Nguyễn Niệm (also known as Tùng), Aunt Nguyễn Thị Cúc (whose husband was Uncle Nguyễn Xanh) had a son named Nguyễn Dương, and he and his family are currently residing overseas.
and Aunt Nguyễn Thị Lài (whose husband is Uncle Hồ Quyết).
4- Aunt Nhất, who married a husband who lived far away, Uncle Đinh Kiệt, a famous traditional medicine doctor in the local area, well-versed in Chinese medicine, literature, and calligraphy, but unfortunately had a short life due to his heavy drinking. Aunt and Uncle had three children: Đinh Lực, Đinh Thị Nhì, and Đinh Thị Tam.
5- Aunt Nguyễn Thị Nhơn (whose husband is Uncle Nguyễn Thống), an electrician who worked in Huế. Aunt and Uncle had two daughters: Nguyễn Thị Nết and Nguyễn Thị Na. When Uncle passed away, a family friend took care of the funeral arrangements in Huế.
6- Aunt Quế (whose husband is Nguyễn Quế). Uncle Quế was a Supervisor for the company that planted "Phi Lao" trees in the Cát cave of our village.
Đơn Sa. We are not aware of her given name. She had three children: Uncle Phong, Aunt Nậy, and Aunt Chút. When she was a young woman, Aunt Qưế was the most beautiful girl in the village. Many young men at that time had dreams about her, but she caught the eye of Uncle Quế. As a young man, Uncle Quế was agile, handsome, and eloquent. However, when he grew old, he developed a habit of smoking opium, which ruined his career and damaged his life.
7- Uncle Nguyễn Tạo had two children: Uncle Thành and a daughter whose name I forget. Uncle Thành's wife was the sister of the owner of the famous Thiết Lập tailor shop in Saigon, located on Công Lý street, in front of the Pasteur Institute in Saigon. After immigrating to the United States,
The Nguyen Family Memoir
Kỳ, the Thiết Lập store was located on Brookhurt Street, Westminster, California.
8- Uncle Nguyễn Hóa had four children: Uncle Hồng, Aunt Hoa (who passed away at a young age), Aunt Quả (whose husband is Uncle Đê), and Aunt Dấu (whose husband is Uncle Bình, the mother of Hiệp; the two are currently living in Colorado Springs). Uncle and Aunt Hồng and their family are currently residing in Lincoln, Nebraska. Aunt Hồng often kept in touch with my family, but now Uncle Hồng has also passed away; he had one daughter named Lý, whose husband is Bình, and two children in Denver, CO.
We rarely saw Uncle Hóa because he often worked in Sàigòn and
We only heard the news that Uncle Hóa had fallen from a ladder while climbing an electric pole on the street and died in Saigon.
9- Uncle Nguyễn Tán, Uncle Tán was a martial artist, skilled in stick fighting and boxing, a person with unmatched strength, perhaps his strength was comparable to my grandfather's when he was in his prime. Unfortunately, his martial arts skills were not passed down to anyone in the family, so his skills as a martial artist have been lost. Uncle and his wife had 4 children: Aunt Đạc, Uncle Điền, Aunt Xích, and Aunt Hoàng. When I wrote this article, only Aunt Hoàng was still alive, the others had passed away. Aunt Hoàng still lives in our hometown Đơn Sa, and has not relocated or migrated.
10- Uncle Nguyễn Tường (Sáng), the youngest uncle in my paternal grandfather's family, changed his name to Sáng on all his identification papers and work records. The reason for this name change was that there was another person in our village with the same name, Tường, who was known for his excessive drinking and disreputable lifestyle. Uncle Tường didn't want to share the same name as this person when interacting with the outside world, perhaps because he was afraid of being mistaken for him. Due to Uncle's name change, my younger brother named Sáng had to change his name to Toàn. In the past, it was forbidden for younger generations to share the same name as their elders, as this was considered a taboo. However, in modern times, especially in the United States, younger generations can choose any name they like, even if it's the same as their ancestors' or parents' names.
Family Memoirs of the Nguyen Clan
My mother, aunts, and uncles, didn't really care about this. They thought that giving names like that was a way to remember those who had passed away.
One thing I noticed was that my uncles really enjoyed drinking wine. Especially Uncle Tường (Sáng). Every morning, he would start by rinsing his mouth with a small bottle of wine. They liked to drink, but it was rare to see them drunk, just a bit dizzy and stumbling like a boat on calm waters. The wine they drank had to be high-quality, with "bubbles" and "straws", meaning it had to be the best, and they would never drink ordinary or low-quality wine.
Uncle and Aunt Tường (Sáng)'s family had 5 children: Uncle Tuyết, Aunt Đào, Uncle Thịnh, Uncle Thạnh, and Uncle Thuận.
Uncle Khôi is currently living in the US. Uncle Tuyết passed away at the same time as Uncle Điền, the son of Uncle Cửu Tán.
In addition, according to my knowledge, my paternal grandmother had three siblings: two sisters and one brother, with the following names: Mệ Quảng, Mệ Thập Bộ, and Uncle Nguyễn Bình.
* Mệ Quảng had a son named Uncle Nguyễn Nguyên (I call him Uncle Sáu Nguyên).
* Mệ Thập Bộ had Uncle Cửu Di and Aunt Hương Ngọc.
Mentioning Uncle Thập Bộ, we still remember a funny story. One summer day, when it was very hot, my friends Thông and Minh and I decided to visit Uncle Thập Bộ and Aunt Cửu Di. We saw that they had just dug and built a new well in front of their house.
The well was solidly built on the surface, with plenty of clear and cool water. We met him fiddling with something in the garden in front of the yard. We greeted him and ran to check out the new well. We complimented him on the beautiful new well with plenty of cool and clear water, perfect for bathing. He replied, "That's right, but I've gained one thing - I bathe less." We laughed together for a long time about his comment. Mr. Thập Bộ had a habit of never wearing a hat, whether it was sunny or rainy, which is why there's a saying in the village, "Mr. Thập doesn't wear a hat."
* Uncle Nguyễn Bình, the younger brother of my grandfather, never married, lived a solitary life alone, but had a kind heart.
The Nguyen Family Memoir
with a girlfriend, and had a son named Nguyễn Huế, whom we call Uncle Huế. Uncle Huế grew up, got married, and had children named Đậu, Kiểng, Trang, and a daughter... whose name I forget.
In particular, Uncle Nguyễn Bình was quite wealthy in Saigon, and when he visited his hometown, he saw that the church had no pews, and the parishioners had to sit on mats. So, he donated money to buy pews for the church. This happened a long time ago, during the early days of the church. Uncle Bình was a rich and wealthy man, but also strict and authoritative, so my father and his siblings all respected and feared him. We, his nephews and nieces, all
had to yield to his authority. During that time, I saw my Uncle often wearing a white Western-style suit, a white hat, and white shoes, resembling a wealthy young man from Bạc Liêu in southwestern Vietnam at that time.
* Uncle Sáu Nguyên, the son of Aunt Quảng, had two children: Aunt Duyên (who married a Republic of Vietnam Military officer, Major Viên, a southern Vietnamese who passed away in 2003 in California), and Uncle Nguyễn Văn Nở, who currently lives in Aurora, Colorado. Aunt and Uncle Nở have children, including their grandson Nguyễn Long, who often played with my children, Thọ and Trường. Although the grandchildren had known each other for a long time, they were unaware of their familial relationship until Uncle Sáu Nguyên and Aunt Duyên moved to the United States and shared stories and news.
recently passed away. Uncle Sáu Nguyên also passed away in California in 2003.
In my paternal grandmother's garden, a public well was dug, called Giếng Ông Mệ. The well was made available for everyone to use by my grandmother, as the water was abundant and crystal clear. Neighbors and relatives would come to carry water from here.
Next to the well, my grandmother had a large pond for growing môn. My grandmother was famous for growing and pickling môn, which is used to make sour món to cook with soup or braised fish. Every day, my grandmother would take the pickled môn to the market to sell. This was one of her small daily incomes in the rural area. After selling the môn
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
After finishing, my grandmother used the collected money to buy food and necessary items for the family to use.
ARTICLE 4: MY PATERNAL GRANDPARENTS' FAMILY
My paternal grandparents' family was a respected and wealthy family in the village, with both material possessions and a good reputation. Their reputation was not limited to the village, but also extended to the local provincial government. Therefore, before 1945, my paternal grandparents' family often hosted dignitaries from the Province or the local government. Sometimes, they even had to receive guests from faraway places.
My father was the eldest son in my grandparents' family, so he
I had considerable authority over my uncles, aunts, and paternal uncles... when my grandparents had grown old and handed over the control of the family to their eldest son, my father, in accordance with the "Quyền Huynh Thế Phụ" law. On many occasions, when disputes arose among my aunts' and uncles' families, particularly between the aunts, my father would gather all parties involved and make decisions like a judge, settling the matters. All parties would obey his orders in a disciplined and orderly manner, following his verdict.
According to my father's account, in his youth, due to the poverty and hardship in our hometown, where "farming only yielded rocks and stones," he had to wander and roam to make a living. He had to ask for permission from my grandparents to leave the family and strike out on his own.
At the age of 12, I followed the elderly on foot to Saigon to find work. In the old days, there were no means of transportation, no national highways, and no motorized vehicles. The only means of transportation was by boat, but to travel by boat, one needed money, which was lacking. Therefore, walking was the most self-sufficient and common means of transportation.
It took almost three months to walk from the village to Saigon, whereas if one had the money to take a boat, it would only take about a month. Walking was extremely arduous, and one had to worry about wild animals and beware of robbers. As a result, people who traveled on foot had to be very cautious.
Family Chronicles of the Nguyen Clan
In the past, people had to have means to defend themselves against robbers and wild animals.
Each person traveling long distances on foot, in addition to wearing a leaf hat, had to carry a long, woven bamboo raincoat called a "tơi chằm". This raincoat was very important, used to shield against rain, wind, and sun. It served as a mobile home, and at night, travelers would sleep inside it.
While on the road, the raincoat would contain all the necessary tools, such as a comb, scissors, razor, towel, soap, and so on. Besides the raincoat, travelers had to carry a walking stick for support and balance.
He had a fondness for fierce animals and was skilled at packing luggage when needed.
The luggage had to be neat and compact, with minimal necessities, including a few sets of clothes, food, and money for the journey, as well as pots and pans for cooking. Everything had to be light, convenient, and easy to transport. During the migration, if they encountered a river in the late afternoon, it was considered a good thing, allowing them to bathe and rest overnight, preparing for the next day's journey. If they encountered a river while it was raining, it was unfortunate, and they would continue on if it was still daylight, waiting for another river.
The group consisted of people with different abilities, some strong and others weak, so some walked quickly while others lagged behind. They automatically formed smaller groups to travel together. However, in the evening, they would gather at a designated resting place to pray together and ask for protection.
The Lord grants us peace, sparing us from encountering enemies and wild beasts.
Because of our faith in God and the Virgin Mary, almost everyone carries an image of the Lord and the Virgin, especially the Rosary, to gather and pray together fervently every night.
According to my father's account, the most feared section of the journey was after passing through Lệ Thủy District and entering Quảng Trị Province, where we encountered Truông Nhà Hồ and Phá Tam Giang, two areas with vast lands and sparse population, infested with bandits and thieves. That's why there's a folk saying:
"Sympathizing with you, I also want to go in,"
Family Annals of the Nguyễn Clan
"(but) feared Truông house, feared breaking Tam Giang".
Truông was a vast wasteland, like a small desert, with barren and poor soil that couldn't be cultivated, only wild forest trees grew. Because it was uncultivated land, no one wanted to live there. Most Vietnamese people made a living from agriculture, so this area became desolate and empty. Thieves and bandits took advantage of this to practice their trade. This wasteland was located at the border of Quảng Trị province, adjacent to Quảng Bình province. I'm not sure why it was called Truông house. I don't know if it's because in the past, during the Hồ dynasty (Hồ Quý Ly),
Why did the Lý dynasty have to flee and hide in this Truông?
Phá is a large natural lake. Tam Giang is the name of that lake, Phá Tam Giang stretches along the coast and eventually connects to the sea. Boats can also enter and exit. This area is also part of Quảng Trị province.
The Truông of the Hồ family and Phá Tam Giang are desolate places, in the old days, no one lived there, so the bandits used it as a place for their unlawful activities to steal and rob for a living over time.
When traveling through this section of the road, relatives and elders were cautious, had to divide the able-bodied men in the group to guard against bandits.
When there was an air raid warning, the young men had to be ready to respond and protect the evacuation group, especially the women and children.
The hardships and difficulties along the way cannot be fully recorded in any book, nor can any pen describe them. The time of hardship passed quickly, and the evacuees finally arrived in Đồng Nai (Saigon).
My father was one of those evacuees, at the age of 12, a young age when he should have been going to school, but because his hometown was poor, the land was rocky, educational facilities were lacking, and the demand for food and clothing was more urgent than education, so my grandparents had to let their young son join the evacuation.
The Nguyen Family Memoir
had to bid farewell to their hometown, village, and relatives to leave and make a living.
Upon arriving in Saigon, my father was still too young to work, so he had to stay with Uncle Tư Bình, my grandfather's younger brother. Uncle Tư Bình had my father attend school, where he learned to read and write and also acquired a trade. Being intelligent, my father learned quickly and made rapid progress.
During this time, after finishing school, my father would often go to the Saigon port to watch the ships arriving from foreign countries. Having a sense of adventure in his youth, my father once took a risk and sneaked onto a French ship heading to Hong Kong. When the ship had set sail, he became lost on board. Luckily, due to the kindness of the crew, my father was able to survive the journey and eventually return home.
Luckily, my father was quickly taken in by a chef to work in the kitchen, which allowed him to have food to eat and receive a small amount of tip money. When the ship returned to Saigon, my father was afraid of being scolded by his uncle Tư Bình, so he asked the Western officer if he could stay on the ship and go to France. However, his request was not accepted because he had no documents and was too young.
My father snuck back home and was beaten by his uncle. According to my father's account, after that, he no longer dared to run away, but instead tried to study and obey his uncle. My father grew up within the framework of rules and discipline guided by his grandfather and uncle during that time. My father's tasks at that time were to study culture and professional skills, as well as learn etiquette and social norms.
Within the family and in society at large.
When he came of age, thanks to his profound understanding and mastery of electricity, and after a period of study and research, my father was appointed by the owner of the SIPÉA electricity company in Saigon to the position of "Cặp Rằng" (Caporal), which is equivalent to a "Supervisor".
The more he worked, the more he became proficient in his profession. All his work was trusted and praised by the owner of the electricity company. The owner promoted my father to important positions within the company. My father called upon his younger brothers in the village to ask for permission from our grandmother to come to Saigon to work at the Sipéa electricity company.
Family Chronicles of the Nguyen Clan
Due to his exceptional professional expertise, diligent work, and extensive experience, as well as his sense of responsibility and leadership, my father was appointed by the director of the Saigon Electricity Company to lead the mission "Bringing Civilization Light to the Imperial Capital of Hue", establishing a system of streetlights, household electricity, and power plants there.
To this day, our family is very proud that my father was the one who brought electricity to the central region in its early days.
When the electrical system was completed in the city of Hue, King Khai Dinh was extremely pleased and wanted to meet my father in person to
Discussing the establishment of an electrical system within the Imperial City. In the past, it was extremely rare for a commoner to be granted an audience with the King, and it was a great honor for the people.
On that day, my father prepared carefully, wearing formal Western attire, and a palace staff member brought a horse-drawn carriage to pick him up. My father described feeling very proud and happy, but also very nervous and intimidated. However, when he met the King in the palace, His Majesty was kind and gentle, speaking in a soft voice.
The King asked about the electrical technology, how it worked, and whether the installation of electricity in the city of Huế was complete. If it was, the King wanted to establish electricity in the Imperial Palace, where he resided.
My father respectfully explained in detail... and afterwards, the King issued a decree to establish a position within the Inner Palace, and to reside and work in the Palace for the King permanently.
ARTICLE 5: MY FATHER WORKED IN THE INNER PALACE:
After being relieved of his duties, my father had to report back to the owner of the Sipéa company and request to leave his job. The owner was very sorry to see him go, but due to the king's order, it was mandatory to comply and could not be refused.
My father worked in the Inner Palace until the end of King Khải Định's reign. When the king passed away, King Bảo Đại ascended to the throne, my father recommended my uncle Nguyễn Hứa to replace him. Uncle Hứa took over the job until the day the Việt Minh seized power, and King Bảo Đại abdicated.
Family Annals of the Nguyễn Clan
After leaving his job at the Imperial City, my father opened a shop on the street selling automobile parts and held the exclusive rights to import Saint Étienne bicycles, as well as renting cars to tourists visiting Huế to see the sights.
My father's shop was located on Paul Bert Street, near the entrance to Thượng Tứ (Huế City), and was named Quảng An. During my childhood, I lived there for a long time, and as a result, I spoke the Huế dialect fluently.
My father's business developed rapidly. In addition to renting small cars to tourists visiting famous landmarks in Huế and the imperial tombs,
of kings and lords such as the tombs of Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Thiệu Trị, Minh Mạng, Khải Định, and so on. Other places include the Thuận An gate, Ngự Bình mountain, Thiên Mụ pagoda, and other famous landmarks in the land of Thần Kinh.
Car rental in Vietnam is not like in the United States, as rental companies in Vietnam must also provide a driver. Therefore, the company needs to have many drivers. My older brothers, now grown up, are all tourist drivers.
Among the drivers, there is Brother Nguyễn Chọn, a skilled and careful driver. He considers my father as a foster father and addresses him as "Thầy". Brother Chọn's second wife, Sister Hai, helps my father with household chores, goes to the market, cooks for my father's family, and takes care of
My siblings and I were still very young, only 4 or 5 years old at the time. Sister Hai was a good cook because she had a talent for it. Brother Chọn and his wife were kind and respectful, and they had a strong sense of tradition and etiquette. Especially, they were filial to my grandparents and loved us dearly. Therefore, my grandparents also loved them like their own children. We siblings felt the same way. Brother Chọn had a first wife in Vỹ Dạ (Huế) with many children, but we rarely kept in touch, so we didn't know much about our older sister.
The number of tourists renting cars was not only to visit the scenic spots around the old capital of Huế but sometimes also requested to drive to Laos, Cambodia, or to Hanoi and Hai Phong. Occasionally, on these long trips, my father would drive himself.
The Nguyen Family Memoir
There was a time when our vehicle traveled to Laos, according to my father's account. As the vehicle approached the city of Savannakhet, it stopped to rest along the way, allowing passengers to stretch their legs as desired. The local Lao people ran out to take a look. At that time, cars were a novelty, especially for people from less developed countries. They gathered around the vehicle, touching and feeling it, and even lifted it up together. They all shouted loudly, "Nắc thè thẹ, nắc thè thẹ".
My father and the other travelers didn't understand what they were saying, but they repeated "Nắc thè thẹ" anyway. It wasn't until later that they found out the phrase meant "Very heavy, very heavy!"
The trading business in my parents' family was very prosperous.
prosperous. The store imported goods from France, including automobile parts, electrical components, and held the exclusive rights to import Saint Étienne bicycles from France, a renowned brand worldwide at that time. This was in addition to the passenger and tourist vehicles that were rented out daily.
The "Quảng An" store was bustling with activity day and night. The reason for working at night was that the tourist and cargo vehicles returning from their trips required immediate cleaning and maintenance by the cleaning teams and mechanics to be ready for the next day's operations.
The tasks of cleaning and machine maintenance had to be performed throughout the night, sometimes until 2 or 3 am before completion. My father was always present, overseeing the work and ensuring that everything was in order.
He worked closely with the team of mechanics to monitor and guide the maintenance or repair of machinery. My father never took a break before completing his tasks.
Time passed quickly, and around 1940, my father handed over the management of the business and the rental of vehicles to my older brothers to take care of.
My father returned to his hometown and bought a plantation in Thủy Vực, at the foot of Hoành Sơn mountain, near Đèo Ngang. At that time, I was also a young man of 15 or 16 years old. I asked my father:
"Why did you retire early?"
My father replied to me and my younger brother Minh:
Family Annals of the Nguyễn Clan
- "Father has enough money for his parents to live on until they're old, no need to work hard anymore!"
Therefore, my father bought a plantation to retire and enjoy his old age.
This was a fairly large plantation, and if circumstances permitted and it was well-organized, it could have become an ideal place for farming and animal husbandry. However, due to the circumstances in the following years, when the Communists seized power, the situation became unstable. My father only raised cows and farmed casually, using it as a place for us to practice plowing and farming, and to have fun during summer breaks.
Anh Nguyễn Dưỡng, the foster son of uncle Sáng (Tường), was borrowed by my father to oversee this plantation. When the war broke out
I don't know where my brother went, I only heard rumors that he evacuated to Kỳ Anh (Hà Tĩnh), got married, and stayed there, and now I don't know whether he's alive or dead.
The scenery of this plantation is really beautiful, with a large area of abandoned farmland, and to the north, it borders the Hoành Sơn mountain, with waterfalls and forests like exquisite natural paintings.
The waterfalls flow down into large lakes, then flow into distant, dreamy streams. The long, flat stones lie on the surface of the water, under the natural orange trees, their branches heavy with ripe golden fruit, attracting birds and forest squirrels. On both banks of the stream
There were countless varieties of fruit trees, such as jackfruits, guavas, mangoes, oranges, lemons, plums, and so on, with no one knowing who had planted them or when.
Notably, the sim fruits here were as big as a thumb, round and sweet. The bananas were enormous, with some being as long as two fistfuls. A healthy person could only eat one and would already be full. This showed that the soil in the plantation was extremely fertile and naturally rich, with no need for fertilizers.
During summer breaks, we would come to this plantation to play and have fun, bathing in the waterfalls and eating our fill of fruits. However, we had to be careful when drinking from the streams, or we would get bitten by mosquitoes and contract malaria immediately. The water here was very toxic. In the garden of the plantation
Family Chronicle of the Nguyễn Family
Our ancestral home had an underground stream. This meant there was a spring that gushed up water, which then flowed underground and didn't spill out. The stream water was crystal clear. Clothes washed in this water didn't need soap to come out white as snow. So, every time we went to the plantation, we would collect our white clothes to wash them there and then bring them back to the village. The reason we had to take our clothes to be washed so far away was that soap was extremely scarce on the market at that time.
One thing worth noting is that although the stream water was so clear, if you scooped it up and boiled it, the water would turn black and murky. Since the stream water was toxic, my father had a large cistern built in our residential area at the plantation to collect rainwater for use.
involved in eating and drinking throughout the year.
The cultivation at the plantation was very limited due to a lack of labor, and moreover, the crops were damaged by wild animals, especially wild boars and monkeys. The farm had planted some corn, but when it was time to harvest, a troop of monkeys would invade and destroy it. However, animal husbandry developed strongly. My father had bought and raised hundreds of cows. The herds of cows were often attacked by wolves. The front legs of the wolves had long and very sharp claws. Whenever they encountered a cow, they would strongly kick the cow's hindquarters, pulling out its intestines and liver, and the cow would fall down, and the wolves would gather to eat the intestines of the cow they had killed.
In the herd, there were lead cows. In such cases, the lead cow would run to stand over the cow in distress, using its body to protect it from the wolves.
and fought fiercely, not allowing any wolf to jump in and eat the intestines of the injured cow. It stood guard until someone came to rescue. The rescuer simply cleaned the wound, put the cow's intestines back into its belly, and used a large needle and thread to sew the wound shut. Then, they rubbed the wound with a piece of ginger and a bit of salt. A few months later, the wound had healed completely, and the cow remained healthy and strong.
Life on the Thủy Vực farm was very interesting, as we got to see many species of birds and wild animals that were beautiful and rare. In particular, there were species of monkeys that we had never seen before, even in famous zoos, but they appeared on our farm.
The Nguyen Family Memoir
Going back to the story of brother Chọn and sister Hai:
In 1945, when the revolution erupted, the trading business in my family was restricted, and my parents planned to move back to our hometown in Quảng Bình. My mother had already gone ahead to make preparations. One day, brother Chọn brought out a tray of pastries and wine, placed it on the table, and invited my father to preside. He solemnly bowed to my father and asked for permission to leave the family to pursue other work, as the family business had come to a standstill. The situation was becoming increasingly difficult, and my father agreed, asking brother Chọn what he planned to do and where he would go. It was only then that we learned that brother Chọn had been recruited by Mr.
Pham Van Dong, the Prime Minister of the Socialist Government of Vietnam, selected him as his personal driver. My father and I wished him good luck in his new job. Brother Chọn and Sister Hai had a daughter named Van, whose husband is Khoi, and they currently live in San Diego (CA). On one unexpected occasion, Sister Van came to babysit for Hieu and Thao, the children of Huy and Hoa (my daughter), in San Diego. We recognized each other thanks to a photo of us that Huy Hoa had hung in her house. The sisters were overjoyed and loved each other dearly.
ARTICLE 6: FAMILY DISCIPLINE
My grandparents' family was a family that highly valued tradition and etiquette. Perhaps because my father was influenced by life in the Royal Palace, he taught his children very strictly, with a high sense of responsibility. My father taught his children to know how to do all kinds of work, from household chores to farming and business. My father often taught us that:
"You must understand and be able to do all kinds of work, so that later you can be a master or a servant, depending on the circumstances and the time. You must remember one thing, which is to just persevere in learning."
I still remember around 1943, 1944, during the time when Japan was invading Asian countries, my father predicted the outcome of the war.
Family Annals of the Nguyễn Clan
As war was about to break out, my father insisted that all of his children learn how to cook. In our family, everyone had to go out to work in the fields, and every day, one person would take turns staying home to cook for the entire family. Moreover, when war broke out, it was possible for each person to become separated and go their own way, at which point everyone had to fend for themselves. If they didn't know how to cook, even with rice available, they wouldn't know how to eat, and who would take care of them then?
My mother was a capable and diligent woman, and even though we had a maid in the house, my mother's cooking was delicious, especially her traditional Huế-style salted fish dishes and appetizers. Perhaps that's why all of my siblings and I knew how to cook, and not only that, but we could cook well, which is really something to note! However, later on, since my siblings and I all had our own wives to take care of us,
As they were busy with other matters, the cooking and household chores of the men were neglected. My father had a habit of eating slowly, taking almost two hours to finish a meal. During meals, he would drink a small glass of strong liquor, starting with toasting with food (appetizers). He would drink and explain life lessons to his children. The topics usually included filial piety, etiquette, the duties of being a man, a sense of responsibility, family etiquette, work ethic, and children's obligations to their parents, among others.
At first, I would listen attentively to my father's words, but as time went by, the same topics repeated day after day, month after month, and I grew bored. However, due to family discipline, we didn't dare to raise questions or show disrespect for my father's teachings. My father would talk, and we would just listen,
children had to keep quiet and listen, without being allowed to have an opinion or utter a word of dissent. This was also considered a form of discipline within the family. However, my father's teachings had a profound impact on our minds.
Another disciplinary issue was that if any of my siblings did something wrong, they would be punished with a cane. The cane was a common form of punishment in Vietnam. During meals, my father would explain the reason why. And the sibling who was at fault would be punished with the cane.
Therefore, if the offense was serious, the punishment would involve carrying the cane, waiting for my father to finish his meal, and then lying down with the cane on their buttocks, waiting for the punishment to be administered. My father
The Nguyen Family Memoir
At that time, he would pick up a cane and explain what was right. After finishing the explanation, my father would ask if the child had understood the moral principles of the family and society regarding the issue. The offender had to respond, "Yes, Father, I understand now," and then my father would give a symbolic tap with the cane before forgiving them.
In the past, the person who had done wrong would have to kneel down, clasp their hands, and promise, "Yes, Father, I will behave, I won't dare to do it again." This discipline was only applied to children under the age of 14 or 15; once they were older, my father would only explain and lecture, rarely using the cane.
In reality, this was just a family protocol. In Vietnam, according to traditional customs, teaching children had to be done with a combination of reason and discipline.
They even used to whip with a rattan stick, which is why there's the proverb "Sparing the rod spoils the child, being too fond of them makes them overly indulged." That's why, in Vietnam before 1975, children in families were generally well-mannered in their speech and behavior.
Therefore, teaching children is the responsibility of parents. Not teaching them, spoiling them too much, or disciplining them too harshly with whips and curses, using crude language, are all not advisable!
Due to such strict discipline, the children as well as the household staff showed great respect, deference, and fear towards my father. My father often said: "To maintain strict discipline, one must set an example and be a role model.
"In a family, parents who love their children don't want them to know about the family's troubles, and a husband who loves his wife doesn't want her to know either!"
This saying exists because in the past, our ancestors believed in the concept of "Chồng Chúa, vợ tôi" (The husband is the master, the wife is the servant). A man could have multiple wives, five concubines, and many maids. If the husband showed affection to one of his wives or maids, it would lead to jealousy and discord among them, causing chaos in the family. This outdated and backward notion is no longer applied in modern, civilized countries.
ARTICLE 7: MY MOTHER'S HUMANITY:
My mother's name was Nguyễn Thị Quyến, which coincidentally was the same as my ex-wife Nguyễn Thị Hạnh's mother's name.
My beloved family's memoirs
my mother, who passed away just under a year after arriving in the United States at the young age of 44.
My mother was kind, gentle, and very compassionate. Her kindness was evident during the years of famine, especially in 1945, the Year of the Rooster. We will discuss this later.
My mother lived a simple life, loving and spoiling her children, giving us everything we wanted. It can be said that she was too indulgent with us. Around the end of 1947, for some reason, the closet where she kept her clothes in her private room was infested with termites that built a nest and destroyed all her clothes, jewelry, and valuable items, as well as her money, documents, and papers, to the point that my mother
I no longer had a single decent outfit that was still intact to wear when going out. This happened during the time of the rice harvest and potato digging.
Everyone, including my grandparents, was busy with the harvest and had no time to take care of things at home, which is why the accident of the termites building a nest in my grandmother's wardrobe occurred. According to the beliefs of the old days, this was a bad omen for my grandmother and for our family.
After that, my grandmother mentioned to us several times that if possible, we should sew her a long black "vải ú" dress, a type of ordinary fabric that rural people loved at that time, for her to wear when attending ceremonies or when she needed to go out. At that time, we
I was unable to fulfill my mother's request.
Until today, as I sit down to write these lines, tears well up in my eyes, and my heart still feels regretful because I was unable to repay the debt of gratitude I owe to my mother for giving birth to me, raising me, and loving me, even if it was just to fulfill a small request from a loving mother in a time of hardship and misfortune.
The situation was so dire because at that time, the Viet Minh had just taken power, and not a single item was left untouched without being confiscated and nationalized. A bad omen was clear: in 1948, my mother fell ill with a common cold, but in the countryside,
Family Annals of the Nguyễn Clan
At home, it was impossible to buy medicine, and there were no doctors to take care of her, so my mother took her last breath amidst the immense sorrow of my siblings and me.
I still remember that my mother passed away on the 10th day of the first lunar month (in 1948). When we prepared her body for the coffin, only two of us, I and uncle Minh, were present to take care of the arrangements. Uncle Toàn was still young at the time and just ran around doing small tasks.
There wasn't a single large piece of fabric available to wrap my mother's body. We had to decide to use the cotton quilt that my mother often used to keep warm while sleeping to wrap her body for the coffin. At least the quilt was relatively large enough for the purpose.
As I write these lines, I also wish to express my desire for Mother's loving forgiveness, because under the circumstances at that time, we didn't know how to handle things better. Perhaps Mother also pitied and sympathized with us, so after she passed away, she blessed us, allowing us to become more prosperous and successful in our endeavors. We will never forget Mother's kindness.
In our hearts, we still regret and quietly wish that Mother were still alive, so we could have the opportunity to repay her and show our filial piety, or if she had lived a few more decades, we would have taken care of her even more thoroughly. And with the additional years of life, Mother would also have been proud of her children, who had grown up and become successful, no longer struggling like in the old days, when Mother
We just asked for a simple "vải ú" dress, which was a personal and humble request, but it was still beyond our means. It was really miserable and distressing!
Going back to the famine of 1945, the people who lived through it still remembered the horrific scenes of death, with a total of two million victims, leaving everyone in a state of horror and fear.
To help alleviate the hunger somewhat, my grandmother had to cook more rice every day, sometimes even adding a pot of porridge, to distribute to the less fortunate. However, there were too many hungry people, and the food distribution was only symbolic, as there wasn't enough food to go around for everyone.
The Nguyễn Family Memoirs
In Đơn Sa village, the majority of the villagers did not suffer from hunger, but they were still affected by the famine. My father was farsighted and didn't know when the famine would end, so he reminded us to save to the maximum extent.
It's true that "Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn" (Save grain to prevent hunger, save clothes to prevent cold). My mother was also farsighted, but every time someone from the village came to visit, they would say it was just a visit, but in reality, they were hoping to get some food. She couldn't bear to refuse, so every time, my mother would secretly hide some food from my father, giving them three to five kilograms of rice, five to seven potatoes, or a few kilograms of dried corn, and so on.
My mother had to hide because if my father found out, it would definitely cause trouble in the family. My mother would often say: "I can endure a little, it's nothing, the other family has young children, they can't bear hunger, it's pitiful for them!" My mother's kindness was renowned, and as a result, poor relatives in the village would often visit her when my father was not at home.
Due to her gentle and humanitarian nature, my mother was respected and loved by everyone in the village, from the elderly to the young, from the wealthy to the poor. This was a source of pride for my family, and we benefited from it. Because of my mother's kindness, we, her children, were able to enjoy a good reputation and were loved by all.
The blessings of our ancestors: "Daughters rely on their father's blessings, sons rely on their mother's blessings." This is a common proverb among the Vietnamese people.
My parents had eight sons. Relatively speaking, my siblings and I have been fortunate and successful in our lives. Perhaps we have benefited from the blessings of our kind mother?
After my mother passed away, my father was classified as a landlord, our house was confiscated, and he was imprisoned. My two younger brothers, Minh and Toàn, had to flee to Đồng Hới with us.
When my father was released from prison, he was left feeling lost and alone. He was forced to remarry so that he would have someone to take care of the fields, gardens, and household. The relationship
The Nguyen Family Memoir
My father's next child was a younger brother named Nguyễn Hồng Thịnh, born in 1953. He was a half-brother, sharing the same father but having a different mother. Therefore, my father had a total of nine sons.
ARTICLE 8: MY SIBLINGS
All of my siblings, born to my parents, were boys. My father and mother had always wanted a daughter, but fate did not grant them one. As a result, they raised many foster daughters, whom I will mention later. In general, all of my siblings loved and respected each other, yielding to one another, and were always ready to help.
They helped and supported each other in every circumstance. In the family, there was never any quarreling or arguing over any task or issue, no matter how big or small.
The eldest brother was Nguyễn Xướng, born in 1912, and passed away on March 23, 1968. He was the firstborn of my parents, a very capable and diligent person. His temperament was kind and genuine, and he loved his younger siblings. He was easily moved to emotion, and whenever he encountered a pitiful situation, he would often tear up. He was fluent in French because my parents had sent him to a Western school when he was young. He spoke French like a native. Moreover, his appearance was similar to that of a Westerner.
He looked like a Westerner with a high nose, curly hair, and slightly deep-set eyes, so strangers thought he was a real Westerner. He married sister Nguyễn Thị Phi, born in 1916, who passed away on February 21, 2000, the daughter of Mr. and Mrs. Nguyễn Di, a wealthy family in the village, a perfect match. They had eight children together. When brother Xướng and sister Phi got married, I was still young, so I don't know much about their love story and what fate brought them together. I only heard rumors that before they got married, my parents had planned to marry sister Hồng (the daughter of Mr. Mệ Cửu Nhự) to brother Xướng, but it didn't work out, and I don't know why. Sister
Family Annals of the Nguyễn Clan
Hồng later married Anh Phương, the younger brother of Chị Phi. Anh and Chị Xướng Phi had eight children as follows:
- Chị Nguyễn Thị Chánh, the eldest daughter, married Anh Cung, the son of Ông and Bà Thứ, from the same village of Đơn Sa. The couple had a son named Khuê, who was handsome and academically gifted, and graduated from university with an engineering degree. Anh Cung fell victim to the war and went missing. It was later learned that he had died in an ambush... As a widowed mother, Chị Chánh and her son fled to the United States in late April 1975. There, she met a compatible life partner.
They were married for a hundred years, a bond between them. He is Bang Tươi, a former officer of the South Vietnamese Army. Their relationship brought them a daughter named Ánh. I've heard that Ánh is talented in music, skilled at playing the piano, but hasn't had the chance to perform for our relatives yet. Currently, Mr. and Mrs. Tươi reside in Houston, Texas. When I wrote about their family in 2000, he was preparing to become a Doctor of Eastern Medicine and researching acupuncture. Additionally, I've heard that they also opened a commercial establishment in Houston.
- Nguyễn Ngọc Nhiệm, the second child but the eldest son in the family and in our clan. He is a military officer.
He was a member of the Republic of Vietnam Armed Forces. He was trapped during the national crisis in April 1975 and was imprisoned in the Re-education Camps in North Vietnam. Thanks to the intervention of the US government, he was released and resettled in Houston, Texas, under the H.O program. His life was greatly disrupted, both spiritually and materially, due to the lasting impact of his years of imprisonment in the communist regime. While still in Saigon, he had married a woman named Liên and had two daughters; I know of one named Nguyễn Lưu Ly Thảo, who currently resides in Houston, Texas. After resettling in Houston, Brother Nhiệm and his wife got a divorce.
The Nguyen Family Memoir
Later on, my older brother got married to sister Phương Lan, born on July 6, 1941, from An Cựu, Huế. I wish them a prosperous and successful life.
- Sister Nguyễn Thị Trinh, the beautiful daughter of my older brother's family. While still in Vietnam, sister Trinh was married to a man named Tòng and had a son named Long. However, due to the circumstances in 1975, her husband went missing, and she had to take her young child and flee with the crowd, eventually seeking refuge in the United States, where she later married an American doctor.
- Brother Nguyễn Đức, a tall and successful young man in his career. He married a girl named Nga, the daughter of my older brother's friend.
Fortunately, we had a beloved daughter.
- Brother Nguyễn Hiếu was stuck in Vietnam and passed away in 1997 due to a terminal illness. According to reports, he had gotten married and had a 14-year-old daughter.
- Sister Nguyễn Thị Thiện also got married and apparently had a son. Sister Thiện took care of Aunt Gái during her illness until she took her last breath.
- Brother Nguyễn Khánh, the sacred child for whom I stood as godfather, is small in stature but very quick-witted and intelligent, and has been successful in his career in the United States. Brother Khánh got married to cô Phượng and had three children. He has maintained contact with his godfather since our Family Reunion in 1999.
Sister Nguyễn Thị Hương, the youngest daughter of our uncles, is married to Bùi Thiết Hùng, a former officer of the Republic of Vietnam Armed Forces, who was imprisoned for re-education and later moved to the United States under the HO program. Mr. and Mrs. Hùng have a grandson named Long. The children of Uncle Xướng have all started their own families, with many children and grandchildren, and are successful; most of them currently live in Texas, USA (Houston).
Uncle Xướng used to be a heavy smoker and drinker, which led to liver disease, and he has since passed away. According to the doctor, he suffered from severe liver cancer. At that time, I was assigned to attend a specialized course in the Army Corps.
The Nguyễn Family Memoirs
My brother Nguyễn Xướng was serving in the US Military Transport sector and couldn't attend his own funeral.
Nguyễn Xướng had joined the National Army of Vietnam, later broke his leg and was hospitalized at Đồng Hới Hospital for many days, after which he was discharged.
The second brother, Nguyễn Suất, was tall, handsome, with curly hair and a high nose, and spoke French fluently because he was sent to a Western school by my parents. His temperament was cheerful, mischievous but kind, and he showed love and generosity towards his younger siblings. I call him mischievous because once in Huế, when I was about 7 years old,
I was once in the bathroom when he wore a mask and opened the door to the toilet suddenly. I was so shocked because I had never seen such a frightening mask before. For three days, I didn't dare go back to the toilet.
I still remember one summer vacation when I went to Huế to stay with brother Suất. At that time, brother Xướng had already moved out and was doing business in Sài Gòn, and brother Suất was managing my parents' commercial establishment in Huế. It was the occasion when my parents had clothes made for us annually. Usually, my father would have two sets of long clothes made, but that year, brother Suất had three sets of long clothes made for me, as well as many undergarments. He said, "I'm having more clothes made for you so that you can focus on studying well." I was overjoyed and touched, and could only reply softly, "thank you, brother."
Another time, I went to attend the Probatorium school in Phủ Diễn (Nghệ An) after the summer break. When I passed through Vinh, it got dark, and I had to spend the night at a lodging house. I was robbed of all the money in my pocket, about $10.00, which was a significant amount at the time. My parents had given it to me for expenses throughout the school year, including books, paper, pens, and ink. I had to borrow money from a friend to pay for the bus fare back to school. I reported the incident to the school administration. Father Le Galle, my teacher, was very sympathetic and gave me one đồng. I had to write a letter to my brothers in Sài Gòn for help without daring to tell my parents, fearing they would scold me. Brother Suất sent me $5.00, a relatively large sum of money at the time, equivalent to nearly a month's wages for a laborer. His kind gesture made me extremely grateful.
The Nguyen Family Memoir
I am moved and wish I had the chance to meet him again to express my gratitude and repay his kindness. However, fate had it that I never saw him again after that.
Recalling the past, he started a family with sister Nguyễn Thị Huệ, the daughter of Mr. and Mrs. Đội Nguyễn Giai, the village chief of Đơn Sa at the time. (Note: Village chief was the highest position in the village). The love story of brother Suất and sister Huệ is a unique and interesting one. In fact, during that time, "parents arranged the marriage, and children just followed." All matters of marriage were decided by the parents, and children simply obeyed without being able to discuss or debate.
At that time, brother Suất returned to the village from Huế and got to know sister Huệ, who was very shy and modest.
ashamed and cowardly. He told me:
- "Hey, Thông, do you know Chị Huệ's face?"
I pretended to be naive:
- "Which Chị Huệ?"
- "The Chị Huệ, daughter of Ông Mệ Đội Giai!"
I replied vaguely:
- "I know her, but not very well."
Anh Suất begged me:
- "Please take me to Ông Mệ's house, let's go in unexpectedly and point out Chị Huệ to me, I'll give you $1."
Overjoyed at getting $1, I took him there immediately. As soon as we entered the garden gate, we met Ông Đội chopping bamboo, I greeted him and
I introduced him to Ông Đội, as it was the first time the father and son had met. Sister Huệ, who was busy inside, rushed out to help, not knowing that someone had arrived. I whispered to him:
- "Your sister-in-law is coming out!"
He looked confused:
- "Which sister-in-law?"
- "Your future wife, who else?"
Actually, sister Huệ had never seen brother Suất before. But at that moment, she saw me and had a premonition that it was him. So, she ran straight into the house to hide, while he was still holding the bamboo pole as part of his "groom" duties, and he had only just started.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
I caught a glimpse of her, but didn't get a chance to see her face clearly. Every time that happened, I had to go with him. I don't know why, but she was too shy and embarrassed, and every time he came to the house, she would run away. One time, he told me:
"You go with me, you block this way, and I'll chase her that way, one way or another, we'll catch her!"
This game of "Hide and Seek" went on for who knows how long, but in the end, they had a beautiful daughter, lovely and charming, with curly hair like her father's. She was most beautiful during her doll-like childhood and teenage years. Their precious only child is Nguyễn Thị Sen, the wife of Hồ Khắc Nghiêm. Mr. and Mrs. Nghiêm have had
They had many grandchildren. The following are the grandsons: Hồ Khắc Hoàn, born in 1956, got married and passed away due to cancer in Chicago in 2013. Hồ Khắc Dũng, born in 1958, died young in his youth due to a violent illness. Hồ Khắc Chí, born in 1960, had a tumultuous first love. Hồ Khắc Tâm, also known as Tèo, born in 1967, is a strong and healthy young man who enjoys drinking. The daughters of Mr. and Mrs. Nghiêm Sen include: Hồ Thị Tuyết Mai (1954); Hồ Khoa Diệu Hương (1962); Hồ Khoa Diệu Xuân (1964); and a set of twins, Hồ Khoa Anh Linh and Hồ Khoa Diệu Linh (1970). These twin sisters are as alike as two drops of water, and it's very difficult to tell them apart if you're not familiar with them. The sisters have all started their own families and have children of their own.
Aunt and Uncle Suất, along with Uncle Hồ Khắc Nghiêm, currently reside in Hanover, New Jersey, USA. Uncle Suất and his wife, Huệ, only had one daughter, Nguyễn Thị Sen. The reason they had only one child was that when Aunt Huệ returned to her hometown to give birth to their first child at her parents' house, following the traditional custom of "Con So Về Nhà Mẹ" (Giving birth at the mother's house), the war broke out, disrupting communication between Sài Gòn and Central Vietnam. Uncle Suất was left alone in a foreign land during the time the French Army returned to Sài Gòn. He suffered from severe illness, with no one to care for him, no medication, and no place to live, ultimately passing away in sorrow and hardship.
The Nguyễn Family Memoirs
There was a family member by his side, but where was his body buried? No one knew, making it difficult to pay respects and visit. I am very sad and sorrowful writing this about my brother, someone I, the youngest, always respected and cherished. I wish to have the opportunity to repay his kindness towards me, but circumstances have kept us apart. I pray to God to grant him eternal happiness in the afterlife.
The third brother, Nguyễn Trí, was shorter than brothers Xướng and Suất, but had a more solid build. He was also very fond of me, the youngest. When he first arrived
At the age of maturity, around 20 years old, he got married to Chị Nguyễn Thị Khánh, the daughter of Ông Mệ Bang Nghiệp, whose house was located right behind my parents' house. After getting married, my parents had him move to Huế to apprentice with Anh Suất in business and managing vehicles. Having just moved from the countryside to the city, he kept begging Anh Suất to let him practice driving a car. In order to help him get familiar with the work and city life, and since Anh Suất was very busy, he would often tell Anh Trí: "Take it easy!" However, at the age of 20, he was impatient to learn how to drive right away, so one afternoon, Anh Trí decided to get into the driver's seat of the new "Citroen" car that my father had just bought from France.
He brought it back. He automatically turned on the engine, shifted gears, stepped on the gas, and the car sped forward, crashing into a large tree trunk on the side of the road, commonly known as a "Bút" tree. The front of the car was crushed, the engine was broken, the car body was bent and twisted, and so on. Fortunately, it didn't hit anyone. Father was away from the village, and only brother Suất was taking care of everything. However, brother Trí was too scared, so that night he packed his bags and ran away to Sài Gòn. Meanwhile, the whole family didn't know where he had gone, and everyone was searching for him everywhere. That night, brother Suất had to write a letter to Father to report the incident. Brother Trí had already left to avoid trouble. Poor brother Suất was scolded by Father, and it was a severe scolding. It was truly a case of "carrying the burden in the middle of the journey" and "the cat breaks the pot, but the dog gets the beating". In the face of this situation,
The Nguyen Family Memoir
was subjected to Father's wrath, Brother Suất remained silent and accepted his punishment, not daring to say a word.
When he was young, poor Brother Trí was not allowed by Father to attend a Western-style school, and instead, was forced to study Chinese characters. Father said, "The older ones have already studied Western script, so Trí must study Chinese characters to be able to read land deeds." As a result, Brother Trí was skilled in Chinese characters. However, since he rarely used them, he would only look at a land deed once every ten years, and "the characters had all been forgotten." After working in Sài Gòn for a while, he found it difficult to make a living, so he moved to Vạn Tượng (Vientiane,
He (Trí) worked as an electrician in Laos. The reason was that his brother-in-law, Nguyễn Khôi, who was sister Khánh's brother, worked there and had sent a letter inviting Trí to join him. As a result, Trí learned to speak Laotian and became familiar with their customs. He got a job as an electrician at the Vientiane Broadcasting Station, a major city in Laos. Later, due to the war and chaos, he returned to Vietnam to live with his wife and children.
Trí's personality was kind, hardworking, and diligent. He had a mischievous streak. When he was young, he observed a hen laying eggs and said, "Don't let it lay eggs, let me take them out." He caught the hen and used his hands to take out the eggs, which ended up getting broken. This hen usually laid one egg every day for his father to eat for breakfast, but on that day, it didn't lay any eggs.
There were no eggs. When asked, it was because brother Trí had teased and poked the eggs, and as a result, he was scolded severely. From then on, he didn't dare to tease the eggs anymore. Another time, he caught a mouse that was eating rice in the house, sewed up its anus, and then released it. He said, "The mouse had its anus sewn up, it can't defecate, and it will bite all the other mice, causing the whole pack to scatter and run away, so there's no need to set traps or catch them, what a waste of effort!"
When he grew up, he also liked to drink and boast, and every time he had a bit of alcohol, he would speak in a low voice, and you had to lean in to hear what he was saying. He was also very kind and generous to the youngest sibling. I still remember the day he returned to the village from Vientiane, around 1945 or 1946, during those years...
The Nguyen Family Memoir
At that time, clothes and cotton fabrics were scarce, so when he opened his suitcase, he told me to choose and take any clothes I wanted. He was truly kind and generous, but I didn't dare touch them, and I only asked him to give me a pair of Western-style pants. He chose the best pair for me. Those fond gestures are unforgettable.
He was highly skilled in his profession as an electrician. He was in charge of the electrical systems at the Vientiane Broadcasting Station before returning to Vietnam. Due to the increasingly unstable situation in his hometown, with no job opportunities, he had to enlist in the Army of the Republic of Vietnam, stationed in Ba Đồn along with his older brother. After the fall of the Army,
After the Republic of Vietnam's restructuring, he was assigned to the Military Transportation sector, serving as the Head of the Đà Nẵng Military Railway Station. The job was relatively stable, but previously, during an ambush in Ba Đồn, he had suffered a dislocated ankle, causing his foot to swell, making it difficult and slow for him to walk.
When he returned from Laos to the village, he and his wife bought the house and garden of Ông Mệ Thông Tương, located in the southern area, right next to my parents' house and also adjacent to Ông Mệ Bang Nghiệp's house. As a result, traveling between the families was very convenient.
Going back to the story of Brother Trí's romance, it's quite unusual. Behind my parents' house was Ông Mệ Bang Nghiệp's orchard. The two houses were built on adjacent plots of land, separated by a row of bamboo.
At that time, behind our house, there was a small pond. In the past, when my parents built the house, they hired laborers to dig and extract soil to use as the foundation, so the excavated area became a small pond. The pond was full of water and relatively deep. We would often gather to play various children's games, especially the game of playing "husband and wife". Among the group of children, Brother Trí and Sister Khánh were the oldest, so they had to play the role of the parents, while the rest of us played the roles of their younger siblings in the family.
Family Memoirs of the Nguyen Family
There were many times when we used a large wooden board as a boat, rowing back and forth on the lake to take Father and Mother to the market. There were a couple of times when the board flipped over, and we all fell into the pond, getting our clothes completely soaked like a shed skin. It was through this playful activity that brother Trí and sister Khánh got to know each other, and they became extremely close, unlike the case of brother Suất and sister Huệ.
Both the families of Ông Mệ Bang Nghiệp and my parents had agreed to the marriage of this talented couple, uniting them in matrimony. I'm not exaggerating when I say "talented couple," because during that time, brother Trí was an expert in electricity and mechanical engineering, and such experts were scarce.
It was very rare in Vietnam at that time. When needed, it was difficult to find someone with knowledge of electricity like Trí. As for sister Khánh, when she was in her prime, few girls could match her beauty, modesty, and charm, combined with the gentle and virtuous nature of a rural girl. The couple was meant to be together for a hundred years and had many children. Here is the list of Trí and Khánh's children:
a- Sister Nguyễn Thị Mai (nickname Mánh), who at the age of 7 or 8, still followed her mother around, asking to be breastfed. She is a caring and concerned person, always looking out for her husband and children. Sister Mai's husband is Hồ Công Bình, formerly an officer in the Air Force of the Republic of Vietnam.
The child of Ông Mệ Ấm Hồ Định, a quick-witted and resourceful person. A notable characteristic is that the couple is very hospitable. Their children have gathered to live around them in Cam County, California, with successful careers and filial piety towards their parents.
The children of anh chị Bình - Mai include:
- Hồ Thị Trâm Anh, whose husband is Hảo, has children, and is doing well in business.
- Hồ Công Thành, whose wife is Nguyệt, has children, with a stable job and a happy family life.
- Hồ Quốc Hưng, whose wife is Phượng, has a happy family, a good job, and children.
The Nguyen Family Memoir
- Hồ Công Lý, whose wife is Đào Hồng Vân, will have a large family... As Ông Thông was honored to attend with the role of representative of the groom's family on the occasion of this child's wedding.
- Hồ Trang Anh, is already married.
- Hồ Mai Anh, is also married.
- Hồ Trà My, is currently attending university as Ông Thông writes this Memoir.
- Brother Nguyễn Liên, the eldest son of the family, was extremely pampered by his parents. When he was just 4 or 5 years old, he would wake up in the middle of the night, cry, and demand cake: "Cake, cake, cake…", and there would always be cake available to satisfy him, after which he would calm down and go back to sleep. Currently, he is an Engineer.
He studied electronics and was still attending additional classes... Brother Liên's life and romantic destiny were not smooth... but he has many children, and they will surely have a good future. Currently, he is married to Sister Kim Liên.
C- Sister Nguyễn Thị Cảnh, a gentle and charming young woman. She married Professor Trần Mạnh Hùng (also known as Brother Ngọc) and had four children with him. Brother Hùng suffered from a serious illness and passed away early, leaving behind a young family. Now the children have grown up, and most of them have settled in Australia. Initially, Sister Cảnh moved to Australia to settle down and stayed there... I still remember around 1969, Brother Hùng (Ngọc) and Sister Cảnh came to Sài Gòn, met Uncle and Aunt Thông, and asked for their help.
for the wedding of the two siblings. The reason was that in Da Nang and Hue, they faced difficulties in progressing their marriage in terms of religion. I was well aware of their difficult circumstances, and moreover, Anh Ngoc's grandmother had come to Saigon to meet me. I had a lot of affection for Chau Canh and also had a strong liking for Anh Ngoc, especially since Chau Canh's father (Bac Tri) had passed away. Given my influence with the priest at Phu Nhuan, all it took was a word from me and he agreed immediately. After that, all the wedding preparations proceeded smoothly. Anh Ngoc and Chau Canh were overjoyed, and it even moved Chu Thom and his wife to tears. The names of the four children of Anh Ngoc and Chau Canh are:
Family Memoirs of the Nguyen Family
- Trần Ngọc Phương Thảo, the eldest daughter, was evacuated with her grandmother, escaped Vietnam, and settled in the United States. Phương Thảo completed her university education in California, then married a Hong Kong man named Brian Wong, and had twin children in 2002.
- The second child is Trần Ngọc Long, who has started a family with Ngọc Phượng.
- The third child is Trần Ngọc Huy.
- The youngest child is Trần Ngọc Thúy Nga, who has started a family with Thanh Hải.
Currently, sister Cảnh and the grandchildren live in Australia, except for Phương Thảo and Brian Wong who reside in California.
d- Brother Nguyễn Tân, was handsome but passed away early.
e- Sister Nguyễn Thị Nguyệt, is married to brother Phát. They have a son and a daughter together... and are successful in their careers.
f- Brother Nguyễn Hoàng, a young man interested in the cosmetics industry, works hard in the business world. Brother Hoàng was married to Thanh (Linh), but they are now divorced. They have three children, two boys, and one girl: Alvin Nguyễn, Daryl Nguyễn, and a beloved daughter Kayleen. He currently works in North Carolina.
g- The youngest child in Uncle Trí's family is Diễm Trang, who has a daughter. Currently, Trang is living with her husband, Bryan Schade.
Uncle Trí passed away on May 28, 1965, due to high blood pressure, which caused him to fall while he was alone at home. By the time he was taken to the hospital, it was too late, and he could not be saved. It's a pity for Uncle Trí, who became even more kind and gentle with age, and spoke less often. Aunt Trí also passed away in California on July 16, 2008.
Nguyễn Tuệ was my fourth older brother, an excellent and intelligent young man. I call him a young man because he passed away at the age of 12 or 13. Tuệ was a child prodigy with exceptional intelligence. People said Tuệ suffered from "poisonous medicine" disease.
The Nguyen Family Memoir
He could only sit, not lie down, even when sleeping. My parents had to buy a folding chair, which they left unfolded, and he would sleep sitting up, leaning against the chair. Even when he passed away, he rested his head against the folding chair and closed his eyes, taking his last breath.
Before falling ill, Brother Tuệ was a smart student who excelled in his studies. He attended Paul Bert School, located outside the Thượng Tứ gate, on Paul Bert Street, which was later renamed Nguyễn Hoàng Street. He went to school with Brother Phạm Giao, the son of Mr. Phạm Quỳnh, who was a close friend of his.
At that time, Mr. Phạm Quỳnh was the Minister of Education,
The Imperial Court of Hue (Bao Dai's government). Although he was young, we, as his younger siblings, deeply respected and admired him. Whatever he said, we had to obey immediately and show our respect. I noticed that even my parents and older siblings looked up to him because of his exceptional intelligence. Whatever anyone mentioned, he already knew about it and could elaborate further on the topic.
He passed away, leaving me some books, including a "Larousse" dictionary from France. Although I was still young, when Brother Tuệ died, I cried a lot and deeply missed him. It was Brother Tuệ who guided and taught me many things about studying and advised me on how to be a good person, even though he was still young to be discussing such matters. Brother Tuệ
He passed away in Ba Don city, in a house belonging to my grandmother, facing the market. At this moment, I don't recall whether the house was hers or rented. However, I know that my grandmother and our family lived in that house throughout the time my brother Tuệ was ill. After that, he passed away and was taken back to our village and buried in the plot of land next to the grave of my paternal grandfather in the field area called Cua Muong. I am no longer aware whether the graves of my paternal grandfather and my brother Tuệ are still in their original place or have been relocated elsewhere. I pray to my paternal grandfather and my brother Tuệ, please guide me so that I can relocate their graves to a more peaceful place, allowing them to rest in peace.
Family Annals of the Nguyễn Clan
5* The fifth child of my parents is Nguyễn Đình Thông, myself. Originally, when I was born on December 11, 1925, my parents named me Nguyễn Văn Thông. However, when I was 10 years old, my parents sent me to study at the Probatorium School in Phủ Diễn, Nghệ An, around 1935 or 1936, a teacher named Quế, a member of the school's teaching staff, told me: "Student Thông should change your middle name, Văn is too common and not beautiful. Let's change it to Đình, which is more elegant." At that time, I was about 10 years old and didn't think much, so I followed the teacher's advice. From then on, the middle name Đình stuck with me.
He has now been gone for over 85 years. At the same time, all of my children also bear the middle name Đình, different from our uncles and aunts. I will discuss more about myself in the section about my family later.
The sixth younger sibling of mine is Nguyễn Văn Minh, who was nicknamed Mảy Nậy when he was little. When Uncle Minh was of school age, Father and Mother sent him to board at the private Chợ Tràng School. This was a large parish that operated a Catholic middle and secondary school, taught by professors. Among the professors was Teacher Đông, who served as the principal. His education was interrupted by the war. Uncle Minh had to stop attending school from the year
1945.
Uncle Minh was a business-minded person from a young age. Therefore, when he grew up, it was only natural that he ventured into commerce. And when we were still young, Father knew the personality and abilities of each of his children, so he assigned Uncle Minh the task of managing the family's rice production and distribution.
I still remember the day when Brother and Sister Trí moved into their own home, Father instructed us to carry four loads of rice (two baskets per load) for them. My task, along with Uncle Minh, was to scoop, carry, and deliver the rice to Brother and Sister Trí. When scooping the rice, I tried to shake the basket and spill some rice onto the pile so that Brother and Sister Trí would receive as much as possible. Meanwhile, Uncle Minh would scoop and
The Nguyen Family Memoir
I measured the rice according to the standard my father instructed, which meant scooping it level and scraping it even with the edge of the container, but I just scooped it up in a heap. My uncle reminded me, "Be careful, Father will scold you." I was also afraid because every child feared Father, so each of us scooped the rice in our own way. My siblings Trí also feared Father, so they kept quiet and didn't express their opinion. One thing to remember is that when we were still living in the family, all of Father's children followed the rules and obeyed his instructions. At that time, Father's authority was very great, and his word was law. Uncle Minh was still young, so he followed Father's orders absolutely, and besides, he was in charge of the family's rice storage, so if there was any mistake or shortage of rice, he would be the one to blame.
The person had to take responsibility with Father. Therefore, my uncle didn't dare disobey his instructions.
During the time we were growing up, it was also a time of turmoil. My father was arrested by the Viet Minh for being a landlord, our house was confiscated, and our rice, property, and belongings were seized and requisitioned. The large three-room house with two wings that my parents had worked hard to buy from Lệ Thủy district and built in our village was ordered by the Viet Minh to be dismantled and moved to Ba Đồn, including the Citroen car that my father had bought when he was still doing business in Huế and brought back to the village for use. At that time, my family was left with only two of my younger siblings, Minh and Toàn, living outside the village. After Father was arrested, our house, belongings, and assets were seized. My two younger siblings, Minh and Toàn, had to disguise themselves and carry
To go fishing, with tattered clothes like a peasant fleeing to Đồng Hới.
Fortunately, Uncle Minh had managed to bring some money that Father had hidden in a bamboo thicket behind the garden to support the family. Uncle Toàn was still young and didn't know anything at the time. After a period of stability, Uncle Minh got married to Ms. Nguyễn Thị Lê, the daughter of Mr. Mệ Cửu Nhự. Uncle Minh worked for a trading shop owned by a Chinese-Vietnamese man named Uncle Ngâu. Uncle Minh's goal was to work while learning the trade, so that he could become his own boss in the future. Indeed, in 1953, Uncle Ngâu, due to business losses, handed over the shop to Uncle Minh and his wife, Minh Lê.
Family Annals of the Nguyễn Clan
At that time, Uncle and Aunt Minh Lê already had a child named Nguyễn Văn Tâm, and the following year, Aunt gave birth to Nguyễn Thị Phước. Tâm suffered from Polio (a neurological disease). If Tâm were still alive, he would be the same age as my brother Nguyễn Đình Tuấn.
In September 1953, after graduating from the Đà Lạt Joint Military Academy and completing specialized courses in Military Transportation, I was transferred to Đồng Hới, serving as the Platoon Leader of the 3rd Transportation Platoon stationed at the Bungalow, located behind the residence of the French Lieutenant Colonel, the Commander of the Đồng Hới Sector.
In 1954, after the Geneva Accords divided Vietnam into two countries at the 17th parallel (Bến Hải, Quảng Trị), the entire family of Uncle Minh fled to Đà Nẵng. Uncle and Aunt Minh had to leave behind many of their goods and possessions in Đồng Hới. At that time, their only priority was to escape with their lives. Upon arriving in Đà Nẵng, Uncle and Aunt Minh opened another store at Chợ Cồn to trade rice.
My family moved to Huế by LCU, a large landing craft, traveling by sea. As for me, I led a convoy of vehicles by road, crossing the Nhật Lệ River and driving straight to Huế. I did not allow my family to follow by vehicle because I was afraid that traveling by road would be dangerous, and if our convoy were to be ambushed, it would be difficult to avoid tragedy.
Around 1955, cousin Tâm, the child of uncle and aunt Minh, was seriously ill, while cousin Phước was just learning to walk and would often play with Tâm. Phước would put a banana in Tâm's mouth, but when Tâm wouldn't eat it, Phước would put it in his own mouth, and that's how he contracted polio through saliva. At that time, cousin Lộc was still being carried and hadn't learned to walk yet. Later, aunt Lê became pregnant again, and wanting her future children to be healthy and free from illness, she went to see a doctor for prenatal care. The doctor administered an overdose of medication, which caused the blood vessels in her body to rupture, leading to severe bleeding throughout her body. Unfortunately, both she and the baby died a tragic death.
The Nguyễn Family Memoirs
Logically, the doctor who prescribed and administered the medication should have been sued, but due to some arrangement, the matter was dropped. As I was very busy in Huế at the time, organizing a new transportation unit, I couldn't closely follow the developments of the case. Nevertheless, this was a very costly experience that led to the loss of two beloved family members.
Grandchild Tâm had passed away, and later, grandchild Phước contracted a serious illness, bedridden with severe pain. In 1956, Uncle Minh and his wife, Minh Lê, had a child, Nguyễn Thị Bích Lộc. When Bích Lộc was just learning to walk, she would often run to Phước's place to play with her. When I visited Uncle Minh, his wife, and the grandchildren from Huế, seeing the grandchildren in such a state,
I immediately expressed my concern to Uncle and Aunt Minh: "Phước has contracted Tâm's illness, now you want Lộc to catch Phước's illness, don't you? You should reduce your business activities and pay more attention to your children's health."
I had to be firm with them, telling them that I would take Lộc to Huế this afternoon if they didn't admit Phước to Saint Paul Hospital right away. Feeling guilty, Uncle Minh, despite being busy with his trading business, quickly made arrangements to take Phước to Saint Paul Hospital before I returned to Huế. At that time, Lộc was living alone with Grandfather and Grandmother in Chợ Cồn, Đà Nẵng. Each time I visited Phước at Saint Paul Hospital,
My niece was overjoyed, smiling from ear to ear. Unfortunately, she couldn't speak and after a while, Phước also passed away.
In Mr. Mệ Cửu Nhự's household, all the children were named after fruits by Mr. Mệ: Hồng, Bưởi, Thơm, Lê, Lựu, Na. After Aunt Lê's passing, Uncle Minh remarried Nguyễn Thị Bạch Lựu, who was Aunt Lê's younger sister. At that time, Uncle Minh's business was thriving, and he had established a grain company. He partnered with Mr. Nguyễn Đình Hân and Ms. Nguyễn Bưởi (Tình). Uncle Minh's personal capital had exceeded seven million Vietnamese đồng (approximately US$800,000.00). The business was booming under the name Trung Bắc Công.
Family Annals of the Nguyễn Clan
Later on, Uncle Minh established companies that imported chemical fertilizers, animal feed, and cement, and was also in charge of cargo handling companies. Additionally, he purchased a hotel named Khách Sạn Đồng Khánh, located in the heart of Đà Nẵng town. The hotel was on the upper floor, and the offices of the import companies were on the lower floor. In Thanh Bình, Đà Nẵng, Uncle and Aunt Minh founded a maternity hospital called "Bảo Sanh Viện Têrêxa", where many doctors and nurses provided care for patients and wealthy expectant mothers.
The land for this hospital was acquired thanks to Mr. Phi
Due to some family circumstances, Mr. Phi Long came to my house and offered to sell me a plot of land and a small house on it for $140,000.00 VN. Mr. Phi Long said this was a special price, and he was only selling it to me, a Captain, while others would have to pay a higher price. I had the money and intended to buy it, but my wife thought that Uncle and Aunt Minh didn't have a house yet, while I already had a new villa by the beach in Thanh Bình, on Thanh Long street. So, we introduced Uncle Minh to buy the house at the price Mr. Phi Long had promised me. Uncle Minh was overjoyed and quickly proceeded with the purchase. The old house was later demolished and rebuilt into a maternity hospital. Uncle and Aunt Minh's business continued to thrive, with their capital growing to several billion Vietnamese dong.
(The exchange rate at that time was approximately 60 Vietnamese dong per 1 US Dollar). In Saigon, my uncle built a villa at the corner of Duy Tân and Phan Thanh Giản streets with an estimated budget of around 150 million Vietnamese dong. Notably, I gave Uncle Minh two iron pillars to support the balcony in front of the building.
The construction was nearly complete when the unexpected event of April 30, 1975, occurred rapidly, beyond everyone's imagination, and everyone had to hastily abandon everything to escape. In addition to this newly built building, Uncle Minh had sold an apartment complex to the Republic of Vietnam government, which he and his wife had purchased from Aunt Năm (Bát Viếng). Initially, they had rented it to the Americans, and later
The Nguyễn Family Memoirs
The land was sold to the government to build the University of Quảng Đà for Eight Hundred Million Vietnamese Silver, equivalent to over Thirteen Million US dollars. However, at the last minute, chaos erupted, and the government hadn't paid Uncle Minh a single coin, and all the assets fell into the hands of the North Vietnamese government.
Due to the country's situation, Uncle Minh's family had to evacuate to the United States once again. The evacuation of Uncle Minh's family was extremely difficult and arduous. He told me about it, but I don't remember the details very well. He said he brought two suitcases, one containing gold and the other filled with canned milk for the children to drink, as most of the grandchildren were still young. Because it was too heavy, Uncle Minh had to carry them, and I think he also had to leave some things behind.
I had to ask a soldier to help me carry them. The two valises were identical, like twins. The soldier who helped me carry them got lost because the ship was too crowded. As a result, the valise containing the gold also got lost with him.
After settling in the United States, in the northern Virginia area (Arlington County), the first thing to do was to buy a house for the children to live in. The process of buying a house also led to a humorous anecdote. According to Vietnamese custom, when buying a house, the full payment must be made before taking possession of the house. Uncle Minh saw a beautiful and convenient house in Arlington, and he decided to buy it because the price at that time was only around $120,000. He intended to pay in cash. However, the real estate agent advised him to pay $100,000 and borrow the rest back.
$20,000.00. Uncle and Aunt agreed right away.
When we first arrived in the United States and hadn't started working yet, Uncle saw Vietnamese people applying for Medicaid, a free medical treatment card from the government, so he also went to the office to submit an application. When the staff member in charge asked about the current cash on hand, Uncle thought for a moment and finally filled in $50,000.00 (fifty thousand dollars). The American case worker looked at it and thought Uncle had made a mistake, assuming it was $50.00 (fifty dollars), and asked him repeatedly. The lady exclaimed, "I've never had such a large amount of money in my entire life, how can you apply for Medicaid!" In the end, Uncle left empty-handed.
Family Annals of the Nguyễn Clan
In October 1975, Uncle decided to organize an Asian food supermarket. He called me and asked for my help in Washington D.C.
The first task was to name the commercial establishment. After some thought, I suggested taking the name Mekong. The Mekong River runs from the Chinese plateau through China, Burma, Thailand, Laos, Cambodia, and ends in Vietnam. The Mekong River symbolizes the Asian countries, especially those in Southeast Asia. Moreover, at that time, no commercial establishment had used the name Mekong. Uncle and Aunt agreed immediately. Afterwards, out of affection for my younger sibling, I bid farewell to my family and headed to Washington D.C.
Washington helped Uncle and Aunt develop their commerce, especially with English documents for their family when they first started. Their business thrived because they had organized the first Asian food market in the Washington D.C. area. The business can be said to have been the most successful in the U.S. capital and Northern Virginia at that time. The local American press sent reporters to interview Uncle and me, and they published sincere praise. However, while the commercial issue was developing strongly, the family's internal problems were deteriorating terribly, pulling down the business as well, and it was impossible to salvage it anymore, no matter what.
The children of Uncle and Aunt Minh were very well-behaved... However, at that time, they were still too young and didn't dare to have any opinions.
In May 1993, Uncle returned to Vietnam to do business, but before he could accomplish anything, he passed away in Long An, Vietnam due to a heart attack. His granddaughter, Bích Liên, and her husband, Greg Kaldahl, went to Vietnam to bring his body back to the United States for burial in Virginia.
Here are the children of Uncle and Aunt Minh:
The children of Uncle Minh and Aunt Nguyễn Thị Lê:
a. Nguyễn Văn Tâm, born in 1953, suffered from polio and passed away at a young age.
Family Memoirs of the Nguyen Clan
b. Nguyen Thi Phuoc, born in 1954, also suffered from Polio and passed away at a young age.
c. Nguyen Thi Bich Loc, born in 1956, is currently a dentist in Virginia, and is married to dentist Vu The Ban. Bich Loc is a charming and polite girl. Mr. and Mrs. Ban-Loc have similar personalities, being cheerful and hospitable. They have been successful in their careers and are very happy with their three grandchildren, two boys and one girl. The three grandchildren are:
- Their eldest grandson, Charles Chau The Vu, born in 1985, is tall, handsome, and has a promising future. He is now married to a woman named Binna.
One son named Joshua Vũ was born in 2014.
- The second granddaughter, Tracy Bích Trân Vũ, was born in 1987 and studied at prestigious schools in the United States. She is expected to achieve great things in the future. She is married to Jonathan Fulton, and they have a daughter named Isabella Fulton, born in 2014.
- The youngest grandson, Út, Brian Huân Thế Vũ, was born in 1989 and was very adorable when he was little. As he grew up, he became handsome, just like his older brother Châu.
Brian, when he was very young, did something funny. One day, Uncle Thông came to Washington D.C. and stayed at Ban Lộc's house. While they were chatting in the living room, suddenly
Brian, seemingly aware of something, was lightly spanked by his father on the buttocks. So, Brian started crying and lifted his buttocks up, pointed to his behind with his hand, and told his father, "Kiss, kiss." Uncle Thông was surprised and didn't understand what Brian was doing. When he asked, he found out that Brian had gotten used to being spoiled by his grandfather. Every time Brian misbehaved and got spanked by his grandfather, he would cry and his grandfather would sympathetically say, "Give Grandpa a kiss to make the pain go away." So, Brian got accustomed to his grandfather's pampering, and when his father spanked him and it hurt, he lifted his buttocks up and asked his father to kiss it to make the pain go away.
Bich Loc had completed her studies in Dentistry and worked for the government for a considerable amount of time. However, around 2002, she opened her own dental office in the Fairfax area of Virginia.
Family Memoir of the Nguyen Clan
Wishing Bích Lộc and the team success in their profession.
d, The next child of Uncle Minh and Aunt Lê died in the womb when Aunt Lê was given an overdose of pregnancy medication by the doctor. As a result, both the mother and child passed away.
After Aunt Lê's passing, Uncle Minh remarried Nguyễn Thị Bạch Lựu, who was Aunt Lê's younger sister. Initially, my grandfather and we, the siblings, were a bit worried because the bloodlines of the two families were not compatible, and the children often suffered from polio. Although Nguyễn Thị Bạch Lựu was a beautiful and charming girl at the time,
Physical appearance. However, in the end, they had to follow Uncle Minh's wishes.
The story goes that during the engagement and subsequent wedding ceremony, Uncle Minh had asked Uncle Trí to buy four liters of excellent, top-grade rượu đế, which he brought to Mr. Mệ Cửu Nhự's house along with the complete betrothal gifts. Anh Thơm, the son of Mr. Mệ Cửu Nhự, thought that no one in the house knew how to drink, so he poured the rượu đế into another bottle to drink himself, as he was a heavy drinker. He then filled the four original bottles with cold water, thinking that no one would notice. However, later on, Mrs. Cửu Nhự tasted the liquid and found it to be just cold water, making her suspect that the groom's family was playing a trick on them because they didn't want the marriage to happen.
And Brother Thơm only revealed that story much later, after having a few drinks!
Uncle Minh and Aunt Bạch Lựu had the following children:
e. Nguyễn Hữu Vinh, a lively young man with decent academic achievement, has started a family with Anh Phương Nguyễn, a girl with good moral character. Vinh and Phương now have two children, a boy and a girl. They are the paternal grandson of Mr. Mệ Minh, Justin Hiển Minh Nguyễn, who has bright eyes and promises a brilliant future. Unfortunately, Grandfather Minh did not get to hold his paternal grandson in his arms before he passed away unexpectedly.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
In 1997, Vinh Phương had another granddaughter named Maryann Nam Phương Nguyễn, who was lovely and charming. Now, there were enough boys and girls to make a perfect balance.
f. Nguyễn Thị Bích Liên was born on June 10, 1961, a charming and intelligent young woman who worked effectively for Continental Airlines in a promising position. Bích Liên married Greg Kaldahl, born in 1957, a respectable man and the son of a wealthy American aviation tycoon. Greg and Bích Liên had two children: a son named Taylor Kaldahl, born on October 5, 1990, and a daughter born...
On October 19, 1993, Casey Kaldahl was very "cute". The little Casey seemed to miss Grandfather Minh a lot, so on the day Uncle Thông organized the "Thất Tuần" (Seventieth) birthday celebration, Casey thought Uncle Thông was Grandfather and demanded to be held by him. When held, Casey appeared to be very happy and delighted. The gesture of missing Grandfather made the adults feel touched.
g, Nguyễn Thị Bích Lan, born in 1963, graduated as a dental doctor and has her own private dental practice. Bích Lan is beautiful, kind, soft-spoken, but very wise. She speaks softly like sister Lộc. Uncle Thông's daughter (previously) was her godmother at her baptism.
For Bích Lan, who has a husband named Trần Đình Lộc, a skilled and handsome engineer born in 1957. Lộc Lan has three children, the first of whom is a girl named Ashley Quế Anh Trần, born in 1993, who is very cute. As she grows up, Quế Anh could become a beauty queen in the Washington D.C. area if she were to participate in a pageant. The second child, a boy born in 1995, is Brandon Khôi Trần. Khôi has a beautiful face and hands, and is extremely intelligent, surpassing everyone else. The third child, Christopher Việt Trần, was born in 1999. Although he is still young and hasn't started school yet, he has a bright and wise face. However, Việt is still too young, and his palm lines have not developed yet. Will Lộc Lan have more children in the future or stop? That's the question Uncle Thông asked Lộc Lan, but they both responded in unison.
Family Memoir of the Nguyen Clan
exclaimed: "Enough, enough! We have enough and are also very scared!!!"
h. Nguyễn Thị Bích Liễu, a intelligent and quick-witted young woman. Liễu got married and lived in Vietnam for a while, but then faced obstacles in her private life, so they went their separate ways. As of 2014, Liễu remains single.
i. Nguyễn Hữu Quang, who was very adorable when he was little with his round and bright eyes like stars, but Quang suffered from a hereditary disease, and his body grew weaker and thinner day by day. On the day of Uncle Minh's funeral, Quang cried a lot, it was so pitiful, because Quang loved his father the most. Certainly, his father will love and support Quang. We pray for
Quang had many blessings and good fortune in his life. However, in 2013, Quang also passed away due to illness!
k. Nguyễn Thị Bích Long has a cheerful and charming personality, and is certainly successful in her work and social life. Bích Long is currently a Pharmacist. I wish for Bích Long to encounter much good fortune and happiness in her life journey. Bích Long's first love has borne fruit, which is the wedding day of Bích Long and Nguyễn Văn Đại, held on Friday, July 26, 2002, in Southern California. The wedding was a joyful and beautiful occasion, with the full attendance of relatives and family members, on the occasion of the Nguyễn clan's family reunion in 2002 in Southern California.
l. Nguyen Thi Bich Lan, often called Be Xi, is a quick-witted and charming girl. She has a lovely personality. Bich Lan graduated from university and is currently working in finance for her brother Vinh's real estate company. Bich Lan has started a family with Brandon DeCaro, a strong and handsome young man. Their wedding took place on June 14, 2003, in Washington D.C. Uncle Thong was honored to attend Bich Lan and Brandon DeCaro's wedding in Washington D.C. Bich Lan now has two children, a girl named Madison and a boy named Lukey Vinh.
m. Nguyen Christine, the youngest daughter of Uncle and Aunt Minh, has a simple and gentle personality... and is now married, with a husband who
Family Annals of the Nguyễn Clan
Bruce Le and one of his sons, Travis. Uncle Thông always wished for Christine's family to be successful and encounter all the best luck.
The seventh younger sibling of mine is Nguyễn Văn Toàn, who was often called by his nickname Mảy Con when he was little. Mảy Con's real name is Nguyễn Văn Sáng. However, he later changed his name to Nguyễn Văn Toàn. This was because Uncle Tường had already used the name Sáng. Uncle Toàn is small in stature, but very agile and charming. During the time of war and chaos, all my siblings and I had to flee to our hometown to take refuge. Some of us did this, while others did that.
Other tasks were related to farming. Toàn, being the youngest, voluntarily took on the task of herding cattle. This job was relatively easy and allowed him to travel around the village and fields, so he knew a lot of news. Nevertheless, when plowing and other farming tasks were not busy, Minh and I would sometimes replace Toàn in herding cattle. As for me, I only herded cattle by feeding them with bamboo leaves, and rarely took them out to the fields.
Before writing about Uncle Toàn, we would like to share a few stories about rural life, which only those who herd cattle would know. We learned about them thanks to Uncle Toàn's accounts. One of the joys of herding cattle was taking them to the fields to let them run and race. Mr.
Great Aunt Cửu Nhự (the great aunt of sister Lộc and brother Vinh) had bought a large and strong bull when she moved to the village. She had arranged for Thơm to take care of it. Everyone knew that Thơm was mischievous and reckless. The bull of Great Aunt Cửu Nhự had a large hump, was fat, and the strongest in the village. Every day, Thơm would make the bull run, so it didn't have time to eat grass or drink water. When he started making the bull run, Thơm would tie a pineapple leaf with many thorns to the middle of the bull's tail and buttocks. The bull, feeling the thorns poking its buttocks, would run non-stop. Thơm's bull always came in first. However, because it didn't have time to eat grass or drink water, the bull became increasingly skinny. One day, while running, the bull fell and collapsed.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
could no longer get up. The report about Grandfather's condition was that he had to be slaughtered on the spot. From that day on, Thơm was also stripped of his duty to herd cattle. Taking care of the cattle had many joys, such as taking the cattle across the river to let them graze in Mỹ Hòa field, which was full of grass for the cattle to eat. Mỹ Hòa field was located south of Đơn Sa village. When herding the cattle across the river, the cowherds had to remove all their clothes, put their shirts and pants on their heads to wade through the river without getting wet.
However, the brothers, after crossing the river, would hide their clothes in the bushes, let the cattle go up to the field to eat grass, and then go to the riverbank, cover their bodies and faces with mud, and lie still like mud clumps under the roots of the bần trees. The purpose
The amusement of the boys was to wait for the group of girls herding buffalo to cross the river, also naked like silkworms. After watching, the boys would suddenly jump up and rush into the river, causing the girls to be shocked and run wildly in all directions, with some having to submerge themselves in the water for half the day, waiting for the wicked boys to leave before daring to emerge. Nevertheless, there were also some boys who would stubbornly stand their ground, and the girls would soak themselves in the water for the whole day, scolding while soaking, but the boys would remain unmoved, as if deaf and refusing to leave.
That was the entertainment of the rural heroes "bullying" girls in the old days. Telling it now, it was a serious offense of "harassing nuns". But in the remote countryside, who would intervene for them?
The weak ones were not among them, while the others considered it a hobby. Moreover, the cow herder would bring back home a lot of news, both domestic and local current events. Therefore, whenever the cow herder brought the cows back to the gate, the people in the house would ask: "Is there any unusual news today?" And so, the "Radio" would start broadcasting, and the whole family would gather to listen to the exciting news.
The young men who herded the cows would meet during the day to plan their trip to the church that night. They would assign which guy would escort which girl. It was a common practice in the countryside for young men and women to go to church at night to pray and listen to sermons, as everyone was busy with farm work during the day. The young men would often sneak around and wait for the girls, and the girls would pretend to be shy and hesitant, but in reality, they were happy to be escorted by the young men.
Family Memoir of the Nguyen Clan
In front of the girls' house, as soon as they saw a girl's silhouette coming out, they would rush to hug and lift her up, carrying her on their shoulders in one swift motion to the church, then gently putting her down.
The task of lifting and running to the church was all there was to it. There was no chatting about romance or caressing. Many times, the young men, due to the darkness, would mistakenly lift up an old lady, thinking she was a young girl. When they arrived at the church and gently put her down, the old lady would exclaim, "You rascal, why did you lift me up and run like you're racing horses?" The young man would quickly disappear from sight. Luckily, it was dark, and the old lady couldn't see his face. And even if she had seen him, the young man would have already escaped.
The young man knew how to cleverly carry the basket of offerings, and he would quickly run to the new church and leave the offerings, but had to quickly disappear, because if the nun found out, she would surely report it to Ba Má, and he would get a beating.
When he was young, Uncle Toàn had many surprising games. In Ba Má's garden, there were many fruit trees such as papaya, banana, sour sop, longan, guava, and so on. Every few days, Uncle Toàn would call me and Minh to the back of the cowshed, and with a big smile, he would bring out a ripe, golden papaya, and the three of us would share it and enjoy it together. These snack sessions were courtesy of Toàn, who would provide the food - sometimes bananas, sometimes longans, sometimes guavas, or sometimes sour sop with fermented shrimp sauce, and so on.
In the countryside, during wartime, there were many days when the market couldn't be held,
Because of this, we couldn't buy food. So, every evening after bringing the cows back to their pen, Toàn would take a bamboo pole and walk around the garden, especially around the deep pond located in front of the house by the entrance gate, or he would go through the pond gate of our paternal grandmother's house. When he came back, he would always have a few frogs or a few catfish, and sometimes he would even catch a carp. That evening's dinner would have an extra dish beyond the usual menu. It must be acknowledged that Uncle Toàn was a very quick-witted and resourceful person, even from a young age... Living near him, one didn't have to fear hunger.
When the Viet Minh occupied the village and implemented the policy of "denouncing landlords, cruel and evil tyrants" around 1951, Father had already been struggling to make a living.
Family Annals of the Nguyễn Clan
He was imprisoned by the Việt Minh for being a landlord and was taken to a distant prison. Uncle Minh and Uncle Toàn had to flee from their village to Đồng Hới. Fortunately, Uncle Minh was quick-witted and brought some of Father's money along. The cash assets that Father had at that time were kept by Uncle Minh until Grandfather arrived in Đồng Hới to manage the family's expenses.
After arriving in Đồng Hới, Uncle Toàn lived with my family when he was still young, so I had him attend Chân Phước Phượng school at Cầu Mụ Kề, Tam Tòa, Đồng Hới. This school was run by the priests of the Sacred Heart Order. Later, when he grew up,
When he came of age for military service, Uncle Toàn was drafted into the Vietnamese Army, specifically the Signal Corps. He was transferred to Huế to attend a training course and later participated in the Atlant operation in the southern central region, under the command of the French Army.
Uncle Toàn got married. As time passed, Uncle Toàn became engaged to Nguyễn Thị Châu Cúc, often called Cô Siêu, the daughter of Madame Nguyễn Cẩm. At that time, Madame Cẩm often kept in close touch with my wife. I, on the other hand, was close friends with Nguyễn Châu Thạch, Madame Cẩm's son and Cô Siêu's older brother, which is why the marriage between Toàn and Siêu was able to proceed.
in a convenient, smooth, and easy manner. It can be said that the marriage of Toàn and Siêu was initiated by me and Nguyễn Châu Thạch, after obtaining the consent of Toàn and Siêu. I still remember that every time Aunt Cẩm visited my house, she would say, "My daughter Siêu has had several suitors, but she only likes Toàn!"
After being discharged from the military, Uncle Toàn went into the trade business. He and his wife represented Trung Bắc Company, a grain company (in which Uncle Minh had a stake) in Quảng Trị. At that time, Uncle Toàn also had his own truck to transport food and goods from Đà Nẵng to Quảng Trị and other places. During this time, I also let my two older children, Thường and Hương, live with them.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
Aunt and uncle had been attending Nguyễn Hoàng public school for a year and then returned to Đà Nẵng.
Their business was doing quite well. However, the security situation in Quảng Trị was not very stable, as the war was spreading and Quảng Trị was a border area, so uncle and aunt Toàn moved to Đà Nẵng. Uncle went to work at Air Việt Nam Airlines, while aunt opened a pharmacy right in front of their newly built villa.
The pharmacy was located next to the Hospital and the Têrêxa Maternity Hospital of aunt and uncle Minh, making it convenient to sell medicine. After a period of stabilizing their work, at the beginning of the year
In 1975, as the security situation became increasingly chaotic, Uncle and Aunt Toàn and their children managed to flee to Sài Gòn, and later evacuated to the United States in April 1975.
Uncle and Aunt Toàn had a total of 8 children and an adopted son named Nguyễn Văn Sắt. All of them have been successful in life, handsome, beautiful, strong, and accomplished.
The following is the list of Uncle and Aunt Toàn's children, all of whom are residing in the United States:
a. Nguyễn Thị Kim Anh, commonly known as Vân, the eldest daughter, charming, lively, and successful in her work at the United States Postal Service. Kim Anh is also a skilled singer, having released several music tapes on devotional and secular themes. Notably, Kim Anh has a talent
Kim Anh showcased her talent in performing protest music and her skills as an MC. Kim Anh married Trần Kỳ Sơn and had two children, a daughter named Trần Ngọc Trâm (Elizabeth), who is now married with two children, and a son named Trần Hoài Việt (Jame), nicknamed "Cu Cu", who is very intelligent and clever. Once, when Cu Cu visited Vietnam to get to know his homeland, a relative jokingly said: "Every man has a Cu, but you have two Cu, what can you do with that?" Cu Cu heard this and asked his mother: "Why do I have two Cu?" The simple story of the child made everyone laugh. During the Iraq War, Cu Cu Trần Hoài Việt participated in the war as part of the US Navy in the early days.
Family Annals of the Nguyễn Clan
a. Kim Anh is now divorced and living alone in California.
b. Nguyễn Quốc Thắng, a strong and intelligent young man, is an electronic engineer. He made a mistake in his first love and has a daughter named Thanh Châu... but later connected with Thẩm Kim Loan. The couple Thắng and Kim Loan have a very charming son. Currently, Mr. and Mrs. Thắng Loan are engaged in commercial activities in Saint Louis, MO.
c. Nguyễn Thị Mộng Lan, nicknamed Bi, is cute and very intelligent. Bi also had to part ways with her first marriage, having two sons... and then fate arranged a new love for Bi.
Vietnamese-Japanese Yokohama - Mộng Lan. Yokohama is an engineer.
Yo Lan and her husband have had a boy and a girl, both very cute.
d. Nguyễn Quốc Hùng, called Cu Anh in the family, is a successful electronic engineer. Hùng married Vương Thị Bích Hằng, the daughter of Mr. and Mrs. Vương Vĩnh Thịnh, who currently reside in Denver. Bích Hằng is also a beautiful and skilled financial specialist who graduated from a four-year university and has been successful in her career at the bank. Hùng and Hằng have two lovely daughters named Ashley Victoria and Chloe Nguyễn.
e. Nguyễn Tiến Dũng, often nicknamed Cu Em. Dũng graduated from university with a degree in Aviation. Once, Dũng wore a monk's robe, devoted himself to God, and became a priest at a radio station.
Loan. Unfortunately, there was no calling, so she returned to the United States as a layperson. Dũng got married to Trương Thị Lệ Chi, the niece of Father Thơm, from the Archdiocese of Taiwan. The couple Dũng and Chi were very loving and adorable. They have a daughter named Michelle, who was as beautiful as a child model when she was little.
f. Nguyễn Thị Mộng Hoàng, often called Út lớn, Mộng Hoàng got married to Dr. Nguyễn Duy in Seattle. Duy and Hoàng have three children, two boys and one girl.
g. Nguyễn Tiến Đạt, also known as Jack, was a tall and handsome young man. Possibly, Đạt was the tallest person in the Nguyen family.
Family Memoir of the Nguyen Clan
Later on... In January 2003, Jack got engaged to a Vietnamese girl named Kerry... The wedding took place in July 2003, and they have two children, a boy and a girl... I wish the two of them a hundred years of happiness, harmony, and all the best things in life.
h, Nguyễn Tiến Nhân (Alan), also known as Út Ụt, is the youngest child of Uncle Toàn's family. Nhân was born in the United States, is handsome, and has a kind and cheerful personality. He is married to a woman named Nguyệt and has a lovely daughter.
i, Nguyễn Văn Sắt, is the adopted son of Uncle Toàn. Sắt is intelligent and
Sắt was intelligent and had a sharp memory. Unfortunately, due to the war and chaos in his hometown, Sắt was unable to complete his education. Around early 1976, when Uncle Minh's Mekong supermarket opened, both I and Sắt worked there. We had to know the prices of the items we sold. Sắt was the best at remembering prices, and he could recall the prices of all the items without needing to refer to any documents. At that time, we jokingly called Sắt the "dictionary of prices."
Sắt got married to Nguyễn Thị Nhạn, a well-educated woman (with a full Vietnamese baccalaureate degree). Sắt and Nhạn worked hard and achieved great success in Arlington, VA. They have
They had two children, a boy and a girl, who were both already married.
8* The eighth sibling is Nguyễn Văn Láng. Láng passed away shortly after birth, so we don't have any memories to record here.
9* Nguyễn Hồng Thịnh, the ninth sibling, is my father's child with a different mother. My mother passed away around 1948, and in 1951, my father was captured by the VC for being a landlord. When he was released, he returned to the village alone because all his children had fled. As a result, my father had to remarry to have someone take care of the household chores. This marriage gave him an additional son, Nguyễn Hồng Thịnh, born in 1953, who is the same age as our nephew Tuấn.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
of mine. Uncle Thịnh had started a family and I heard he had three daughters and two sons, but since I don't have accurate documents, I couldn't record it here.
10* Sister Nguyễn Thị Thơ was a foster daughter of my parents. As mentioned earlier, my parents didn't have a daughter, so they had a few foster daughters. I heard that when Sister Thơ was born, she was difficult to care for, and her family was going through a tough time, so her family sent her to live with my parents through Uncle Đội Hứa. Sister Thơ loved the youngest child very much. When I was still young, Sister Thơ got married and moved far away, and due to the war, we lost contact with each other. When I arrived in Sài Gòn,
We had the chance to reunite with each other. We cherish her more than our own flesh and blood, and she also loves us very much. Đào Trọng Thành, her beloved husband, is a respectable brother-in-law.
Sister Thơ has a talent for cooking, so they opened a restaurant in Bàn Cờ, Sài Gòn before 1975. The business was very prosperous and successful. Even though we had Thạnh (the son of my aunt and sister Thơ, and Thạnh is now in Củ Chi, VN) taking care of the kitchen, we would sometimes take food from their restaurant to eat. The following are their children:
a, Sister Đào Trọng Thanh, is the child from her previous marriage.
b. Sister Đào Thị Hoa is a beautiful and agile girl. She has a mind for business and trade. If given a favorable environment, Sister Hoa could go very far in the business world. She has many children who are also agile and charming.
c. Sister Đào Thị Hiền is a kind, gentle, and beautiful girl, true to her name, loving her husband and taking care of her children. Hiền got married to Brother Thông, a former Lieutenant of the Republic of Vietnam Army, who is handsome, gentle, and diligent in his work. Brother and Sister Thông Hiền have two children, a daughter named Nguyễn Đào Uyên Phương and a son named Nguyễn Đào Quang Thái. After being released from reeducation camps, where he was imprisoned for a period of time, Brother Thông moved to the United States with Sister Hiền and their two children.
Memoir of the Nguyen Family
After evacuating to the United States, they now reside in the state of Virginia. For a time, Anh Thông suffered from a severe illness, but fortunately, thanks to the care of American hospitals, he recovered, thanking God for his providence.
Thanks to their resourcefulness and quick thinking, they were able to purchase a fairly spacious house, preparing for the family reunion in 2004. It's truly a joy and deserving of praise for them. Perhaps Anh Thông and his wife Hiền are the ones who keep in touch with my family the most, so all the news within the family is always reported in a timely and thorough manner.
In November 2000, they held an ancestral worship ceremony
The eldest daughter, Nguyễn Đào Uyên Phương, a beautiful girl, got married to Enrique Sarmiento, a handsome young man from Venezuela.
The whole family is happy for the couple and their children. Uyên Phương now has a little son named Tony, who is also very handsome.
d. Đào Văn Sỹ, a young man with a scholarly appearance, of average height, but very agile... Sỹ lives a very simple life, never boasting, showing off, or emphasizing his individuality. It's said that Sỹ is very successful in the "Sao Mai Tours" travel service in Saigon. Sỹ has started a family with a charming girl named Nguyễn Thị Hoài Thu, and they have three children: their first daughter Đào Vân, their second daughter Đào Tú, and their youngest child Đào
Chapter.
I still remember that in early April 1975, Sỹ was studying at the University of Economics in Đà Lạt. Due to the increasingly volatile and difficult situation, Sỹ and a friend used a motorbike to travel from Đà Lạt to Sài Gòn. When passing through Long Bình, Sỹ stopped to visit his cousin Thông and also took the opportunity to visit sister Hoa, who was in charge of procurement at the Club of the Military Transportation Command of Region 3. I knew that the road from Đà Lạt to Sài Gòn was unstable, and I wondered how they could drive through it. Sỹ replied: "We drove at full speed, lay flat on the bike, and sped through like that, so we were lucky to arrive safely. Although on the road, a couple of
Family Memoir of the Nguyen Clan
He was still being shot at, but didn't know who was firing. What a brave young man! Nowadays, Sỹ is doing well in Saigon, living near Uncle Đào Trọng Thành (who passed away in March 2009 at the age of 102).
11* My sister Nguyễn Thị Nguyện is the foster daughter of my parents. Sister Nguyện married Nguyễn Thuyết and had many children. Among them is the eldest sister, whose real name I don't remember, but is often called "Mẹt Nậy". Mẹt Nậy married a man from Thuận Bài and has a store selling electrical goods in Saigon. The second child of Mr. and Mrs. Thuyết often
The one who still keeps in touch with me is Nguyễn Vui. Despite being apart for a long time, Vui is very kind and familiar with our relatives. Vui had helped my father, who is Vui's maternal grandfather, when he was released from prison. Besides, Vui has a younger sibling named Vẽ and many other younger siblings whose names I don't know.
12* My sister Nguyễn Thị Tám is probably three or four years older than me. She is very beautiful, kind, and virtuous. Every day, apart from working in the fields and taking care of the family, she often helps my mother with household chores, while we had to evacuate to the countryside due to the war. Some time later, she asked my parents to move to Hướng Phương. Because the situation was getting more and more chaotic, we lost contact with her.
I was always close to her, but at that time, I was still young and didn't pay much attention to what was going on. Sister Tám loved us very much, taking care of our clothes and food. When she went back to her hometown, we missed her dearly, but then she didn't return home for a long time. I don't know where she is now or what has happened to her.
ARTICLE 9: MY MATERNAL GRANDPARENTS
I must admit that I have two sets of maternal grandparents: the maternal grandparents of my previous wife are Mr. Nguyễn Viết Các and Mrs. Nguyễn Thị Quyến, the parents of Nguyễn Thị Hạnh, my virtuous wife, but unfortunately, she passed away early.
Family Memoirs of the Nguyễn Clan
The paternal grandparents of my second wife, Lương Thị Yến, are Ông Lương Văn Sang and Bà Phạm Thị Lành.
Before discussing my own family, I would like to mention a few things about the families of my in-laws, namely the families of Nguyễn Thị Hạnh's parents and Lương Thị Yến's parents.
1. My first father-in-law and mother-in-law are Ông and Bà Nguyễn Viết Các, often referred to by the villagers as Ông Bộ Các, as he previously held the position of Hương Bộ in the village. He has a large and tall build, neither skinny nor fat, with a dark and strong complexion, but he has a habit of drinking a bit too much alcohol, sometimes exceeding his limits. Normally, he is a gentle and kind person, loved and respected by everyone in the village.
When he was not under the influence of alcohol, his personality was very open, kind, and loving towards his children. However, when he had been drinking, he became difficult to get along with.
He had a lot of land to cultivate crops and plant rice. In Đơn Sa village, he was known for being wealthy in terms of land ownership. He also had two wives. His first wife, who had passed away, left him with two children, Sister Hợp and Brother Huệ. His second wife had the same name as my mother, Nguyễn Thị Quyến.
My wife's parents had five children: Brother Huân, Sister Huệ (Aunt Ký), Brother Huy, Brother Hiếu, and Sister Hạnh, as well as a foster child named Thanh (Aunt Thanh). When I got to know Hạnh and visited her home, my father-in-law already had gray hair (his hair turned gray because
His hair was as white as silver, not because of age, but his skin was as dark as bronze. He was a strong man, but perhaps due to excessive drinking, he passed away too soon. I'm not sure if that's true, or if he had some other illness. Unfortunately, my husband's parents passed away in our hometown, and at that time, we were living in Đà Nẵng, unaware of the news because the country was divided at the 17th parallel. The night my father-in-law passed away, our family was reading evening prayers when we suddenly heard the sound of a đàn dương cầm coming from the living room, as if someone was running their fingers across the keys. My wife was extremely frightened because at that time, all the doors were locked, the children were sleeping in another room, and there was no way to enter the living room from our room.
Memoir of the Nguyen Family
was… Could it be that the rat was running away or something? Early the next morning, a soldier holding a telegram from outside the village came to inform us that our grandfather had passed away!
It's true that there was a spiritual sign warning us! We and the grandchildren, due to the country being divided, failed to fulfill our filial duties during Grandfather and Grandmother's final hours. We respectfully ask Grandfather and Grandmother to understand and forgive us.
My wife's previous mother-in-law, named Nguyễn Thị Quyến, as mentioned earlier, was a kind and virtuous woman, with a moral character similar to my own mother's. Therefore, the two women were very close and cherished each other. I think that's why Hạnh has led a virtuous and saintly life,
It's probably due to the influence of their mother.
I still remember when my wife gave birth to our second child, Thanh Hương, in Huế in 1951. My mother-in-law came to Huế to take care of the three of us. Poor her, weak and in poor health, she had to worry about taking care of our older child, Nguyễn Đình Thường, while also caring for the newborn and my wife. At the time, I had already enlisted in the army and was stationed at An Lỗ, a remote outpost in Thừa Thiên Province. My mother-in-law took care of all the household chores. That image has stayed with me, and I haven't had a chance to repay her kindness. Now that she's no longer with us, I deeply miss her.
a. The following are the children of my father-in-law, Nguyễn Viết Các, with
The first wife's children include:
- Sister Hợp (I don't know her husband's name) Sister Hợp has the following children: Sister Phong (husband's name), Sister Lài, wife of Brother Hán.
- Brother Huệ, I'm not familiar with the situation of his children. Because after getting married to Hạnh, we had to evacuate to Đồng Hới.
b. The siblings, children of my father-in-law, with his second wife Nguyễn Thị Quyến, include:
- Brother Huân, who has children named Hòe, Đình, Sum, and Quế. Brother Huân is a businessman with a great mind for commerce, but his fate is somehow unlucky.
Family Memoir of the Nguyen Clan
They were not fortunate, as they were born at the wrong time and in the midst of a chaotic war. All business activities were suspended due to the chaos. It's a pity for the siblings and their children. Currently (in 2014), Sister Hoè, the eldest child of Brother Huân, has just passed away in Vietnam at the end of October. She had two sons in California, one named Xuân who lives in San Diego and works as a car mechanic. Xuân is married to a Mexican woman and has several children, and another son lives in San Jose.
Sister Huệ (Aunt Ký) was married to Brother Nguyễn Ký (who has passed away), and they had a daughter named Nguyễn Thị Tuyết Xuân, whom I named Phượng (as her name Xuân coincided with that of her grandfather).
She is the paternal grandmother of my children. In the past, taking the names of one's grandparents to give to their children was considered unfilial and blasphemous, a concept that differs greatly from today's perspective. Phượng is a diligent and hardworking young girl who excels in business and thrives in the commercial world. She was married to anh Thái, an employee at the Saigon Port, and had three children with him (one daughter, two sons). Her eldest daughter, Ngọc Trân, married a Vietnamese expatriate named Thanh, and after their wedding, they moved to the United States, residing in Orange County, where they now have three children, two girls and one boy. The two younger sons are named Thịnh (who got married in December 2014) and Tuấn. All of them are considerate children who take care of their grandmother and parents. Now, Phượng is divorced from Thái and lives alone in Saigon, taking care of her mother. Aunt Ký
This year, he is 94 years old but still very lucid.
- Brother Nguyễn Đức Huy got married to Sister Việt, the daughter of Mr. and Mrs. Nguyễn Cừ. Brother and Sister Huy have children named Vân, Hoàng (who has passed away), Hiệu, Vinh, and several other younger children who were still young when I was in Vietnam. Now they have grown up and started their own families. Brother Huy passed away quite some time ago...
- Brother Nguyễn Khắc Hiếu got married to Sister Hiếu and had six children, including Sơn, Phương, Nguyên, Quang, Thúy, and Trung. The eldest child, Sơn, is currently residing in Seattle, Washington State. Unfortunately, the youngest child, Trung, has been afflicted with a serious mental illness and has to be admitted to a mental institution.
Family Diary of the Nguyễn Clan
While being treated in Biên Hòa, life was miserable! Now, brother and sister Nguyễn Hiếu have also passed away.
-Nguyễn Thị Hạnh, my wife, the mother of our 11 children, will be mentioned later.
-Aunt Nguyễn Thị Thanh, the adopted daughter of my grandmother, has started a family with her husband Thanh (also named Thanh) and has two daughters, and has adopted a son, currently living in Sa Đéc, Vietnam.
2. I would also like to mention here that in 1975, my family evacuated to the United States. On May 7, 1976, my wife Nguyễn Thị Hạnh suddenly suffered a "stroke", and
He passed away two months later at Springs Field, Missouri (USA). Therefore, in 1982, which is six years later, I remarried with Lương Thị Yến, the daughter of Ông Lương Văn Sang and Bà Phạm Thị Lành, who originally resided in Nam Định, North Vietnam, and were living in a city south of Denver, namely Pueblo. Bà Phạm Thị Lành, Yến's mother, had passed away when Yến was just born in Nam Định. My new wife's family also has many children. Ông and Bà Phạm Thị Lành had four children, namely:
- Lương Thị Phượng, who is single and currently lives in the United States.
- Lương Văn Long, whose wife is Nguyễn Thị Ngà, and they have three children.
They are: Lương Quốc Hưng, Lương Quốc Hùng, and Lương Quốc Tố Quyên. Hùng and Tố Quyên are currently residing in the United States. The eldest child, Lương Quốc Hưng, is living in Vietnam, hoping to reunite with the family once the reunification and sponsorship procedures are completed. All of the grandchildren have started their own families and have children.
Lương Thị Loan is married to Nguyễn Trung Thành, who has passed away in Vietnam. Mr. and Mrs. Thành Loan have 7 children: Nguyễn Trung Thiện, Nguyễn Lương Thiên Trang, Nguyễn Long Châu, Nguyễn Lương Thiên Sa, Nguyễn Lương Quốc Trưởng, Nguyễn Lương Tường Vy, and Nguyễn Lương Quốc Ấn. The grandchildren Thiện and Thiên Trang have also started their own families and have children.
Memoir of the Nguyen Family
- Lương Thị Yến, after marrying me, changed her surname to Nguyễn Lương Yến. Yến has a child of her own named Lương Quốc Luy, who has graduated from university and earned a Master's Degree in Finance from the School of Mines. Currently, Luy is working for the Administrative Court of the State of Wyoming.
*After my first wife passed away, Ông Lương Văn Sang remarried to Bà Phạm Thị Nam. They had six children together: Lương Văn Vinh, Phạm Thị Chang, Lương Thị Ánh Nguyệt, Lương Thị Nga, Lương Thế Cảnh, and Lương Thị Kim Thư.
Mr. Lương Văn Sang came to the United States in 1975, a kind and gentle person, he suffered from lung cancer and passed away in Denver, Colorado in 1995.
ARTICLE 10: MY FAMILY:
I was born in Đơn Sa village, Quảng Trạch district, Quảng Bình province, around 5 pm on December 11, 1925, which was the year of Ất Sửu. My parents named me Phao Lồ Nguyễn Văn Thông, with Phao Lồ being my baptismal name. When I was little, my family called me Cu Thỉ at home. However, as I grew older, no one used that nickname anymore. Meanwhile, my two younger siblings, Nguyễn Văn Minh, were given nicknames that stuck.
Mảy Nậy, while Nguyễn Văn Toàn was called Mảy Con. These two names were used for a long time and were quite common in our family and village.
A, My Childhood:
When I was little, I lived with my father in Huế at 7 Paul Bert Street, near the Thượng Tứ gate. I lived with my father and brother Tuệ in Huế. I was still too young and hadn't started school yet, while my brother Tuệ was already attending Paul Bert Elementary School. My father would often return to our village at the end of each month, while my mother had to stay in the village to take care of our home and the fields and gardens. Minh and Toàn, being young, lived with our mother in the village.
Family Memoir of the Nguyen Clan
As mentioned in the section about Brother Tuệ, he had a classmate named Phạm Giao, the son of Phạm Quỳnh, the Minister of Education in the Imperial Court of Emperor Bảo Đại at the time. Phạm Quỳnh's residence was located near my parents' house. Every time Phạm Giao went to school, he would stop by my house to walk with Brother Tuệ to Paul Bert School. The school was only about 50 meters away from my house. Before going to school, my brother would say to our father, "Father, I'm going to school," and Phạm Giao would chime in, "Father, I'm going to school." This shows that the boys were very close, around 8 or 9 years old at the time.
When I was around 5 or 6 years old, Father sent me to preschool.
I attended a school in the Imperial City of Huế. I went with a friend of the same age named Sa, the son of Mr. and Mrs. Tăng Vinh, who owned a famous photography studio in Huế, just one block away from my house. At that time, my friend already knew how to indulge in luxuries, probably because he was from a wealthy family. Every time we passed by the Quốc Tử Giám, he would duck into a café to drink coffee with milk. Initially, when he still had money, Sa would pay, but later when he ran out of money, he would eat and drink on credit, and the vendor would write it down in a book. The café owner knew Sa was the son of Mr. and Mrs. Tăng Vinh, so he let him eat and drink on credit and wrote it down without worrying.
By the end of the month, the café owner took the book to the Tăng Vinh studio to demand payment, and Sa was frantic, running to me with the bad news. We ran to hide under my father's car. In the end, we were still dragged out to face the consequences.
We had a run-in with the caramel seller, after which Sa was severely scolded by her family. We're not sure how the payment to the caramel seller was settled, but from then on, every time we walked past the caramel stall on our way to school, we dared not glance over, despite the caramel seller's continued warm invitations.
Sa had older sisters named Tăng and Vinh, an older brother named Tô, and several younger siblings whose names I can no longer recall. Perhaps Sa's parents had named their shop after their two eldest daughters.
Around the same time, I had another friend of the same age named Vàng, who lived on the street next to mine. Yes, Vàng was the son of Mr. and Mrs. Viên Tạo, owners of a renowned dressmaking shop in Huế back then.
Memoir of the Nguyen Family
Now, Vàng has sisters named Khoai and Cúc, and a younger sister named Chanh. Later, when I grew up, I met Vàng once, and she was working at the Headquarters of the South Vietnamese Police. After that, due to our different occupations, we didn't have the chance to meet again.
When I was around 7 or 8 years old, I followed Father to live in the village, as he had assigned my older brothers to take care of the business and transportation. I was allowed by Father to attend Ba Đồn Elementary School. The school was located about 3 kilometers away from home if I took the national highway, or about
It's just a mile and a half away.
Every day, I went to school by bicycle, or on some days when the bike was broken, I had to walk. When I finished third grade, I had to take the "Sơ Học Yếu Lược" (Certificat d’étude primaire élémentaire) exam. On the day the results were posted, my father and I rode our bicycles to Ba Đồn. Along the way, we met Mr. Phạm Văn Nhu, the principal of Ba Đồn Elementary School (who later became the Chairman of the National Assembly of the First Republic), also riding his bicycle to Ba Đồn. He asked where we were going, and my father replied that we were going to check the exam results for my "Yếu Lược" certificate. Mr. Nhu said, "I wish you good luck, and I hope you pass." Because my father had to ride slowly and wait for me, Mr. Nhu rode ahead of us.
On that day, when I saw the results and found out that I had passed the Elementary Education exam, my whole family was overjoyed, especially my parents, who were extremely proud of me. I still remember clearly that we had a dog at home named Tô, which was very intelligent and fierce. Every day, I would walk to school, and Tô would follow me for more than half the way, up to the well in the Thổ Ngọa field. I would tell it to go back, and it would immediately turn around and run back home. However, in the afternoon, around 3 o'clock, it would wait for me at the well, and when I arrived, it would wag its tail and happily follow me back home. It seemed to be protecting me. Later on, someone cruelly stabbed it in the abdomen, but we never found out who did it. The dog ran back and died under the lemon tree in our front yard, and my whole family was deeply saddened by its loss.
Family Diary of the Nguyễn Clan
B. The Seminary Period:
When I was around 9 or 10 years old, a revered priest named Chất, the parish priest of Nhân Thọ Parish, came to speak with my father, asking to take me in to live with him at the parish, with the intention of sending me to the Seminary to study and become a priest. At that time, I was still young and naive, and I didn't even understand what "going to the seminary" meant. Everything was decided by my parents, and I had no say in the matter.
When I arrived at Nhân Thọ, I lived with Father in a house with a very melancholic atmosphere, as the surroundings were quiet and deserted, much like the Bà Đanh temple. Every day, I had to wake up very early to open the church doors and attend Mass. After lunch, I would study Latin with Father and learn how to assist with the liturgy.
in Latin. In the afternoons, I would go to the church to pray or listen to the priest preach to the congregation. Life was dull and boring for a young person like me.
In the rectory, there was anh Tám, the son of ông Đông, who was the younger brother of ông Phú from Đơn Sa village. Anh Tám was older than me. One day, he felt homesick and suggested that we run away together. Since it was not far from Nhân Thọ to Đơn Sa, we only had to cross Thọ Đơn village.
I agreed enthusiastically with his idea. So, we chose a sunny day and made our escape. As we ran across the fields to Thọ Đơn village, father Chất happened to be riding his bicycle, chasing after us. We hid in the bushes on the field, and he couldn't see us, so he continued riding his bicycle straight down the national highway.
Đơn Sa. So, we slowly made our way back to the village. I didn't go straight to my parents' house, but instead went to my sister Suất's (Sen's) house, because I knew my father was at my parents' house. I waited until he returned to Nhân Thọ, and it wasn't until the evening that I went back home. When I stepped into the house, my parents didn't say anything, probably because they knew I had been away from home for a while and missed them and my siblings.
But the next day, my father came to my parents' house on his bike. I was terrified, but he was very kind and gentle: "Why did you come back without letting me know, so I could give you a ride? Never mind, you can stay home for a few days, and then I'll take you back to the parish house, so you can get ready to start school." When I heard that I would be attending boarding school, I was thrilled,
Family Memoir of the Nguyen Clan
I was excited to pack my clothes into a suitcase, waiting for Father to take me.
I enrolled in Probatorium School in Xuân Phong village, Diễn Châu prefecture, Nghệ An province. Father Chất had already bought tickets for the Hồng Ký bus, which ran directly from Ba Đồn to Vinh. The bus took a day to travel, and we had to spend the night in Vinh. The next morning, the bus continued on to Diễn Châu, where Probatorium School was located.
Probatorium School had a beautiful landscape. At the main gate, there were two rows of poplar trees lining the road, leading to a humble Chapel.
The chapel, located in the middle, divides the road into two paths running along both sides of the church and extending into the wide courtyard inside. Behind the church is a large yard. On both the right and left sides are two impressive two-story buildings. The upper floors of these buildings are the sleeping quarters for the priests and students. The lower floors are divided into many classrooms, a library, offices, and so on.
At the back of the wide courtyard of the chapel is an impressive two-story structure. The ground floor is used as a dining room and kitchen. The upper floor is the student infirmary and a play area for students on rainy days. In front of the two rows of dormitory buildings on both sides is a large yard for various activities.
Students would go for a stroll after lunch and dinner. Outside was a large soccer field. Behind the dormitories, beyond the backyard, the school used a plot of land as a garden to grow vegetables, tomatoes, and other produce to supplement the kitchen's food.
There's one thing I want to mention: I had already completed third grade and obtained my primary school certificate (Certificat d’étude Primaire élémentaire) at Ba Đồn School, as I mentioned earlier. However, when I came here and enrolled in this school, the fathers on the Teaching Board required all students to repeat fifth grade (equivalent to first grade today), but following the French curriculum, where all subjects were taught in French, except for Vietnamese language, which was taught in Vietnamese (Vietnamese was considered a foreign language, langue étrangère). Also, because
Memories of the Nguyễn Family
The program was heavily focused on French, so most of us had a fairly solid foundation in the subject. I was just a young student, around 9 or 10 years old. Moreover, I was a new student, so the phenomenon of "old students bullying new students" was quite prevalent here. I was most afraid of the game "Circulus" (surrounding in a circle). A few older students would hold hands and form a circle around the new students. When the singing was finished, if you couldn't escape the circle, you might get punched on the back. Therefore, when I heard the sound of singing coming from somewhere, I had to quickly run away to avoid being surrounded and getting hit, or receiving a "communal" blow to the back. Additionally, there was the game where older students would tease the new students. This game could only be played when the teachers were absent.
only under the watchful eyes of the fathers or supervisors. Don't think that students who become monks at a young age don't get into mischief, that would be a mistake. They can be just as unruly as students in secular schools, although they don't resort to coarse language or outrageous behavior. Perhaps as they grow older and absorb the teachings and develop a greater sense of responsibility, they undergo a change.
Throughout my time studying here, I performed very well and was consistently ranked among the top 10 students in my class. As I progressed to higher grades and reached the age of 13 or 14, we naturally began to wonder why, as Vietnamese, we were only studying French and not focusing on Vietnamese language and culture.
After that, a few of us organized a group called "Tao Đàn" to spend our Wednesday promenades on the barren hills, gathering to read and critique each other's literary works, which were composed by the group members themselves. Our group consisted of four people with the collective name "Hà Việt Anh Lam", which represented Hà Ninh, the pseudonym of Nguyễn Hoán, Việt Châu, my pseudonym Nguyễn Đình Thông, Anh Tuấn, the pseudonym of Nguyễn Huân, and Lam Sơn, the pseudonym of Nguyễn Huấn, also known as Huấn Lé, due to his severe squint. After a while, a younger classmate of ours asked to join the group, and that was Nguyễn Xuân Hoa, who later became a priest and went on to achieve great things.
Family Diary of the Nguyễn Clan
Our family had a famous poet with the pen name Xuân Ly Băng. His poems, rich in content and form, and his short stories, full of heroic charm, expressed a profound love for our country and a deep affection for our homeland.
I deeply regret that around 1950, many documents and books containing my poems, short stories, and those given to me by friends and siblings, which were kept at our home, were lost. The reason for the loss was that when the VM (Viet Minh) came to confiscate our property and took away all the rice belonging to my parents in the village, they also dismantled and seized the three-room wooden house with two wings that my parents had bought in Lệ Thủy District and rebuilt in our village.
In Đơn Sa village, they dismantled and took away our home, but we had no idea where it was taken. At the same time, my father was arrested and imprisoned by the Việt Minh, who considered him a cruel landlord. My two younger brothers, Minh and Toàn, were lucky to have escaped to Đồng Hới, and they had no knowledge of what had happened to our family's house and property in our hometown.
In my class, there was another friend named Nguyễn Hữu Bốn. Anh Bốn was very skilled in French literature. The French essays he wrote in class were always used by Father Le Galle, our French literature teacher, as model essays for the students. However, at that time, anh Bốn was weak and pale, with a yellowish complexion.
They said that anh Bốn had contracted tuberculosis. At that time, tuberculosis was still considered one of the "four incurable diseases" and no effective treatment had been found. As a result, the school had to expel anh Bốn and send him back to his hometown.
The school was afraid that if anh Bốn continued to stay and study, he would infect the other students. More than 10 years later, anh Bốn appeared in Huế and volunteered to work with us at the Thừa Thiên Public Security Bureau. At that time, anh Hoàng Bá Linh was the Bureau Chief, and he was a classmate of ours from a higher grade.
I was in charge of the Inbound and Outbound Documents Office, and anh Bốn read and translated French documents.
Family Memoir of the Nguyen Clan
My uncle Bốn, a bachelor, would have dinner with our family every month. After a while, for some unknown reason, he contracted a severe case of pneumonia and had to be taken to Huế Hospital. He nearly died, and his hands had already started to exhibit the "catching a dragonfly" phenomenon (a sign where a patient's fingers open and close as if grasping something, indicating imminent death, according to traditional Vietnamese medicine).
Since he was single and pitied for having no one to care for him, my family had to take on the responsibility of bringing him food, water, and essential items to the hospital every day. I had to ride my bike from Thành Nội, crossing Trường Tiền Bridge, to Huế Hospital twice a day. Fortunately, I was still young at the time; if I had to do it at my current age, I wouldn't be able to.
surrender.
After Bốn had recovered, Hoàng Bá Linh and I discussed finding him a life partner, so that he and his wife could take care of each other. If something were to happen, such as an illness, it would be very inconvenient for his friends. We encouraged Bốn to put our idea into action. Every morning, Bốn would go for a walk, pray, and recite the rosary in the Canh Nông garden. He had noticed a pretty girl who often walked through the Canh Nông garden, which belonged to the Thừa Thiên Public Security Department, to attend ceremonies at the Cầu Kho Church in the Huế Imperial City. We asked Bốn if he liked the girl, and he replied cautiously: "She's okay, I suppose!"
If agreed, then attack immediately, what to do first, how to speak, what to do later, and what conclusion to draw. All attack operations must be reported to our Planning Committee with results. Naturally, the Planning Committee outlines the plan, because Bốn is very shy, and has never flirted with girls before. When seeing a girl, he's terrified and doesn't know what to say, forgetting everything. Therefore, we have to guide him on what to ask and how to speak. And after the operation, he must report back to assess the pros and cons.
However, after a while, Bốn had attacked and grasped the issue firmly, and he no longer reported back or asked for advice. Linh and I shook hands, smiled, and silently congratulated Bốn.
Memories of the Nguyễn Family
He was successful in his romantic endeavors. From then on, he was no longer ill until now. And also from then on, meaning from the day he won her over, the two of them have been in perfect harmony building their life together for a hundred years. Not only has he no longer been ill, but they have also given birth to healthy, moral, and successful children every year. I am delighted for them and their family.
Anh Bốn is a former Lieutenant Colonel of the Republic of Vietnam Military, who was once imprisoned for reeducation, and now he and his wife reside in San José, California, surrounded by their numerous children and grandchildren, who are all thriving. The "tuberculosis" he had in the past is now nowhere to be seen, even though he didn't use Western medicine to treat the disease.
Because of that illness, he told me that when he was back home from school, he had been treated with traditional medicine by a local doctor. It was true that his tuberculosis had been cured by a traditional healer, as he only used traditional medicine and never took Western medicine.
We remained in close contact, considering each other as brothers, close friends, due to his genuine character. Now, anh Bốn has also passed away in San Jose, CA.
When I had completed my primary education certificate (Certificat d’étude Primaire Complementaire), meaning I had finished the program at the Probatorium, I was admitted to the Petit Séminaire in Xã Đoài, a famous place known for producing Xã Đoài oranges.
It's a type of orange that's incredibly sweet and fragrant. In the North, there's the Bố Hạ orange, and in the Central region, there's the Xã Đoài orange. Some orange gardens are truly precious, with small mirrors and cabinets displayed under the trees, showcasing the certificates and medals awarded by the government to the orange trees. This is because these orange trees have won first prize in the annual exhibitions and competitions.
At the Petit Séminaire, the school still followed the French curriculum, but students were also required to study Latin. I had to diligently study Latin for four years. Honestly, I've never seen a language as difficult and complex as Latin. Every word has to be declined, and apart from nouns, verbs also have to be conjugated, which is a fundamental principle.
Memoir of the Nguyễn Family
Naturally. The longer the Latin sentence, the better, and the more subordinate clauses it had, the more impressive it was. After a four-year program, students were eligible to take the French Diplôme exam, which was equivalent to the Secrétaire Résidence position in the French government applied in Indochina at that time. With just two more years of study, they could take the French baccalaureate exam according to the program at that time. I decided and dreamed of continuing to pursue these degrees.
On a beautiful summer morning, I saw Nguyễn Huân, also known as the poet Anh Tuấn in the "Hà Việt Anh Lam" group, and not just Huân, but also Hoan, a close friend in our group,
The school and even Huấn (Lé), also known as the poet Lam Sơn, came to talk to me and suggested that I think about whether I should continue my studies to become a priest.
At that time, I was an excellent student, ranking among the top 10 in my class, with good behavior and no disciplinary actions from the school. The arguments my friends presented were truly childish, but I was also young and naive at the time, so I was swayed. I still remember Hoan saying: "You like playing soccer, but as a priest, you have to wear long black robes, how can you play soccer?" I thought it was a valid point back then. It was truly a case of "leading a child astray." Afterwards, I went to see the Superior Father to submit my application.
I submitted my application to leave the seminary. At that time, our superior was Father Lambert, often referred to as Father Lâm. He was too lenient and agreed to let me leave without even asking for a reason. He wrote in my certificate: "Il est sorti sur sa demande, je n’ai rien à lui reprocher ni au point de conduite, ni au point de travail” (This student left the school at his own request, I have nothing to reproach him for, either in terms of behavior or academic performance).
Later, I met Father Nhiên, my spiritual director at the Probatorium, and he scolded me severely. He said that if he had been there that day, I would not have been able to leave the seminary. That occasion also marked the end of the school year, and we packed our luggage and bid farewell to the beloved school that we had attended for so long.
Family Diary of the Nguyễn Clan
In the following period, due to the war situation, it seemed that studying was extremely difficult for seminarians, and many had escaped to the South when the Geneva Accords were signed, dividing the country. Around 1944, 1945, I intended to attend the School of Administration in Vinh and also planned to go to Hanoi to take the Diplôme exam. However, the Japanese-American war grew increasingly brutal and widespread, with the Americans bombing and destroying all the train stations and bridges, so all my plans were thwarted.
When the Viet Minh seized power, the scorched-earth resistance grew even stronger, making it even more impossible to fulfill my plans to resume my studies and take the exam.
My diploma was at an impasse.
At that time, a number of seminarians from Nghệ Tĩnh abandoned their hometown and fled to the South to escape the war. They even changed their names. For example, Trần Bá Cường changed his name to Trương Bá Cần, and is now a state-sponsored priest after studying in France and returning, causing much trouble for the Catholic Church in Vietnam. Nguyễn Tường changed his name to Ngô Thế Linh; previously, he was a Major in the Special Forces of the Republic of Vietnam Military. Unfortunately, he passed away early in San Jose, California.
During this period, my parents stayed at home, while I was assigned by the parish priest to teach at the village school. I taught without being paid.
At the same time, I also helped teach catechism classes for the church, so I lived in the rectory.
C, Joining the revolution:
During this time, I became acquainted with anh Trần Hường, a native of Thọ Đơn village (Quãng Trạch, Quãng Bình). He was a high-ranking revolutionary official of the Province. He invited me to join the revolutionary movement. As a patriotic youth, I wanted our country to escape the French colonial regime. I agreed to join the vanguard youth revolutionary group. During the period of secret activities, every night I had to gather in a location in Thổ Ngọa village, writing countless slogans against colonialism and overthrowing the feudal system.
Family Memoirs of the Nguyen Family
It was during this time that I got to know many other cadres, such as Phạm Giang Hồ, Trần Dần, Trần Sớ, and others.
On the morning before the revolutionary takeover of the Quảng Trạch Prefecture, I was tasked with delivering a revolutionary letter to the family of the Prefect. The letter demanded that he surrender and absolutely not resist. I chose the tallest person sleeping outside, woke him up, and handed him the letter. He was the eldest son of the Prefect. Immediately after, I took my folding bicycle and quickly rode back to report on my task.
The next day was the day of the Ba Đồn market meeting, I called uncle Niệm (Tùng), the son of uncle Đội Hứa, to go to Ba Đồn and head up to Vĩnh's place.
I attended the ceremony of the revolution's takeover. Some villagers who went to the market saw our presence on the Vĩnh Tường balcony and were surprised.
The revolution was successful in the Phủ, and all the villages had to follow. At that time, a Revolutionary Administrative Committee had to be established in the village. The village gathered and I myself proposed that anh Công be appointed as the Chairman of the Village Administrative Committee.
Meanwhile, many people wanted to take advantage of the situation, but I stopped them. As a result, resentment arose, and someone reported my name to the District (which had a new name, previously it was Phủ) as a person who sabotaged the revolution.
The District issued a summons for me to appear before the Chairman.
District. Holding the paper summoning me to the District, I didn't know who the District Chairman was. While standing around, I met Phạm Giang Hồ. I asked: "Comrade, do you know who the District Chairman is?" He replied: "It's me, what's this about?" I then handed him the paper summoning me to report to him. He became furious, cursing: "That Ch. reported falsely, I'll deal with him when I get back." It was then that I knew who had reported me. Luckily, I had befriended some key cadres at the time, or else my life would have taken a different turn back then.
After the successful takeover of the provincial capital, the District Administrative Committee asked for my opinion on what I wanted to do locally?
Memories of the Nguyễn Family
Since I was a student and had no experience with administrative work, I only applied to teach. Therefore, the Revolutionary Administrative Committee of the District nominated me to teach at Ba Đồn Elementary School. To be honest, the monthly salary for teaching was only $75.00, while the minimum cost of food for the month was $80.00. My parents had to give me money to make up for it. I boarded at the home of my grandparents, Hai H., who were the parents of my cousin Ch., in the Ba Đồn District capital. After a while, when I suffered from esophageal pain and had difficulty eating, I had to ask for permission to stop teaching and stay home to treat my esophageal condition, which caused me to choke while eating.
Later, my grandparents, Hai H., for some unknown reason, were both
taken away, and killed by the Viet Minh guerrillas, leaving behind only a single daughter named Ch. The poor girl, being all alone, was gang-raped by a group of thugs and had to suffer from a severe venereal disease. Her condition worsened over time due to the lack of medical treatment.
Mr. and Mrs. Quản Chương (Mr. Quản was an Adjudant, equivalent to a Sergeant) were the village heads of Đơn Sa at that time and were relatives of Mr. and Mrs. Hai H. They took Ch. in and raised her in their village. Ch.'s illness was so severe that her body had shrunk to the size of a six-year-old child, with a pale and yellowish complexion, and she was extremely thin and frail. Her knees and ankles were swollen and oozing with pus. Anyone who saw her would shun her, fearing they would contract the disease.
In Đơn Sa village at that time, there was a village elder named Sử, a traditional doctor who was very skilled in treating venereal diseases. When Mrs. Quản Chương brought her daughter Ch. to ask for treatment, Mr. Hương Sử, after examining her condition, scolded her with an unforgettable phrase: "Your ancestors, so foolish... to have let things come to this!" and he asked why they had let the illness drag on for so long without seeking treatment earlier. He said that the disease had already infected her bones and marrow. This was a case of syphilis, one of the most dangerous venereal diseases, a stubborn illness that was considered incurable.
Usually in Vietnam at that time, anyone who contracted this disease would have to hide away in a remote mountainous area, living alone and waiting for death, abandoned by their family and society.
Family Diary of the Nguyễn Clan
She suffered from a devastating illness. Fortunately, if she recovered, she would no longer be barren (i.e., unable to bear children). Cô Ch. was treated by Mr. Hương Sử for three months. His medicine was very secretive. He would walk around the garden, pick a handful of leaves from a mysterious tree, mix them with a little salt and water in a small mortar, and then squeeze the liquid for the patient to drink, while applying the residue to the external wound. And yet, over time, Cô Ch. completely recovered from her illness, regained her slender figure, and her 18-year-old beauty returned.
It's said that later she married anh Th., an interpreter for the army.
In France, at the Quảng Khê post, and they even had a beautiful baby girl. I don't know what their family situation is like now, but I've heard that anh Th. is currently living in Texas, while cô Ch. has settled in France. I don't know if this traditional medicinal recipe has been passed down to future generations or if it's been kept secret and taken to the afterlife. If that's the case, it would be a waste.
D, Leaving the revolution:
I taught for about three or four months. One day, I followed my friends to the Hướng Phương Deanery to participate in the Catholic Youth Movement led by Bishop Lê Hữu Từ. In reality, I went to have fun and meet friends rather than attend the meeting. Around noon that day, there
Anh Nguyễn Văn Ngọc, a classmate from my older days at the Probatorium school, informed me that the priests had met in the Diocesan Office and said that I was a communist who came to gather information. I was shocked, like a mountain tribesman in the city, and asked anh Ngọc, "Why do they call me a communist?" Anh Ngọc replied, "Perhaps it's because you work as a teacher for the VM, so the priests accuse you of being a communist.
It was only from that day on that I learned that the VM was communist, condemned by the Catholic Church, and that anyone who joined the communists would be excommunicated by the Church. The punishment was so severe because communism advocated for the abolition of country, family, and religion.
Family Memoirs of the Nguyen Family
In reality, during our youthful years, we were passionate about our country and actively participated in the revolution to overthrow the colonial, bureaucratic, and feudal regimes, bringing independence, freedom, and democracy to our Homeland; to create a Fair, Warm, and Happy society for our fellow citizens. To be honest, at that time, we were unaware that the Viet Minh was communist. Therefore, when we discovered Ho Chi Minh's intention to implement communist theories in our country, we tried every means to withdraw.
It was also a fortunate opportunity, as I had been suffering from esophageal pain, and I requested to withdraw.
After quitting my teaching job at Ba Đồn Elementary School, I returned to help with teaching at the church and also participated in the activities of the Catholic Youth Movement at Đơn Sa Parish. The revolutionary activities of the entire population during the time of the Viet Minh movement were driven by patriotic and nationalist sentiments, and later the communists took advantage of these movements to seize power, manipulating legitimate national organizations. Moreover, during the period of 1944 and 1945, the people did not yet understand what communism was or its cruel and ruthless nature, so they were deceived into joining the revolutionary movement to fight against the French colonialists and the Japanese militarists. This was also a bitter lesson for our family.
It was just like Tiên Rồng!
During the time we were active with the Catholic Alliance in the village, one day a troop of French soldiers, stationed in Quảng Khê, came to the village on a mission. They entered the villagers' homes, taking pigs and chickens, and no one dared to intervene, mainly because most of the villagers didn't speak French.
Seeing the disturbing scene, my friend Bé (the husband of sister Bường, the daughter of Mrs. Hương Thoại, whose house was next to mine) and I had to step in. After explaining to their commander that "This is a Catholic village, there are no Viet Minh soldiers or guerrillas in the village, please don't destroy or take the villagers' property,"
Memories of the Nguyễn Family
Thanks to that, the village's destructive activities by this group were stopped. However, afterwards, someone reported that anh Bé was in contact with the Westerners, so he was captured by the VM and disappeared. It's unknown where he was killed.
It's a pity, anh Bé had just returned to the village from Sài Gòn and had recently married chị Bường (younger sister of anh Thái), the daughter of mệ hương Thoại, whose house was next to mine. Anh Bé was killed while chị Bường was pregnant. Later, she gave birth to a baby girl. The father and daughter never got to meet each other. I heard that this granddaughter is now living in California (?). It's really a pity for anh Bé. He stood up for the villagers and yet was falsely accused of being in contact with the Westerners!!!
The village of Đơn Sa later decided to fence off the village, resisting any invasion from anywhere. The villagers were very enthusiastic and the work of fencing the village was very active. At the same time as the village was being fenced, a village defense team was established under the command of anh Nguyễn Rí.
Anh Nguyễn Rí, formerly a platoon leader (Sergeant) in the French Army, was knowledgeable about firearms, ammunition, and military operations, including ambushes. Unfortunately, firearms and ammunition were scarce, so the village defense team had to use sticks, clubs, and machetes.
One day, a group of soldiers or a gang of bandits from somewhere launched a surprise attack on the village. The villagers did not know which army they belonged to or what their purpose was, as they had not been informed of any force coming to the village. The villagers
The village was put on high alert, with all able-bodied men ready to respond. The village leaders tried to determine which force was invading the village and what their intentions were. However, the attacking unit opened fire without warning or notification to the village council staff, making it impossible to prepare a reception. The village occupation occurred unexpectedly, resulting in the deaths of two villagers: anh Nguyễn Thanh, a villager who was shot and killed while trying to see what was happening, and another person who was drunk and talking nonsense, and was brutally massacred.
Anh Nguyễn Rí, although not a landlord, was also killed during the land reform campaign.
Family Diary of the Nguyễn Clan
He was just a veteran warrior who bravely worried about the safety of his relatives in the village, ready to oppose the robbers and murderers, the "fishermen in troubled waters." His meritorious deed deserves to be remembered in the village. But later, he was falsely accused of opposing the revolution (!!!) and was executed unfairly, innocently, without being able to defend himself.
I, Lập Gia Đình:
Due to the increasingly tense situation, my parents decided that I had to start a family to take care of livelihood and stop doing useless things. I wondered, "Start a family with whom now?" Because I didn't
I didn't know any girls, and I wasn't close to any of them. One day, I visited chị Quỳnh, anh Lưu's aunt, at her home. Suddenly, chị Quỳnh asked me, "I heard that Ông Mệ is considering arranging a marriage between cô Hạnh, Ông Mệ Bộ Các's daughter, and some young man. Is that true, Thông?"
Without waiting for a response, she continued, "Oh, cô Hạnh is so gentle and charming. The other day, I went with O Lân, a nun, to Ông Mệ Bộ's house to visit Bà Sâm, the Mother Superior, and when we entered, we saw cô Hạnh sitting on a platform, chewing betel nuts, with her legs crossed to one side, smiling and greeting us. She was truly demure and virtuous, so lovely and charming, Thông!"
When I heard her say that, it sounded so good, but to be honest, I had never really paid attention to Hạnh before, meaning I had met her but didn't have any special feelings for her. However, when sister Quỳnh mentioned Hạnh in such an objective way, that's when I started to observe and get to know her. Hạnh was the youngest daughter of Mrs. Bộ Các, the child of a wealthy landowning family in our village. Nevertheless, as we got to know each other, I discovered that Hạnh was a virtuous, humble, gentle, kind, and wise girl. I thank God for arranging for me to hear sister Quỳnh's casual remark, a question that didn't even require an answer. It was precisely because of sister Quỳnh's comment that we eventually became husband and wife.
Family Memoirs of the Nguyen Family
Talking about beauty, Hạnh is above average in terms of charm, but very elegant and morally upright. People say: "Moral character surpasses physical beauty," and that's true. When I first got to know Hạnh, she had a boil between her toes, which made walking very painful and difficult, causing her foot to swell.
At that time, in the countryside, there were no medicines to treat it. I suggested that Hạnh soak her foot in salt water every day, and I went to find a plastic record, broke it, burned it to ashes, ground it into a fine powder, and applied the ash to her foot where the boil was painful. The remedy was effective, and that night the wound stopped hurting, and just five to seven days later, the boil healed completely. I learned about this remedy from
I must have hidden somewhere, but now I don't even remember where I was. In my youth, I was a charming young man, with a good physique, and I wasn't short of admirers among the rich and famous girls in Ba Đồn town who secretly dreamed of me. These modern and beautiful girls, dressed in the latest fashion, would even dare to ride their bicycles to the village to look for me...
They met brother Xướng and asked about me. The reason they were able to find my house was that in the entire village, only my Ba Má had a two-story house. Luckily, I was away, otherwise, it would have caused Hạnh some unpleasant moments due to misunderstandings, even though Hạnh and I had just met and hadn't made any promises to each other.
As for the girls on Ba Đồn street, I only knew them from my time teaching at Ba Đồn School. I also didn't have any particularly close relationships with them.
I didn't know them well, nor were we close friends. Yet, those girls dared to ride their bicycles to the village to find their lovers, how brave! Anh Xướng just smiled quietly, even though I tried to explain, but perhaps he didn't believe me. It's a pity, the young man was only 20 years old, had just returned from being a monk, and knew nothing about women. However, Hạnh trusted me completely, and she didn't have any doubts.
From the day I requested to stop teaching, I had to ask Dr. Y Tá Trưởng of Phủ Quảng Trạch, Lài's father, to certify that I was suffering from stomach problems, and therefore couldn't continue teaching. The old Dr. Y Tá Trưởng had a lot of affection for my family and held me in high regard. Perhaps that's why Lài invited her friends to come to the village to find me.
Memories of the Nguyễn Family
Why? Now that I no longer teach at Phủ Ba Đồn School? Thanks to that certification, I was able to resign from my teaching position easily.
Also, due to the increasingly difficult situation, my parents wanted me to get married quickly to prove that I had settled down and was focused on making a living, and no longer wandering around. Therefore, Hạnh and I decided to get married, and we had a wedding ceremony performed by Father Dũng, the parish priest of Đơn Sa, at the church on February 12, 1947.
Notably, on that day, there were eight (8) other couples who also got married. Among them were anh Thạch (son of Mr. and Mrs. Thiết) and chị Kính (daughter of Mr. and Mrs. Điệp), and six other couples. Over time, I have forgotten the names of the others.
I had forgotten her name. At that time, I was not yet 22 years old, and Hạnh was only 17.
Due to the difficult and impoverished situation at home, I realized that if I didn't quickly find a peaceful place to work and make a living, things would be tough. Therefore, I left my wife in the village, despite having just gotten married. I went to Đồng Hới to look for work.
I traveled to Đồng Hới by bicycle, and when I crossed the Lý Hòa pass (Hoàn Lão), it was extremely exhausting because I had to pedal uphill. When I went downhill, my bicycle's brake cable broke, and I couldn't slow it down, so I let it run freely down the hill at a terrifying speed.
In the end, I lost control of the bike and fell.
I rolled and crawled down to a patch of land beside the road, near An Lão Station. The soldiers in the station rushed out, helped me up, and tended to my bruises and wounds. After sitting for an hour to regain my strength and repair my bicycle, I continued on my way to Đồng Hới. It's amazing how resilient I was in my youth.
I had been away from home for a while, until a French army outpost was set up at an elementary school in my village, and I finally had the opportunity to return home and visit my family.
Upon arriving in Đồng Hới, I worked for the "National Alliance" organization. I worked for three or four months without receiving any pay. They kept putting it off, saying they would pay me tomorrow, but in the end, I didn't receive a single penny. I
Family Diary of the Nguyễn Family
I temporarily stayed and had meals at the home of anh Hoàng Cản and his wife. I ate without paying, and when I had money, I would pay them back. I had been eating there for three or four months, and anh Cản never asked me about the money. The implicit understanding was that I would pay when I had the means, and if not, then I wouldn't. I will never forget this kind gesture.
However, after I started working at the Đồng Hới Department of Public Security, in charge of handling outgoing documents, I promptly settled all my debts with a word of thanks to anh and chị. To express their joy, they organized a small family gathering to celebrate my new job. I am very grateful to them.
Anh Hoàng Cản is a former non-commissioned laborer (ONS - Ouvrier non spécialité).
in the French Army. At that time, he returned to Vietnam to work for the Vietnamese Police Department, in charge of controlling the Đồng Hới port. Anh Cản and his wife were very kind to me, so I considered them like my own siblings. Chị Cản had an older sister, but I'm not sure what her name was. According to Mary Hoàng, chị Cản's daughter, her sister's name was Hủy, but I never heard anyone call her that. She was usually called chị Phước. Chị Phước had two daughters, cô Phước and cô Ngọc. Anh and chị Cản also had an older daughter named Thông, who was frail and often ill, and I later heard that she had passed away. In addition, anh and chị Cản had another daughter named Minh who lives in California, and some younger children, but by then we had lost touch with each other, because I
I joined the military and attended the Dalat Inter-Army Officer School. Mary Hoàng (Hương), the child of my older brother and sister, is married to a man named Trọng and currently resides in California. According to Mary Hoàng, my older brother and sister also have a son named Hoàng Cảnh, who holds a Master's degree in Computer Science and is currently working successfully in Australia. The success of my brother and sister's children is certainly due to the blessings and virtues left behind by my parents.
When I was 20 or 21 years old, I fled to Đồng Hới, and at that time, I was still young and strong. As a young man in my prime, I was very healthy. Usually, my family would eat dinner before I did, because I had to stay late at the office, and I would return home at a fixed time, so I
Family Memoirs of the Nguyen Family
Afterwards, I stayed here temporarily because I was receiving a monthly stipend. In my work or daily life, whenever I encountered difficulties or was at a loss, I would often seek advice from my elder siblings. Our relationship was very close and sincere at that time.
The following is a story about my job search in Đồng Hới. At that time, I had just moved to the village. I walked down to Tam Tòa village with the purpose of meeting Father Thành, the Parish Priest of Tam Tòa Church, to ask him to give me a letter of introduction to help me find a job, as his reputation had a significant influence on the Đồng Hới Secteur.
When I arrived at the Mụ Kề bridge, I was caught by the French in a raid and forced to get down to the dock to unload rice from the boats onto trucks to be taken to the Quân Nhu warehouse in Đồng Hới. The people who were caught were divided into two groups. One group unloaded the rice from the boats onto the trucks, and the other group transferred the rice from the trucks to the warehouse.
I was assigned to the group that loaded the rice onto the trucks. In the group that brought the rice into the warehouse, there was an old man who was smoking, and because he didn't have a lighter, he used a piece of burning rope to light his cigarette. The French soldier Lê Dương, who was in charge of the laborers, discovered the burning rope during a search and asked who it belonged to. No one said anything. He then lined up the laborers in a row and shot them all to death, believing that the burning rope was a type of "mèche lente" used to detonate mines.
The old man's crime was pardoned because of his age. It was truly unjust and fortunate for me. If I had been part of the group in the warehouse, my life would have been in danger! During this time, the French army had just occupied Đồng Hới, and everything was handled by the military as if it were a battlefield. After that, I don't know how the French army dealt with that cruel soldier.
After four months of working without pay at the "National Alliance" organization, I was hired by anh Nguyễn Biểu Hiệu, the Head of the Security Department in Đồng Hới, as a daily wage employee. At this time, I had a salary and was able to pay anh chị Cản back for my food expenses in full, with gratitude.
Memories of the Nguyễn Family
I sincerely appreciate the kindness of my elder siblings. That afternoon, they hosted a dinner with pickled mustard greens to serve as an appetizer. That month, I visited my village. I bought four bottles of beer to give to my father and also informed my family that I had found a job. My father told me, "Why buy cold drinks, it's like drinking cold water." His words discouraged me, as I had never drunk alcohol before and had no experience.
On one occasion, the department organized a year-end party, and I was pressured by my friends to drink beer. With a false sense of bravery, I downed an entire bottle.
a LaRue beer (a high-end beer). Since I wasn't used to drinking alcohol, not even beer, I got a "shock", yet I still managed to stumble my way home, even though I was completely drunk.
Poor anh Cản and chị Phước, they had to drag me to bed, rub lime on the soles of my feet, scrape my skin with a coin, apply oil behind my ears, and so on, because they were afraid I had caught a cold. That night, I was "knocked out" by the beer, and I vomited up all the food I had eaten in the afternoon. The next morning, when I sobered up, I learned that anh and the sisters had taken care of me, but I hadn't been aware of anything throughout the night. It was really frightening!
But in fact, from then on, I gained experience and learned to control myself when it comes to eating and drinking. In the beginning,
It's all because of my lack of experience, which led to this situation. My wife was still at home, taking care of Ba Má, especially since my mother was in pain. Poor Mother, she was in pain and didn't have any medicine to take. Every day, Hạnh had to support her, clean her, bathe her, and feed her porridge. Occasionally, sister Sen and sister Trí would come to help.
Apart from taking care of my mother, Hạnh also managed the household chores, cooking, and marketing, fulfilling her duties as a daughter-in-law. Although Hạnh was still young, only about 17 years old. Time passed quickly, and by 1948, my mother had passed away. We immediately informed my brothers Xướng and Trí, who were stationed at the Ba Đồn military post, of the news. The funeral was held solemnly despite the difficult circumstances.
Family Diary of the Nguyễn Family
During the Gathering Period: After my mother had passed away and the funeral was over, I asked my father for permission to bring Hạnh to Đồng Hới. We temporarily stayed at the home of Mrs. Chài, near the Bình Quan Gate of Đồng Hới. Anh Hoàng Cản, chị Phước, and their grandchildren also rented a place with us, after leaving their old house on the street.
The old house on the street was spacious and comfortable, but it was located next to the French army's BMC (Borden Militaire Campaigne) brothel. Therefore, it was quite inconvenient. In fact, Mrs. Xã Chài's house was quite large, but there were too many people renting it. At that time, anh Danh was also renting a room there. Besides, there were also
Mr. Lieutenant Vinh, also from the French Army, rented a bed for his second wife to temporarily stay.
At that time, life was very difficult because money was extremely tight. Moreover, we were all refugees who did not receive any assistance from the government or charitable organizations in the early days. We knew it was tough, but what could we do? However, after a short while, we were able to rearrange our living situation to be more decent.
At that time, Hạnh was 18, a teenager, and I was a 23-year-old young man without much life experience. Although Hạnh was young, she was very clever and thrifty, carefully managing our expenses and being frugal. All financial decisions were made by her alone.
My wife took care of managing the household. Some time later, due to the unstable situation in our hometown, my uncles Minh and Toàn, who were living outside the village, came to take refuge in Đồng Hới. At that time, my father was being held captive by the Việt Minh authorities, as previously mentioned.
Back then, uncle Toàn was only 16 years old and needed to continue his studies, so he stayed with my wife and me at Mrs. Chài's house. Every day, Toàn would attend school at Chân Phước Phượng. On his way to school, he would also bring along a packed lunch that my wife had prepared for his brother Xướng, who was being treated at the hospital located on the banks of the Nhật Lệ River, near Chân Phước Phượng school.
Memories of the Nguyễn Family
At this time, there was a problem with my job. It so happened that the Đồng Hới Security Department had just been established. Mr. Nguyễn Biểu Hiệu was appointed as the Department Head. He recruited several new employees, including me. Meanwhile, he also brought some old employees from Huế.
Among the old employees was Mr. Trần Vân, a specialist in identification, who reported to the Central Security Bureau, headed by Mr. Trần Trọng Sanh, saying: "Department Head Nguyễn Biểu Hiệu has recruited several employees based on personal relationships rather than their cultural capabilities."
Mr. Trần Trọng Sanh, as the Director of Central Region Security, should have ordered a secret investigation to uncover the truth, but instead, he wrote a letter requesting the dismissal of these new employees. Mr. Nguyễn Biểu Hiệu, visibly angry, immediately flew to Huế to report the incident to the Director. Among the newly hired employees were highly skilled and culturally capable individuals, such as Mr. Nguyễn Phương, who later became a priest and professor of history at the University of Huế. After the report, the matter was dropped. Nguyễn Biểu Hiệu even threatened that if the Security Department insisted on enforcing the letter, he would resign as Head of the Department.
At that time, I also didn't understand what level of education the Director had, but he was so gullible! Later, when I joined the army, I coincidentally worked with anh Trần V. in Huế. He was a Sergeant Major in charge of documentation, but couldn't write a single sentence in French or a document in Vietnamese. Looking at him, I felt sorry and remembered the old story, silently chuckling to myself. He was also aware of his limitations, working slowly and quietly by himself, no longer daring to boast and brag like he used to.
ARTICLE 11: THE TIME I JOINED THE ARMY:
A, Joining the Vietnamese Soldier Corps: After working at the Đồng Hới Security Department for a while, in 1950, I requested a transfer.
Family Diary of the Nguyễn Family
I entered the Thừa Thiên Security Department, now renamed the Thừa Thiên Public Security Department, where anh Hoàng Bá Linh served as the Department Head. I was still in charge of handling incoming and outgoing documents, just like when I worked in Đồng Hới. Anh Linh was a good friend, always willing to help his colleagues. However, he had a bit of a hot temper and strongly disliked the acts of sabotage that caused insecurity for the people within his area of responsibility, which led to him being slandered and labeled as a fierce tyrant by malicious individuals.
By 1951, with Linh's encouragement, I took the exam to join the Vietnamese Military Corps, in order to be recruited into the field.
I was hired as a assimilated clerk after passing the exam, and became a "Sergent assimilé" (Assimilated Sergeant), specializing in working at the Army's offices.
At the time of the recruitment exam, candidates were classified into different assimilation levels based on their test results, with the highest level being Assimilated Sergeant. As an Assimilated Sergeant, my salary was naturally higher than that of a daily government employee. With my family's circumstances, my government employee salary was only $2,600.00 (two thousand six hundred dollars). In contrast, when I joined the army as an Assimilated Sergeant, I earned three thousand six hundred dollars per month, not to mention the benefits of clothing, shoes, hats, and other allowances.
It was provided for free by the Army. After discussing with my wife and children, I accepted to join the Army of the Republic of Vietnam and was transferred to the Northern District, stationed in An Lỗ, Thừa Thiên, under the command of Captain Lê Văn Sự. During this time, my wife gave birth to Nguyễn Thị Thanh Hương, our second child. My mother-in-law came from the village to Huế to take care of her daughter and grandchild during the postpartum period.
Some time later, the Northern District was dissolved, and all the staff of the Northern District Office were transferred to Huế. Fortunately, I was appointed to the Martial Office of the Trung Việt Governor, under the command of Captain Lê Văn Nghiêm, who was the Chief of the Martial Office at that time.
Memoir of the Nguyễn Family
In fact, I worked directly with Lieutenant Phan Chuân, a Deputy Officer to Captain Chánh Võ Phòng. During my time working here, I learned a lot, especially how to draft military documents in French through Captain Lê Văn Nghiêm (who later became Lieutenant General Lê Văn Nghiêm).
One of the funniest stories from this time was about a First Sergeant named Tr. who worked at FRAC (the Army's Driver Training Center, Formation Rationel Accélérée des Chauffeurs). He was very arrogant and proud, considering himself the most skilled in French among the non-commissioned officers at Võ Phòng Thủ Hiến.
Trung Việt. His arrogance annoyed Lieutenant Phan Chuân. One day, Lieutenant Phan Chuân wanted to organize a French dictation competition between Sergeant I Tr. and someone else in the office. He called me to compete with Tr., but I refused immediately because I didn't want to do such foolish things. Through my interactions with Tr., I had already known his capabilities. However, Lieutenant Chuân ordered me to participate, and I had to comply reluctantly. Using an article from the Sélection Reader's Digest magazine, Lieutenant Chuân read it out, and we wrote it down. The result was that I made two mistakes due to French words borrowed from English, while Tr. had more than 18 errors.
With those very minor mistakes. My colleagues in the Martial Arts Room were amused. From then on, T.S. Tr. was less arrogant and no longer as boastful as before.
During this time, a close friend of mine, while still working at the Thừa Thiên Police Department, was Mr. Hồ Chung (now living in Colorado). He worked at the Second Bureau of France. The two of us had planned to attend the Second Lieutenant Course in Đập Đá, Huế, but in the end, due to my cautious nature, "Carrying an umbrella in the morning and carrying it back in the evening," I withdrew my name from attending the course. Meanwhile, Hồ Chung went on to attend the 6th course at the Đà Lạt Joint Military Academy and graduated as an officer from this course.
Memories of the Nguyễn Family
B, Joining the Đà Lạt Joint Military Academy:
Time passed, and Captain Lê Văn Nghiêm was transferred to another post, while Captain Lê Khương was transferred to take charge of the Martial Arts Department of the Central Vietnam Prime Minister's Office. The new Head of the Martial Arts Department, Lê Khương, thought that we were loyal to Captain Lê Văn Nghiêm, so he transferred all the staff in the Martial Arts Department to other combat units and brought his own trusted personnel to fill the positions.
I was transferred to the 8th Battalion stationed in An Lỗ.
I decided to take the entrance exam for a South Vietnamese Army officer training school, and fortunately, the 8th class of the Đà Lạt Military Academy was currently accepting applications. I submitted my application immediately and also encouraged some of my fellow non-commissioned officers to join. I passed the exam and began my studies around early August 1952.
What I want to mention is that at that time, the Đà Lạt Military Academy was entirely managed and instructed by French officers. Some Vietnamese officers from earlier classes also participated as trainers. However, all communication with the students as well as the training sessions were conducted in French.
That was a stroke of luck for me. I felt comfortable during the training hours in the classroom or on the drill field. Usually, for each tactical exercise on the battlefield, whether the trainees played the role of friend or foe, they had to write a summary of the lesson and training session and submit it to the Instructor for approval. The Instructor would use the summary to evaluate the trainees' learning progress. This task was a challenge for many trainees because their French language proficiency was not sufficient for the course. I was fortunate to have a surplus of French language skills to pursue my studies, so I could finish the summary in just 10 minutes and put away my notebook.
Memoir of the Nguyễn Family
I left the "summary of lessons" on the table for other trainees to use.
I was assigned to the 5th Brigade, led by Lieutenant Couprie, the Brigade Commander. Couprie was a model French officer, always impeccably dressed with crisp clothes, shiny shoes, and a dignified demeanor. He was indeed a true instructor from the Đà Lạt Joint Military Academy.
Before I knew it, my training time at the military academy was coming to an end. About a month before graduation, all the trainees gathered in the Auditorium, which the French called the Salle de.
Triumph, to choose the branch of service based on the order of rank upon graduation. I was ranked among the top 10 in a list of around 168 graduating students, so I chose Arme du Train (the Transportation Corps).
However, when I made my choice, I hadn't yet studied this specialty, so I thought it was the Army's Railway Corps. The reason was that I didn't understand that TRAIN referred to the Transportation Corps, a branch of the French Army, and instead thought that Train meant railroad. About 15 days before graduation, the Commandant of the school, Captain Cheviotte, summoned me to his office. After entering his office, I stood at attention and saluted him.
He received me with proper military etiquette. He invited me to sit down. It was then that he said, "Lors des examens de la sortie, vous avez obtenu une vénérable place. L’école a besoin des instructeurs capables. Je vous propose de rester à l’école pour être instructeur." (During the final exams, you obtained a respectable position. The school needs capable instructors. I propose that you stay at the school to be an instructor.)
I immediately declined and replied, "Sir, I would like to thank you for trusting me. However, during the previous selection of military branches organized by the military school, I chose the 'Arme du Train,' so I would like to request your permission to continue pursuing
Memories of the Nguyễn Family
The "Train" branch that I had chosen. The Lieutenant Colonel didn't pressure me, I stood up, bid farewell, and left.
C, Military Operations During the Training Period:
After just one month of attending the Military Academy, we had to participate in a cleaning operation (Opération de nettoyage) in the Liên Khương area of Đà Lạt. This mountainous forest was uninhabited, reportedly known as the Forbidden Forest. The trees here were enormous. A pine tree (sapin) towered high into the sky. The trunk of the tree was so large that four people couldn't encircle it with their arms. The entire forest stretched out endlessly like that. We got lost in the forest for quite some time, unable to find our way out.
Then, I had to ask a Montagnard to guide me. It took a long time to find a distant and isolated Montagnard village. The people living in these villages were very simple and unsophisticated. The young girls, 18 or 20 years old, dressed revealingly, wearing only skirts and leaving their tops exposed. The student soldiers, exhausted from marching, were wide-eyed and chatty, gesturing with their hands (since they didn't speak the Montagnard language, they had to use hand signals).
We walked until we were completely exhausted. Whenever we stopped, the entire group would lie down, sit, or sleep like they were dead. Not to mention the leeches in the forest, which bit like a hail of bullets and stuck to human skin quickly.
Like a knife cut. They suck people's blood to their heart's content without the victim even noticing. The most dangerous thing is when they crawl into your ears or into other sensitive areas of the body. I was really afraid of such military operations.
As our course was nearing its end, another operation was organized in the muddy Đồng Tháp Mười region of South Vietnam. When wading through the river, the muddy water rose up to our chests and would have continued to suck us in if we hadn't had someone to pull us up. The muddy soil in this Mekong River region smelled terrible, especially when the water was low. This operation also filled us with fear. Nevertheless, thanks to the operation in the Đồng Tháp Mười region, I had the chance to see with my own eyes the richness and fertility of the land in the South, if only it were developed.
Memoirs of the Nguyễn Family
The land was exploited to its full potential. The soil was very fertile, and no fertilizers were needed. There were various types of fruit trees, and they bore fruit abundantly. The garden owners were willing to let us eat for free, but they asked us not to damage anything. There were mangoes, guavas, rambutans, mangosteens, lychees, durians, pineapples, watermelons, and many other types of fruit that were too numerous to count.
Due to the hardship of the military training exercises, I decided to choose the Arme du Train. Initially, as mentioned earlier, I thought that "Train" in French referred to a train. Marching by train would be better than walking. However, when I received training in the new branch, I learned that "Train" referred to the transportation sector.
Transportation. Therefore, in the Army of the Republic of Vietnam, there was a Transportation Corps. I was trained and continued to serve in this branch throughout my time in the military.
D, Graduation Ceremony:
After the Đồng Tháp Mười operation, we were organized by the military school to attend a graduation ceremony. This graduation ceremony was presided over by Head of State Bảo Đại on June 28, 1953.
Throughout my time studying at the Military Academy, there were many happy and sad stories:
A typical amusing story is that during the course, the officer trainees had to climb to the top of Lang Bian Mountain once, called conquering the highest peak in the region. At first, my fellow trainees were enthusiastic, competing with each other, not walking but running up the slope, each one boasting confidently. But just a moment later, they were all panting, exhausted, sticking their tongues out, their legs stiff, unable to lift them up. Nevertheless, we still had to try to overcome the mountain, we struggled to climb to the top.
At this point, no one could say a word, everyone was silent, quietly trying to climb to the top of the mountain. We all had to focus our minds to climb, and because we were too tired to speak.
Memoir of the Nguyễn Family
A sad story, following the tradition of the military academy. One day, under the orders of the Board of Directors, the younger students who were being trained in the Triumph Hall had to endure hardships, face difficulties with patience, and not get angry or enraged. The students had to "conquer themselves to lead." Meanwhile, the Board of Directors ordered the senior students to enter the junior students' dormitories, disrupt the order in the rooms, and rummage through the clothes closets, creating a scene of utter chaos.
Right on schedule, the senior students withdrew, and the junior students finished their classes and returned to their rooms. The scene was one of complete disarray and disorder, courtesy of the senior students.
The older students' prank caused the younger students to become extremely angry and sad. The older students had turned the beds upside down, placed shoes in a messy manner with one pair mixed up with another, and scattered clothes that were once neatly arranged in the closet all over the place. Some even played a trick by hiding shoes in the toilet. They made a mess, using their hands to rummage through things while muttering curses.
When the Instructor returned to inspect, the students complained loudly. The Instructor calmly advised, "You are facing difficulties, you must remain calm and study to resolve them, do not be angry, do not be enraged, you must Conquer Yourself to Command. Have you forgotten the lessons in the classroom?"
Ah, so that's how it was. The trainees quietly rearranged their belongings, books, shoes, and clothes without complaining anymore, and decided to keep this grudge... to take revenge on the younger generation that would come after!!!
A funny story is that some of us new officers were allowed to go into the city of Đà Lạt to pay our respects to Head of State Bảo Đại. The meeting with the Head of State was very formal (following proper protocol). The Class President (valedictorian) presented words of loyalty to the Head of State, vowing to fight against the enemy of the nation, not to betray the Fatherland, and so on.
After that, the delegation listened to the Head of State's instructions, the new officers stood silently, not daring to make a sound.
Memories of the Nguyễn Family
After paying our respects to the Head of State, we were guided to the residence of Lieutenant General Nguyễn Văn Hinh, the Chief of Staff of the National Army of Vietnam. Lieutenant General Hinh and his wife warmly and jovially welcomed the new officers.
After the formalities of the new officers' representative delivering a speech and Lieutenant General Hinh's response, the atmosphere seemed solemn but stifling. It was Lieutenant General Hinh's wife, a French lady, who broke the stifling atmosphere with a question:
"New officers, who among you is still unmarried? Raise your hands!"
Many hands were raised. The woman then called her young daughter, who was around 12 or 13 years old at the time. She asked further: "Who wants to marry my daughter?" The entire group of new officers burst out laughing. The atmosphere was lively and relaxed…
E, Branch Assignment:
On the day of our graduation from the Đà Lạt Joint Military Academy, we were pinned with the "Second Lieutenant" insignia on our shoulder straps, following the standard rank model of the French Army. Notably, the insignia of officers from the Armor, Artillery, Transportation, and other branches were silver, rather than the gold worn by officers from the Infantry branch.
Rank. The silver Second Lieutenant rank was often mistaken for the Lieutenant rank, but the Lieutenant rank has a red stripe in the middle. Many times, we were also mistakenly called Lieutenants. However, the people were very clever, especially the girls, they could distinguish immediately, a Second Lieutenant rank doesn't have a stripe!!!
The day I graduated from the Academy, I received a permit to visit my family in Đồng Hới for a week, before attending the basic Transportation course (Stage du Train de Cap Saint Jacques) in Vũng Tàu.
In Vũng Tàu, we were assigned a large villa for eight Cadet Officers to temporarily reside, in order to attend the training course.
Memoirs of the Nguyễn Family
I specialized in the Army branch and was issued two "command cars" with Moroccan drivers to facilitate movement.
The one-month training period quickly passed, and we were transferred to Hanoi to attend the "Commandement du Train" course at Hồ Ha Le. The plane from Saigon to Hanoi made a stop at Đồng Hới Airport.
I had informed my family, and my wife and children (Thường, Hương, Tuấn) came to Đồng Hới Airport to welcome me. We had a brief reunion before I had to board the plane again to continue on to Hanoi. Upon arriving in the thousand-year-old capital, we were
We temporarily stayed at the Hà Nội Officers' Club, near the Septo stadium.
There, we met senior officers, including Captain Tôn Thất Đính and Captain Lữ Lan. Lữ Lan, who was lying in the bed next to me, complained to me, saying "In this promotion cycle, Tôn Thất Đính is on the list to be promoted to Major. They forgot about 'moi', it's really unfair."
I remained silent and didn't express my opinion, because as a newly graduated Lieutenant, a "shave tail", I didn't dare to think about such high-level matters. Moreover, every night, there was Lieutenant Phan Đình Niệm, who later became Brigadier General and Commander of the 22nd Infantry Division, I don't know which unit he belonged to at that time.
There was a unit in Hanoi that often brought a jeep to take us on a tour of Hanoi at night. Lieutenant Phan Đình Niệm was very kind and charming, he said, "You guys are from the central region, you don't know much about Hanoi, I'll guide you around so you can get to know the place."
During my time training here, I met a few classmates from the Paratrooper unit who were also transferred here to jump into Dien Bien Phu, which was in a state of turmoil at the time. They included Lieutenant Phạm Văn Phú (who later became Lieutenant General and Commander of the 2nd Corps), Lieutenant Hiệp (who later became a Colonel in the Special Forces), and several other classmates.
Memoir of the Nguyễn Family
The time I spent training in Hanoi was all too brief. It seemed like just the other day, I had stepped off the airport tarmac, and now I was being driven back to the city by the airline's vehicle. I'd like to take a moment to share a amusing story.
It happened that very afternoon, when I had to rent a room at a hotel in the city to stay overnight. Something funny occurred at the hotel. The hotel manager, a man I estimated to be over 50 years old, asked me: "Sir, are you planning to marry a younger sister tonight?" I was taken aback by the question and honestly replied: "Thank you...
"Uncle, I'm already married," I said.
The manager knew I had misunderstood his question, so he called in a group of beautiful and attractive girls to introduce themselves, and told me to choose one to my liking for the night. Each of them was stunning and sexy, but since it was my first time encountering such a situation, I finally understood the manager's question, and I was too scared, so I declined immediately, citing the reason that I was too tired from the flight.
The next day, I had to hastily pack my luggage to report to the Hà Nội Garrison, and then move to temporarily reside at the Officers' Club on Septo Sports Field, as I mentioned earlier.
Every day, just like in Vũng Tàu, the French Military Transportation Command in Hà Nội sent two "Command Cars" to pick us up and take us to the Command Center for our branch training course. Later, on these same two "Command Cars", we were taken to Hải Phòng to attend a technical class and practice unloading cargo at the dock.
Thanks to these two "Command Cars" being placed at our disposal, we had a means of transportation to go wherever we wanted. One time, we went to Đồ Sơn beach, a very beautiful beach in the north. From Đồ Sơn, looking northeast, we saw the stunning scenery of Hạ Long Bay, a breathtaking and romantic landscape beyond everyone's imagination.
Memories of the Nguyễn Family
We hope to have the opportunity to return to this poetic and scenic place. However, we don't know when we will have that precious chance.
F, Transfer to the Transportation Unit:
After completing the transportation branch training, we went to the Military Region 3 Command in Hà Nội to receive our assignment orders, each person going their separate way. I was transferred to Military Region 2, placed under the command of the 2nd Transportation Company, stationed at the inner city airport of Huế, led by Captain Trần Văn Xội.
I was made a Company Commander.
After reporting for duty, I was ordered to Đồng Hới, to serve as a Platoon Leader of the 3rd Transportation Platoon, replacing Second Lieutenant Nguyễn Phu. The reason was that this platoon was under the operational control of the Đồng Hới Sector, which was commanded by the French army at the time. Second Lieutenant Phu was weak in French, so the Sector requested that the Company provide an officer proficient in French to facilitate the receipt of orders from the Sector during logistical and tactical movements within the Sector's area of operation.
After staying in Huế for two days to gather information and collect data on the personnel and equipment of the 3rd Transportation Platoon, as well as the difficulties they were facing, I asked Captain Trần Văn Xội, the Battalion Commander, to be assigned to the 3rd Transportation Platoon as soon as possible. Captain Xội was very impressed by my enthusiasm, unaware that I was eager to return to my family, who were living in Đồng Hới at the time. I had three children then: Thường, who was 4 years old, Thanh Hương, who was 2 years old, and Tuấn, who was newly born. My wife and children were anxiously waiting for news from me and looking forward to my return.
G, To the Transportation Platoon:
Memoirs of the Nguyễn Family
The plane landed at Đồng Hới Airport, and I was greeted by my platoon, who escorted me home to my family. After resting for two days, I, along with Second Lieutenant Phu, reported to the District Tactical Headquarters, which was then headed by Lieutenant Brass. We then proceeded with the handover of duties.
In the 3rd Transportation Platoon, we had a French Sergeant serving as an advisor. Despite being an advisor, I assigned him to work directly with the 4th Department to inform me of the transportation operations that the department had planned in advance. I let him know that I was a Transportation Officer trained in the French military academy, and therefore, I was well-versed in the techniques and regulations of transportation.
I understood.
I was a real "training officer", I didn't need his advice. Moreover, he was just a Non-Commissioned Officer, only knew how to implement but didn't know much about theory. This Sergeant often bullied Lieutenant Phu because Lieutenant Phu couldn't answer in French, he just kept silent, so he often took advantage of him. But with me, it was different. I worked according to the rules, if there was anything wrong, I corrected it immediately, so he had a lot of respect for me. He didn't dare to be rude or come late and leave early like before.
According to transportation techniques, when moving logistics at the platoon level, the Platoon Leader of Transportation would sit in the lead GMC vehicle to guide the convoy. On the other hand, when moving tactically, the Leader of the platoon would sit in the last vehicle to control the movement of the entire unit.
The military convoy would ride in the lead vehicle and the Head of Military Transport would ride in the second vehicle.
During a military operation in the An Lão region, Lieutenant Lê Dương's battalion had taken over all the front seats and forced the Military Transport Team Leader to sit in the last vehicle.
I was reported this incident by the Team Leader. I immediately intervened with the Secteur and with Lieutenant Lê Dương, the Battalion Commander. The matter was adjusted and the rules were enforced. Lieutenant Lê Dương apologized to me.
On another occasion, when my platoon was withdrawing to Hòa Luật Nam to receive supplies sent from Huế for the battalion,
Memoirs of the Nguyen Family
The 4th Zone's Headquarters had no laborers to unload, and instead ordered the convoy drivers to do the unloading. This was a task that the 4th Zone's Headquarters often assigned to the Transportation Platoon.
I was present during that convoy. I was surprised and gave an order in French, intentionally so that the staff of the 4th Zone's Headquarters in Dong Hoi could hear. "À mon ordre, tous les chauffeurs au repos!" (By my order, all drivers take a break!) And so the drivers went to rest.
The staff of the 4th Zone's Headquarters were shocked and quickly reported to Lieutenant Brass, the Head of the 4th Zone. He hurriedly came to meet me and begged. I told him that "The drivers are tired from driving,
"We're exhausted from driving up from Đồng Hới, and now we're being forced to work as laborers loading and unloading cargo. If an accident occurs along the way, who will take responsibility? Moreover, according to transportation regulations, drivers are never supposed to handle cargo loading and unloading." He acknowledged the mistake of Room 4 and "asked for help this time because there are no laborers available for hire here, and if we're delayed until nightfall, it will be very dangerous, and we might be ambushed by the Viet Cong."
Faced with this forced situation, I gathered the drivers and "requested that you all help Room 4 this time, because if we stay here for long, the situation will become dangerous. I promise and guarantee that this will not happen again as long as the 3rd Transportation Platoon is under my command."
From then on, the 3rd Transportation Platoon was respected by the 4th Department, no longer being bullied, intimidated, or exploited as before, and within the Platoon, my comrades were very enthusiastic under my command.
During my time working in Đồng Hới, the 3rd Transportation Platoon was listed as a top unit in terms of technical work and discipline, and its achievements were recognized. The Sector Commander awarded me the French Army War Cross with a silver star (Médaille Croix de Guerre avec l’étoile d’argent). In fact, throughout my military career, I had dedicated all my mind and energy to the country, so I was often rewarded accordingly... this was a merit.
Memories of the Nguyễn Family
I recall the situation of a convoy I commanded on a march in the Hoàn Lão region. As soon as we had disembarked, our troops were standing on the national highway in front of the Hoàn Lão outpost when they were ambushed by the Việt Minh, who fired intensely at us. The bullets hit the earth mounds, sending dust flying everywhere, but miraculously, no one was hit. Luckily, if we had been just one meter to the right, we would have been wiped out. I quickly jumped behind the earth mound. Thank God, I escaped by the skin of my teeth.
H, The story of my wife's illness before evacuating to Huế:
July 20, 1954, was the day the Geneva Accords were signed, dividing the country in two.
In Vietnam, at the 17th parallel, right on the Bến Hải River, in the northern part of Quảng Trị Province. It was truly difficult during those days when we were stationed in Đồng Hới. My wife, Hạnh, was suffering from a swollen breast, like an abscess. Her breast was red and swollen, causing her immense pain. I wondered if it was breast cancer like the kind found in the United States today? Following the advice of the villagers in Tam Tòa, we invited a traditional healer from the nearby village of Phú Ninh to treat her. The healer brought a large metal rod, about half the size of a chopstick. He heated the rod until it was red hot, then inserted it deep into her breast. There was a loud hissing sound. My wife was in severe pain, but she endured it.
She had to endure the pain. The pus flowed out through the needle hole. Although it was painful, my wife felt relieved because the pus had been drained from her chest. After the pus had stopped flowing, the doctor inserted a piece of cotton yarn into the breast through the needle hole, pushing a significant amount of the yarn into the infected area. He then left, saying he would return in two days to remove the yarn.
As promised, he returned and pulled out the yarn, bringing with it the remaining pus that had not been fully drained two days earlier. The doctor then applied a black ointment to the needle hole on her breast, and she was cured. The doctor only charged $5.00, and my family gave him a liter of fine wine as a token of gratitude. Thanks to this, my wife was able to recover.
Memoirs of the Nguyễn Family
I was preparing to take my family to Huế by sea on an LCU, as I didn't want them to travel by road with my convoy, fearing VC ambushes along the way. Although my convoy was only carrying a small amount of supplies and was heavily escorted.
As my convoy crossed the Quán Hàu ferry, the French Engineers towed the ferry out to sea, heading south of the 17th parallel, and then disappeared, leaving us unsure of their destination.
One thing I want to mention here is that when my convoy moved into Huế, many of our countrymen in Đồng Hới town and the entire village of Tam Tòa had already migrated south by all means.
Dogs, cats, and all the domesticated animals (chickens, ducks, pigs, goats, cows, etc.) that had no owners were roaming the streets in search of food. Inside the houses, furniture such as tables, chairs, beds, and cabinets were left behind intact. There were even beautiful black lacquer salon sets with inlaid mother-of-pearl and many other valuable items that our compatriots were unable to take with them. Tam Tòa village was like a ghost town, devoid of any human presence. And yet, my convoy, instead of heading back to Huế, only had five GMC trucks that withdrew with a small amount of military equipment.
In reality, at that time, people were in a state of panic and disarray, and no one was attached to material possessions anymore. Everyone was only concerned with escaping and saving their own lives, as everyone feared the communist regime.
When my family arrived in Huế, we were welcomed by the wives of the officers in
The 2nd Transportation Battalion gave us a warm welcome. They took us to a spacious room at the 2nd Transportation Battalion's Club, located inside the Imperial City of Huế, to rest.
We were provided with ample supplies and taken care of properly. This was the general plan of President Ngô Đình Diệm's government at that time. Later, when I led the convoy into the Battalion within the Imperial City of Huế, the officers and their families scolded me, asking why I had let my family travel by water without notifying the Battalion so they could prepare a more proper welcome. I laughed it off: "We were lucky to have escaped to a free land, what's the need for a formal welcome?"
Memoirs of the Nguyen Family
Some time later, I bought a thatched house with earthen walls from Sergeant I Chung, located near the Battalion, inside the Hue Citadel. The house was tidy, although a bit narrow. It was there that my wife gave birth to our fourth child, Nguyen Thi Thanh Hai.
At that time, my wife didn't want to go to the hospital because it was too far. So, we had to invite a midwife to come to our home. It was I and the midwife who took care of my wife's delivery, as there was no one else in the house. Our three older children were still too young and were boarding at a school run by the Soeur in black habits of the Kim Doi order in Truoi. At that time, we had two female helpers in the house, but they only took care of external chores. Everything was well taken care of, and my wife had a smooth and successful delivery. Thank you.
Lord. It wasn't until after the birth that we let the children go home.
Regarding the business of uncle and aunt Minh at that time, it was very prosperous, but because they needed more capital, uncle asked my wife and me to help them develop their trade. We discussed it together, felt sympathetic towards my younger sibling, and helped uncle Minh borrow a large sum of money, which could have bought nearly 600 taels of gold at that time.
Later, my wife continued to contribute capital, and by April 1975, the amount had grown to nearly four million. Due to the intense circumstances at that time, uncle had to pay it back, adding to the three and a half million from the sale of my villa in Da Nang. In the end, it was all for nothing, as no gold could be bought to secure our well-being, because on the final day, the money became worthless.
Everyone stored gold!
When I settled in the United States, the price of gold plummeted. Seeing the gold price drop, and since I was planning to buy a house, I had to sell all the gold to Uncle Minh. It wasn't until a few years later that I found out the gold price was rising, and it was increasing frighteningly. Indeed, my luck was unfortunate, and I didn't know how to seize opportunities to make a profit from cash…! I was just a soldier. Every month, I received my salary and focused on my national duties; I didn't have a deep understanding of business and investment, weighing the pros and cons.
In early 1976, when my wife was still alive, I was in Washington DC helping Uncle Minh with his work, and I received
Memories of the Nguyễn Family
I received a letter from my wife saying: "In Vietnam, you went to war, leaving your mother and child at home alone. Now that you're in America, you're again leaving your mother and child behind to go far away. Please come back and take care of the family."
I didn't know what had happened, but my wife's letter seemed resolute. I told Uncle Minh that I had to go back to see what was going on, and then I would come back right away. Although he didn't want me to go because we were short-staffed at the store at the time, I still decided to leave, and I went to the bus station to buy a ticket back to Springfield, MO, to save money on the expensive plane ticket.
That was a sign that my wife was about to fall seriously ill, because two days after I arrived home, my wife suffered a "stroke" (a cerebral hemorrhage).
and two months later (May 7, 1976), she took her last breath.
What I want to say here is that when my wife passed away on May 7, 1976, at around 3 am at Springfield MO Hospital, my family was very lonely. Because in the city, it was just us, no relatives, and while my children were mostly still young.
Incidentally, I also want to mention something that I am deeply moved by. That is, the family of Uncle and Aunt Toàn came to us during this difficult time, even though they and their grandchildren had just driven back from a trip to Washington D.C.
That night, upon hearing my sad news, Uncle Toàn immediately
They drove to Springfield immediately, even though baby Út Ụt was just born and still very small, and my sister-in-law was still weak after giving birth. Yet, brother Toàn and his wife still made the effort.
Additionally, there was the family of brother and sister Thạch (brother-in-law and sister-in-law of Toàn) from Denver, who bravely drove their old Vega to Springfield, MO, to mourn with my family. Looking at the car, looking at them and their children, I was deeply moved.
All I can do is express my gratitude and ask God to reward them abundantly. I wanted to treat them and their children to a grand feast to show my appreciation and thanks.
Memoirs of the Nguyễn Family
But look, my wife was still lying there, the funeral had not been held yet, how could we possibly have a celebration to mark our reunion...
So I had to swallow my pride and sincerely thank the family of Uncle and Aunt Toàn, Brother and Sister Thạch, and the children, as well as our relatives and friends who came to bring us valuable comfort during the most difficult time for my family, when we had just started our new life in a foreign land. Uncle and Aunt Minh were busy with their business and could not attend my wife's funeral, despite my great expectation.
I, The Ups and Downs in the Military:
July 20, 1954, was the day the Geneva Agreement was signed, dividing Vietnam at the 17th parallel, right at the Bến Hải River, on the northern part of Quảng Trị Province. It was a difficult time, as my Transportation Platoon was working in Đồng Hới. However, thanks to the dedication of the French Army in protecting the transportation routes, we were able to move to Huế safely.
After a period of temporary rest and recuperation in Huế, we received orders to transport Infantry units to take over Tam Kỳ and Quảng Ngãi. When our Platoon arrived in Tam Kỳ, we were ordered to set up camp at the stadium.
The local residents saw the convoy and initially stood far away, but as they became more familiar, they approached the vehicles, touching and exclaiming: "Mèng đất, quỷ thần ơi! The vehicle is made of iron, but they said it's made of paper!" The locals meant that the Viet Cong had spread propaganda that the vehicles of the enemy army were made of paper. Additionally, on the stadium grounds, the Engineering Corps built a long runway for the observation plane, nicknamed "bà già," to temporarily land, as there was no airport yet. When the plane landed, the locals ran to touch the pilots and ask them questions. When the pilots asked in Vietnamese, "What do you want to touch us for, aunt and uncle?" the locals finally realized that the pilots were Vietnamese. "But they said the plane was flown by Chinese people," they exclaimed.
Memoirs of the Nguyen Family
At this time, on the Ve River in Quang Ngai, a cruel and unusual incident occurred. A married couple's jealousy had reached an extreme level. One night, while everyone was asleep, a man's desperate cry for help echoed through the air: "Save me!"
The sentry sounded the alarm, and the soldiers rushed to the scene where the cry for help came from. A horrific sight unfolded before their eyes: a man had been completely severed from his genital area, blood was splattered everywhere, and he lay there screaming in agony.
Next to him was the woman, his wife, holding a sharp "dao cau" knife, her hands also covered in blood. It turned out that the woman had been consumed by jealousy towards her husband and, in a fit of rage, had cut off his genital area with the knife that night.
the husband's genital area. It wasn't just a matter of cutting off the penis, but also cutting off the entire groin area.
Everyone said that this woman was cold-blooded... when she was overcome with jealousy, she was excessively cruel. The man was rushed to the nearby Military Hospital to stop the bleeding and receive bandages. The woman was arrested, and the next morning, she was paraded around the village, wearing the husband's genital area around her neck, which she had cut off the night before. She wore it dangling from her chest, marching through the streets of the village. I don't know what happened later with the treatment and trial, because I had to return to Hue due to my duties.
Some time later, I was ordered to hand over the 3rd Transportation Platoon
for another officer. At that time, Captain Trần Văn Xội was ordered to be transferred to Cầu Hai to become the Commander of an Infantry Battalion. Not long after, he was transferred again to Sài Gòn and promoted, and he commanded the Military Transportation sector (later known as Quân Vận) of the National Army of Vietnam.
I was promoted to Lieutenant as of January 1, 1955, and was assigned as the Deputy Company Commander and also as the Officer in charge of Finance and Accounting for Unit 1 Transport, which means I was the officer responsible for the financial matters, including paying salaries to military personnel of all ranks in the unit. In other words, I was the accounting and finance officer, tasked with managing and disbursing funds to the soldiers.
Memories of the Nguyễn Family
This task was quite complex and dangerous. Once, I had forgotten a briefcase full of unpaid salaries under the office desk and went home. Luckily, Sergeant Nguyen Khoa Sanh, the head accountant, saw it and quickly brought it to my house. Those were genuine, loyal, and virtuous soldiers. If I had unfortunately encountered some rascals, my life would have been ruined! I thank God and also want to thank Sergeant Nguyen Khoa Sanh.
BECOMING A BATTALION COMMANDER:
The country was divided into two at the 17th parallel (Bến Hải River,
Quảng Trị. Some units stationed in the north were withdrawn to the south of the 17th parallel. A Signal Battalion belonging to Military Region 3 (Hà Nội) was moved to Huế and stationed at An Cựu. This Signal Battalion was transformed into a Transportation Battalion.
I was appointed as the Commander of this Battalion and it was renamed the 251st Transportation Battalion. The reason why the Signal unit had to be transformed into a Transportation Battalion was that the former Signal Corps had the task of coordinating communications within the Army, but with the reorganization of the Army according to the organizational concept of the US Army, the communication task (traffic control) was transferred to the Transportation Corps.
(the circulation) had to be handed over to the Military Police. During this time, I encountered three difficulties within the unit:
a. The Former Soldiers from the French Army who transferred over:
Some of the brothers who transferred from the French Army to the Vietnamese Army showed stubbornness and did not obey the orders of the Vietnamese commanders. I explained the transfer of branches and the discipline of the Army, but they did not follow the discipline correctly. I was forced to report to the Commander of the Military Region, who at that time was Lieutenant Colonel Lê Văn Nghiêm, and presented all the difficulties within the unit. The Commander instructed me: "Lieutenant, go and make a list of the 'undesirable' soldiers and submit it to me.
Memoirs of the Nguyen Family
were handed over to me, within 24 hours, I would be transferred to a combat unit". Some were indeed transferred as the commander had promised. The disciplinary situation and order were immediately restored, and the unit continued to progress in its reorganization.
b, Can Lao Party:
A small number of brothers in the unit were Can Lao Party members, often making demands for this and that, causing difficulties for me in making command decisions. Moreover, due to their limited understanding, they thought that being a Party member gave them the right to interfere with the unit's command and control, especially by intervening and issuing direct orders.
for the various departments within the Unit.
At that time, I didn't know anything about political parties, especially I didn't follow or learn about what the Cần Lao Party was. However, I knew and was close to Nguyễn Văn Châu, from Vĩnh Phước, Quảng Bình. He was a powerful figure in the party at that time. I went to the Command Office to meet Brother Châu and presented the situation that occurred in my unit. Brother Châu asked me: "Hey, you haven't been a member of the Cần Lao Party all this time, have you?" I was surprised and replied: "I don't know anything, I'm a pure military man, no politics whatsoever."
So Brother Châu picked up the phone and called the 251st Transportation Battalion,
and met with Comrade Secretary Can Lao at the unit. Comrade Chau instructed: "You all must be careful, Lieutenant Thong is one of our own, every move must follow Lieutenant Thong's orders."
I returned to the unit, and I saw some comrades gathering and presenting themselves to me: "Lieutenant, we were mistaken because we didn't know, please forgive us, from now on we are happy to be under your leadership." I was taken aback because I didn't understand what the comrades were trying to say. I only knew that it was the result of Captain Chau's order. But I also sympathized with the comrades, ordered them to disperse, and tried to set a disciplinary example for the other comrades in our daily work. From then on, the comrades
Memoirs of the Nguyễn Family
The work within the unit proceeded smoothly, without the troubles that existed before.
c. A small obstacle:
When Captain Trần Văn Xội had designated me as the Commander of the 251st Transportation Battalion, a copy of the notification had been sent to the Military Region Command. A short time later, Captain Xội changed his mind and wanted to appoint Captain Nguyễn Văn Tự as the Commander instead of me. The situation became complicated because the Military Region had just issued an order appointing me to the position of Commander of the 251st Transportation Battalion. However, being under the jurisdiction of the Military Region, I was forced to comply.
I reported to Lieutenant Colonel Lê Văn Nghiêm about the situation where the Headquarters of the Signal Corps planned to send Captain Nguyễn Văn Tự to take over my position as Battalion Commander. Lieutenant Colonel Lê Văn Nghiêm, the Commander of the Military Region, replied to me: "Captain, just return to your unit and focus on reorganizing and commanding your work, if Captain Tự comes here, I will transfer him to another unit."
I quickly bid farewell and immediately informed Lieutenant Trần Văn Xội, and afterwards, all intentions to replace me were cancelled by the Headquarters of the Signal Corps.
d, Promotion to Captain:
In early 1956, I was honored to be promoted to Captain, while still
I held the position of Commander of the 251st Transportation Battalion, a newly established unit. After a year of effort, we had formed a complete battalion, from the barracks to the personnel and transportation equipment. As a result, the new unit had a relatively modern appearance, from its form to its techniques. My family temporarily resided within the unit, in a beautiful villa with all the necessary amenities. It was in this villa that my daughter, Nguyễn Thị Mỹ Hằng, was born in 1957.
During my time as Commander of the 251st Transportation Battalion, I don't know why, but I suffered from overall weakness (Faiblesse générale), becoming frail and pale. Perhaps I was overworked? One day, a priest came to visit me.
Memories of the Nguyễn Family
One day, I complained to him about my lack of energy. He immediately suggested to me, "How about Captain buying a female goat that has just given birth, with plenty of milk. Every day, just drink a glass of fresh goat's milk in the morning, I guarantee that Captain will regain his health right away!"
It was relatively easy to find a newly delivered female goat, as my convoy was working daily in and out of Quảng Ngãi. So I had someone buy a female goat that had just given birth to two kids. Every night, I had to lock the mother goat in a cage (iron mesh) while the two kids stood outside. This way, the kids and the mother goat were close to each other, without crying.
The goat's kid couldn't nurse, so in the morning, I would milk the mother goat. The mother goat's udder would be full and swollen, and if I milked it completely, I could get about four liters of milk. However, I would only milk about a liter, leaving the rest for the two kids to nurse.
At first, drinking the goat's milk was difficult, the smell was pungent and unpleasant. Nevertheless, after drinking it for a few mornings, I got used to the smell and even started to enjoy it. Just a month later, I noticed a change in myself, my skin was rosy, and my health had improved. Little Hằng was still young, and whenever she saw me drinking the milk, she would ask to drink it too, so afterwards, she became chubbier and healthier than her siblings. As for Thường, Hương, Tuấn, and Hải, they refused to drink it because they said the milk smelled bad. I regained my health from that time on.
and I remain healthy to this day.
In 1956, my name was included in the list to study a specialized course in Military Transportation in France (Commandement du Train à Tours), but because I was busy with my new unit, Captain Xội told me to continue with my work and that I would go for studies the next semester. However, afterwards, the Train courses in France were cancelled and replaced with Military Transportation training courses in the United States.
In 1958, I handed over the 251st Transportation Battalion to another officer to transfer to Sài Gòn and attend the Vietnamese-American English Language Course, in preparation for studying in the United States. It was during this time that I bought land and built a house in Phú Nhuận, on Trương Tấn Bửu Street.
Memoirs of the Nguyễn Family
An unfortunate event occurred, which was the period of the Model Division's experimentation. Major Trần Văn Xội again nominated me to go to Biên Hòa to become the Commander of the Model Transportation Unit for experimentation. Mr. Xội said that I was an officer with experience and capability, able to complete the task assigned by the General Staff.
I tried to request Major Trần Văn Xội to be exempt from this task, but to no avail. On the contrary, Major Xội tried to persuade me to make an effort to establish the experimental unit from the beginning. When the order to study in the United States arrived, someone would replace me. So, I had to pack my bags and head to Biên Hòa.
I would like to open a parenthesis to note that during this period, the political situation was somewhat turbulent. Buddhist monks often sat in protest in Bồng Binh market in Saigon, or gathered a large number of Buddhist followers in temples to give sermons and stir up sentiment, especially at Ấn Quang temple on Sư Vạn Hạnh street.
One day, as I was heading home to Phú Nhuận, I turned into the alley where my house was on Võ Tánh street, and I ran into Hàm. Hàm was a emissary for Quảng Bình province during the time of Province Chief Nguyễn Hữu Nhơn. I was acquainted with Hàm because he often brought documents to the Đồng Hới Security Bureau, and I was the clerk who received and forwarded the documents. As a result, every time he brought documents over, we would chat and catch up. Since he lived on the provincial road, he would often stop by my house whenever he had business in the area.
I heard many strange stories from Hue.
Hàm was a personal servant of the late Provincial Governor Nguyễn Hữu Nhơn, who had a first wife in Lệ Thủy. The governor often told Hàm to serve him well, and he would give his daughter's hand in marriage as a reward, since he had an older daughter with his first wife in Lệ Thủy. At that time, the governor lived in Đồng Hới with his younger wife, who was still very young, probably around Hàm's age or slightly younger.
One day, the Provincial Governor went on an inspection tour to Phủ Quảng Trạch, and on the way to Minh Lệ, he and the District Chief Nguyễn Hữu Cảnh were ambushed and killed by the Viet Cong. After the funeral, the governor's younger wife and Hàm eloped together.
Memoirs of the Nguyen Family
It's said that afterwards, he applied to work as a police officer for the Quảng Trị Police Department, but was fired due to his involvement in the sale of camellia oil in Bến Hải.
I invited him to my home, and we drank beer, reminiscing about old times. I asked, "What brought you to Sài Gòn?" He replied, "I'm here to study English," and advised me to learn English well because the Americans would soon be coming to Vietnam. This was around early 1959, before I went to the US to study.
Time passed quickly, and the testing for the Model Division was also nearing completion. I was designated to complete the procedures for going abroad to the United States in mid-1959 to attend the "Basic Military Leadership" course.
and attended the Transportation and Battalion Commander Course in the same field.
After completing the course in early 1960, I returned to Vietnam and was appointed to the QLVNCH Military Transportation School, where I took on the role of Director of Military Training of the school. During this time, Lieutenant Nguyen Cong Sum underwent specialized training in the Military Transportation Branch and graduated at the top of his class (later, Sum became a son-in-law to Thuong, my son).
Also during this time, I returned to school to pursue cultural studies, taking exams for the baccalaureate degree and later enrolling in specialized university courses.
My family lived in a house we built in Phu Nhuan. My wife
My wife showed signs of pregnancy after about two weeks. One day, she tried to carry a pot of flowers from the lower floor to the upper floor in front of the second-floor stairs. Because it was too heavy for her, she had a miscarriage. My wife didn't feel tired at all, but I made her rest for a few days to recover. Also during this time, little Thanh Hài, who was over 3 years old, was running up and down the stairs playing, slipped, and fell down the stairs, hitting her head and bleeding. The whole family was shocked. We had to rush her to Grall Hospital for emergency treatment. After taking X-rays, fortunately, she only had a swollen head and didn't have a skull fracture or any broken limbs. From then on, Thanh Hài was no longer daring to run and play on the stairs.
Memories of the Nguyễn Family
Also during that time, Nguyễn Đình Tuấn, who was over 6 years old, liked to play by holding a live electrical wire and plugging it into various outlets. He had been scolded many times, but still continued to play like that. One day, while playing with the wire, he got electrocuted and let out a loud cry. From then on, he never dared to play with the electrical wire again.
In 1960, we had another son named Nguyễn Đình Tiến, born in Sài Gòn.
Moving to Đà Nẵng:
1. Transferring to Đà Nẵng: I was in the middle of my cultural studies when I received orders to transfer to Đà Nẵng.
In 1961, I was transferred to Đà Nẵng. Fortunately, at Đà Nẵng, Sao Mai High School had night classes, so I could continue taking philosophy classes there. A coincidence occurred. One day, after my philosophy class, Professor Trần Văn Giàu stopped me and asked, "Captain, do you remember me?" I was still wearing my uniform to school, to be ready for any emergency. I was taken aback and didn't know who he was. The professor told me that he was the son of the woman who sold goods at the Club in the Danh Honor Battalion, part of the Central Vietnam Defense Ministry. I suddenly remembered and exclaimed, "Ah, you're Anh Cháu! I didn't recognize you because it's been nearly ten years. How are your parents doing?
"Now they're all grown up and talented, how could I possibly remember?"
It so happened that in 1951, when I was still working at the Võ Phòng Thủ Hiến Trung Việt as I mentioned earlier, I often went to eat at the Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn Danh Dự where Trần Văn Giàu's parents had a food stall. At that time, Trần Văn Giàu was known as Cháu, and after returning from school at Trường Pellerin, he would sit and study, while I would often draw and sometimes tutor him in French.
Back then, I was the commander of the 10th Liaison Battalion, stationed next to the Sao Mai Catholic High School. I had to bring my family to Đà Nẵng with me. Also living there were the family of Lieutenant Ngô Văn Phát to my right, with his wife and children Diệp, Yến, Long, Trinh…, and Lieutenant Vinh's family to my left, with his wife and children.
Memoirs of the Nguyễn Family
Our children, Hương, Thủy, Hùng, Tuấn... The kids from our three families were very close, from cooking together to carrying tables and chairs to create a stage for plays... My wife would often praise and tell me about the baking and dessert-making skills of Lieutenant Vinh's wife, as well as the delicious Southern dishes made by Lieutenant Phát's wife.
We had to rent out our house in Phú Nhuận. I rented it to the family of singer Elvis Phương at a reasonable price.
Incidentally, I'd like to add that in 1964, the situation in Đà Nẵng was very chaotic and unstable. My aunt and uncle Minh...
and the children had to flee to Sài Gòn. I had to reclaim the house that Elvis Phương's family had rented to provide temporary shelter for my uncle and aunt Minh's family. By 1966, the situation in Đà Nẵng had temporarily stabilized, and uncle and aunt Minh and their family returned to Đà Nẵng, while I was transferred back to Sài Gòn to attend an advanced course in the United States. At the same time, I moved my family to Sài Gòn as well.
During my time in charge of the 10th Liaison Battalion, my uncle and aunt Toàn, who were doing business in Quảng Trị, wanted to move to Đà Nẵng because the situation in Quảng Trị was becoming increasingly unstable. They asked me to help them find and buy a house in Đà Nẵng. Fortunately, in the Liaison unit, there was a Sergeant Bình who wanted to sell a house in Thanh Bình. I
immediately bought it for Uncle and Aunt Toàn. Afterwards, Uncle and Aunt moved to Đà Nẵng, lived there, and built a beautiful and luxurious villa next to the Têrêxa Maternity Hospital of Aunt Minh.
2, Battalion Commander of the 11th Transportation Battalion: In 1962, I was appointed to the position of Battalion Commander of the 11th Transportation Battalion and established this new unit. I had to hand over the 10th Liaison Battalion to Lieutenant Ngô Văn Phát. The difficult issue at that time was that we "had a name but no substance." In other words, although we had the title of the 11th Transportation Battalion, we didn't have a battalion headquarters. I contacted and reported to the Commander of the I Corps Transportation Command. This unit was responsible for providing a headquarters and accommodations for the battalion.
Memoirs of the Nguyen Family
We reported to him. After I presented myself and greeted Lieutenant Colonel Commanding Officer (LHL) in accordance with military protocol, I reported to him:
- "Respectfully, Lieutenant Colonel, I have received the order to establish the 11th Transportation Battalion, but we currently do not have a barracks. I respectfully request that the Lieutenant Colonel designate a barracks for our battalion, so that we can proceed with establishing the new unit."
Lieutenant Colonel Commanding Officer responded to me in an extremely irresponsible manner:
- "Oh yeah! As for your barracks, you need to go find one and submit it to me for approval. Do you think I'm going to go find one for you? This is my office, and you're going to come here and occupy it?"
I was fed up with the response and the way of working of the commander at that time, which showed that he didn't understand our duties at all. With military commanders like this, how can we make progress, how can our country not fall into the hands of the communists?
I replied:
- "Sir, the decision to provide barracks is your authority, moreover, the Headquarters of the Transportation Command (Real Estate Department) is the one that has the data to know the situation of the barracks. We, in the subordinate units, have no way of knowing the situation of real estate and barracks in the area. However, if you say so, I'll go and search for it myself and report back!"
I immediately withdrew, feeling dissatisfied. Captain CHTTV responded to me in a primitive manner, seemingly unaware of his own duties. Naturally, I also acted according to his rules and would report back to him for approval. If any consequences arose, I would simply carry out his orders.
I rushed to Phước Tường, where there was an empty plot of land from Ngã Ba Cây Lan to the Catholic parish of Father Ngạn. I decided to utilize this plot of land.
I mentally arranged the layout so that from the national highway looking in, the Battalion Command would be in the middle, with the 114th Transportation Battalion on the right.
Memories of the Nguyễn Family
To the left was the 115th Transportation Battalion. These were also newly established Transportation Battalions without barracks. I had to report to the Executive Officer of the 1st Corps Headquarters.
I presented my case in writing, asking the Major to issue a document approving my intention so that we could proceed. I only vaguely knew that this strip of land was public property, not private land belonging to anyone. The land approval process was complete, but where would we get the materials to build the barracks? This was a difficult problem. Meanwhile, the 1st Corps Headquarters did not provide a single piece of wood, a brick, a bag of cement, or any funds... to build the barracks of the 11th Transportation Battalion.
The 11th Transportation Battalion had the 112th Transportation Company stationed in Hội An, next to the Quảng Nam Province Headquarters, where Lieutenant Colonel Võ Hữu Thu served as the Province Chief.
The 112th Transportation Company had a very large barrack. Previously, the French Army had used it as a military vehicle repair workshop, but now the unit no longer needed the building. I negotiated with the Province Headquarters that I would relocate the building and return the empty land to the Province in exchange for 500 bags of cement to rebuild the house at Phước Tường.
Province Chief Võ Hữu Thu agreed, as the Provincial Road area was narrow and crowded, and now there would be an empty space to build additional offices for the subordinate agencies. He agreed in a very satisfactory manner.
They were overjoyed. I immediately proceeded with dismantling the barrack, returning the land to the Provincial Headquarters, and receiving 500 bags of cement in exchange. Additionally, our Transportation Battalion had some advisors who were understanding and sympathetic to the difficulties I faced in establishing the 11th Transportation Battalion. I asked them to procure the necessary wood for our construction project, and they responded to my request, facilitating the construction of our new barracks.
The work of dismantling the barrack, rebuilding, making bricks, extracting sand, and other tasks was overseen by Sergeant Xích and Corporal Heo under the direction of Lieutenant Phùng Hữu Niên, the battalion's adjutant.
Memoirs of the Nguyễn Family
At that time, Sergeant Heo was a skilled mason, very diligent in his work, with a gentle and obedient nature. He was also skilled in carpentry.
I was the one who drew the architectural plans for the Battalion Command and the two adjacent houses, which were the Command Centers for the two Transportation Battalions stationed in the same compound, named "Tây Sơn" Camp.
The name of the camp was also chosen by me and submitted to higher authorities for approval. I don't know how we were able to accomplish so much with just 500 bags of cement. We built all sorts of things, including...
The Battalion Office, the two Transportation Battalions' offices, the officers' transient quarters, the Battalion Club, the guard post, the flagpole, and so on, along with a large entrance gate and several other facilities for the dependents' quarters. The planning and design of the Tây Sơn camp's construction were entirely my initiative and self-sufficient effort. The I Corps Transportation Command at that time did not provide any assistance, despite it being their responsibility. During my early tenure as Commander of the 11th Transportation Battalion, my family still resided at the 10th Liaison Battalion, our old place when I was the Battalion Commander there.
Around 1963, the Army allocated some vacant land in Thanh Bình beach area. Since I didn't have a house in Đà Nẵng, I was allocated a plot. Behind my house was the home of Lieutenant Colonel Tôn Thất Xứng (who later became a general). To my right was the house of Captain Trương Trừng, and to my left was the house of Mr. Hạp. I heard that Mr. Hạp had bought the house from some officer. I designed my villa, which had three bedrooms, a bathroom, a dining room, and a spacious living room. Additionally, the house had a garage, a kitchen, a storage room, and a servant's quarters with a separate toilet outside. Above the garage was a rooftop terrace, an ideal spot to relax and enjoy the cool breeze blowing in from the sea.
Memoir of the Nguyen Family
The housing area at Thanh Bình beach was organized by me. From transporting rocks to pave the roads, naming the streets, to numbering the houses. The inner road, which is relatively high and near the Technical School, was named Thanh Sơn. Next to it was our house, named Thanh Long, and further down, the road that often flooded during the rainy season was named Thanh Thủy. This road had the house of Phùng Hữu Niên. The outer road, closest to the sea, was named Thanh Hải. It was Trương Trừng and I who named these streets and assigned numbers to the houses. As a result, it was easier to navigate, find homes, and deliver mail in the early days.
I don't know if the situation has changed now.
During our time in Da Nang, we had two daughters, Nguyen Thi Anh Hoa, nicknamed Be (August 1962) and Nguyen Thi Diem Ha, nicknamed Be (September 1964).
Diem Ha was born when we were living in a villa on Thanh Long Street, Da Nang. Both Hoa and Ha were born at the "Dưỡng Đường Thánh Phao Lồ Da Nang" maternity home. Mother Superior Saint Paul de Chartre advised the two girls to try to become nuns later on, and if they didn't, to at least strive to be kind and gentle.
In early 1965, the US Army poured into Vietnam, and I rented out my villa to a US media outlet.
I found another house for my family to live in, also nearby. During this time, Mr. Phi Long hinted that he wanted to sell his house to me, which I had previously introduced to my uncle Minh, as mentioned earlier.
In 1964, I was promoted to Captain, after the 1963 revolution, corresponding to the position of Battalion Commander of the 11th Transportation Battalion, which was later upgraded to a Transportation Group, where the rank of Group Commander had to be Major.
In 1964 and 1965, the situation in the country was very tumultuous in the Central region, despite the collapse of the Ngô Đình Diệm government. President Diệm and his advisor Ngô Đình Nhu had been killed by traitors.
Memoirs of the Nguyen Family
under the leadership, Dương Văn Minh was the one who ordered Mai Hữu Xuân, a French colonial secret agent, to carry out the task. Dương Văn Minh did it for personal gain. After killing President Diệm, Mai Hữu Xuân remained silent until his death.
In Đà Nẵng in 1964 and 1965, violent protest groups went out to find "Cần Lao" to settle scores. They killed a tailor, reportedly a Catholic, right in the middle of a street in Đà Nẵng. They continued to march down to burn and destroy the Catholic villages of Thanh Bồ Đức Lợi, seeking to eliminate Cần Lao. They believed that Cần Lao was synonymous with Catholicism.
A scene of chaos unprecedented in the town of Đà Nẵng, a place
This is where the 2nd Corps Headquarters was stationed. At that time, Major General Nguyễn Chánh Thi was the Corps Commander. I don't know why he remained silent in this matter?
At chú Minh's Đồng Khánh Hotel in Đà Nẵng, I had to assign a platoon with full armament to guard the place. A group of thugs wanted to break in and loot, threatening to burn down the hotel due to "oppressive labor". However, I ordered the guards to stand firm, and anyone who failed to follow orders would be shot immediately. As a result, they dared not attempt to rob the hotel.
Protests erupted in the streets everywhere, especially in Huế. The Buddhist movement brought altars out onto the streets, obstructing traffic and hindering military operations, inadvertently aiding the enemy.
The communist sabotage activities in remote and isolated areas. A troop from Quảng Ngãi poured into Đà Nẵng, apparently under someone's orders, with their arms wrapped in yellow bandages, claiming to be on a mission to rescue Buddhism, but were blocked by the Special Forces at the Cây Lan Intersection, and gunfire erupted on both sides. There were fatalities and severe injuries. They dragged themselves through our Battalion Headquarters.
When questioned, it turned out that these soldiers belonged to support units of the Quartermaster Corps in Quảng Ngãi, who had been incited to take up arms and set out, disregarding the danger, as they had prior combat experience. They had encountered the Special Forces, which were elite units.
Memoirs of the Nguyễn Family
During the war, when they encountered the enemy, the Regional Forces ordered them to return to their unit, but they refused to listen and resisted, resulting in them being killed or injured, which was a natural consequence, truly a regrettable thing!!!
In the following days, the situation was very tense. I authorized Captain Phùng Hữu Niên to handle the daily duties of the Battalion Commander, as I had to go to the airport via the western route to report to the Military Transportation Corps in Sài Gòn about the situation of the 11th Transportation Battalion. As soon as I arrived at Đà Nẵng Airport, I met Major Nguyễn Ngọc Loan and briefed him on the situation outside. When I entered the Đà Nẵng Air Force Command, I met a monk from Sài Gòn who had come to resolve the dispute between
the government and Buddhism.
Looking closely at this monk, it turned out to be Anh H. Could it be that Anh H., my former friend who used to work as an aide at the Quảng Bình Province Headquarters, was now representing the Central Buddhist Church in Đà Nẵng to resolve the Buddhist issue in Central Vietnam? When did he become a monk, and why was he wearing yellow robes?
I asked Lieutenant Colonel Nguyễn Ngọc Loan again to confirm, and he said bluntly that the man was "that H. who smuggled oranges in Bến Hải, Quảng Trị, not anyone else!" While the man's real name was Thượng Tọa T.N.T!
Oh dear! I wanted to talk to him, but his demeanor was like that of a genuine monk, sitting still and un-moving.
like a wooden statue, his eyes fixed intently on the table, like a sage deep in thought, how could I initiate a conversation with him?
Colonel Nguyen Ngoc Loan ordered me to stay at the airport and requested that I provide transportation for the central government's troops when needed. The airport gates had been blocked. Nothing could go out, and nothing could come in. I still maintained contact with the Battalion via telephone and the handheld SPR transmitter.
As the situation became increasingly tense, the government took drastic measures, removing all obstacles erected by the opposing Buddhist group.
Memoir of the Nguyen Family
It should be noted. After General Tôn Thất Đính took command of the I Corps, the situation in Da Nang became relatively stable. The airport gates were opened, and I returned to my unit under the orders of Lieutenant Colonel Nguyễn Ngọc Loan.
One day, Lieutenant ĐĐC, an officer from the Battalion Staff, came to see me and said, "Major, don't worry, I can say that I am the right-hand man of Venerable Thích Trí Quang (the leader of the opposition group), if anything happens, I will always be by your side."
I replied, "Thank you, Lieutenant, actually, I am not opposed to anyone, and I don't have any disputes with anyone. I just carry out the orders of my superiors."
"just doing their assigned tasks."
Enjoying the conversation, Lieutenant C. also told me, "Venerable Thích Trí Quang often met with young people, youths, and girls. He would suddenly call a bun bo Hue vendor to come and feed the young friends, and he would eat too, everyone saw." He continued: "I don't know what precepts he was following?" I just listened and smiled without expressing my opinion.
The government troops advanced to Hue and Quang Tri, and all resistance quickly dissipated.
12. STUDYING AT THE ADVANCED MILITARY TRANSPORTATION COURSE IN THE UNITED STATES:
After the Buddhist crisis in Central Vietnam and the situation had relatively stabilized, in 1966 I was transferred by the Military Transportation Bureau to Saigon to prepare for advanced studies in the United States, attending the Transportation Advanced Course and the Advanced Defence Traffic Management Course.
While waiting for my departure, I was reassigned to the Central Army Headquarters of the Railway Command. The time spent working here was truly hectic. The office was located at the Central Railway Headquarters, in the heart of Saigon, convenient for shopping, entertainment, and dining.
Memoirs of the Nguyen Family
My family had also moved to Saigon by then, as mentioned earlier, and my uncle Minh's family had returned to Đà Nẵng because the security situation had improved and order had been restored.
After the 1967 Lunar New Year, I prepared for my physical examination, had my clothes tailored, and got ready for my departure to the United States. It was during this year that my wife gave birth to a baby boy, whom we named Nguyễn Đình Thọ (nicknamed Cu Tèo).
I departed for the US in April 1967. As before (in 1959), we went directly to the US Army Transportation School at Fort Eustis, Virginia. In this course, we
I was allocated a budget by the Ministry of Defense to go on a tour to visit important places and famous landmarks, such as visiting New York City, Niagara Falls, Buffalo City, Denver City, the Air Force Academy of Colorado Springs, and so on.
During the tour, we were invited to have dinner with the Mayor of Niagara Falls City. Through our conversation during dinner, I found that the Mayor had very little understanding of the Vietnam War. His views were very vague and misguided, influenced by communist propaganda and anti-war activists. I regret that my English at that time was not proficient, especially when it came to political issues, so I couldn't explain things thoroughly and clearly to help him understand the situation properly.
Because our course lasted from 1967 to 1968, during the Communist enemy's Tet Mậu Thân offensive in 1968, we were in the United States. Every day, I watched TV and saw scenes of death, chaos, and Viet Cong burning civilians' houses, which made us very anxious and fearful for our families. At that time, we were worried that we might not be able to return to Vietnam. As a result, our thoughts were disturbed, our minds were distracted, and our studies suffered after Tet. However, when we graduated, the situation in Vietnam had stabilized. The school informed us that we could return to Vietnam according to the previously arranged program.
Memoirs of the Nguyễn Family
During this course, I was invited by the School to give a presentation to a small community near the School. It seemed to be a Catholic parish, as I saw a priest present. I discussed the history of Vietnam, the situation of the Catholic Church in Vietnam, the war between the Communists and the Vietnamese people, the atrocities committed by the Communists against the Vietnamese people, and the deceptive propaganda tactics of the Communists, among other things. Afterwards, there were many questions about the political situation and the elections. I tried to answer them satisfactorily.
Returning to Vietnam: The War Situation during the Tết Mậu Thân Period
The situation still had an impact on the day we arrived at Tan Son Nhat Airport. The airport was deserted, with no administrative activities of the government or commercial activities of the civilian population, except for the US Marine Corps soldiers guarding the airport. As a result, when I returned from abroad, I was not inspected by customs for my luggage. And in fact, I didn't buy any prohibited goods, just ordinary items and gifts for my family.
Anyway, I still felt thrilled and warm-hearted when I set foot back in my homeland, despite my homeland being engulfed in the flames of war. Oh! The love for my homeland is so ardent!
I hastily took a taxi home, while the city was still under nighttime curfew. My whole family gathered around, overjoyed. They had been notified by letter beforehand, but unfortunately, they couldn't enter the airport to welcome me. So they waited at home instead. I heard that they had gotten up early and waited from morning till late afternoon for my return. The kids had even skipped school that day to wait for me at home, with their mother's permission. Every time a taxi drove into the alley, the whole family would rush out to look, which made the passengers and drivers feel strange, wondering what was going on. It turned out that those who were away and those who stayed behind were equally filled with longing and anticipation. When I finally arrived home in a taxi, the whole family was overjoyed, and my wife and children surrounded me, hugging each other tightly, grateful and thankful to God.
Memoir of the Nguyen Family
The next morning, I had to contact the Military Transportation Command of the Republic of Vietnam and report to Lieutenant Colonel Trần Văn Xội, the Bureau Chief. After discussing my studies and presenting my academic results, Lieutenant Colonel Xội assigned me to the position of Chief of the Transportation Office of the Military Transportation Command. With this position, in addition to my salary, I received a monthly allowance of around three thousand Vietnamese đồng.
The work was very complex. Apart from monitoring and supervising the work of the two subordinate departments, namely the Movement Department and the Transportation Department, I also oversaw the work of the Depot.
I was in charge of coordinating with the Saigon Transportation and the 10th Transportation Group, and particularly, I worked with the Financial Department of the Bureau to estimate the financial aspects of loading and unloading, or the annual transportation needs.
In addition, I compiled all the results of transportation in the tactical areas, which were also the difficulties and obstacles, to report to the Colonel Bureau Chief on the transportation activities during the regular semi-annual inspections or irregular inspections.
In summary, this was the Transportation Department, a unit specializing in the main tasks of the Military Transportation Bureau at that time. Moreover, the Transportation Department often compiled all the mistakes of the units to improve the work.
reported to Colonel, the Director of the Bureau, who instructed us to rectify the "command and technical" aspects during inspections.
13, COMMANDING MILITARY TRANSPORTATION IN REGION 3:
A, In early 1969, I was promoted to Lieutenant Colonel. My work as the Chief of Staff of the Transportation Department was going well, when one day Colonel Xội, the Director of the Bureau, called me up and said:
- "You're going to Region 3 to replace Lieutenant Colonel Bửu Cát, the Commander of the Regional Military Transportation Headquarters. Bửu Cát is attending a Command and Staff course in Đà Lạt".
I was shocked, taken aback, and begged Colonel, the Director of the Bureau, "Please let me stay and serve at the Bureau, as I've just returned from studying in the US. Moreover, I've heard that Lieutenant Colonel Trương Bảy, the Commander of Region 3, is a tough and demanding leader.
Memoirs of the Nguyen Family
The Chief of Staff of the 3rd Tactical Zone, who would be my direct superior in the future, was strict and made things difficult for me since I didn't know him well.
Old Xoi got angry, turned his pipe to the right, and said:
"You just tell me who in the Bureau is capable of being the Commander of the 3rd Regional Military Transportation Headquarters? And you're afraid of Colonel Bay, aren't you? Let me handle it!"
Then he turned to call Colonel Bay on the phone:
"Hey Bay, 'order' Major Thong to report to you so you can take charge of the 3rd Regional Military Transportation. He's a hardworking and skilled type in the field. He's just graduated from the advanced military transportation course in the US."
Without knowing the response from the other end of the line, the old man hung up the phone and gave the order:
"Enough, report to Lieutenant Colonel Bảy this morning and then return to hand over the Transportation Department.”
I no longer dared to plead or beg... and quickly arranged my work, instructing my staff to prepare the necessary documents to hand over the Transportation Department. At the same time, I went home to change into neat clothes to go to the 3rd Transportation Command Headquarters to meet with Lieutenant Colonel Trương Bảy.
I arrived at the 3rd Transportation Command Headquarters office around 10 am and met with the Chief of Staff. I asked him to inform Lieutenant Colonel Trương that I was there to report in.
I entered the office, stood at attention, and greeted him according to military protocol, stating my rank, name, and reason for meeting with the Major this time. This was the first time I met Major Trương Bảy.
He was a calm and composed person, with a polite demeanor, speaking softly and slowly. He invited me to sit down and asked about my studies in the United States. Finally, I said to him:
"Sir, regarding my abilities, I don't dare to make a judgment, I'd like to leave it to my superiors to evaluate. As for my willingness to work, I promise to you, Sir, that I will do my best."
He accepted my words and said:
Memoirs of the Nguyễn Family
- "Let's work together, if there's anything difficult, Lieutenant Colonel, please report directly to me, so we can resolve it together. I wish you success in your work."
I bid farewell to him and left, thinking to myself: "Lieutenant Colonel Bảy isn't a difficult or arrogant person as people said. He's a knowledgeable and straightforward person who works and plays fairly. I can get along with his work style!"
I was actually worried about meeting a commander like the one I had in 1962, when I established the 11th Transportation Battalion in Đà Nẵng.
B, Lieutenant General Đỗ Cao Trí, Commander of the 3rd Corps, was Lieutenant Colonel Trương Bảy's direct superior. Also in 1970,
The Army of the Republic of Vietnam had an order to attack the targets of the Viet Cong on Cambodian soil. This was a challenging time for our combat units and supporting logistics units.
I still remember a crucial meeting at the 3rd Logistics Command Headquarters on a Saturday morning. Lieutenant Colonel Trương Bảy himself directed the Logistics Units to immediately establish a supply point at Trảng Bàng (Tây Ninh) to support the combat units crossing the border.
The order was issued, and the work had to be completed by 18:00 on the same day, as the Engineering Corps had already cleared the land to set up the Supply Point. The 3rd Regional Military Transportation Command had to provide transportation vehicles for this purpose.
the medical units, ordnance units, quartermaster units, logistics units, engineering units, etc. as needed, before 12:00 PM on the same day, so that the units would have time to prepare and the convoy could gather at the designated location at 2:00 PM on the same day, in order to be escorted to Trảng Bàng on time.
It wasn't until 1:00 PM that the convoy of vehicles assigned to the 3rd Ordnance Battalion by the Military Transportation unit still hadn't departed (I still had the communication equipment to monitor the convoys). I was forced to report to Lieutenant Colonel Bảy, the Deputy Commander of the 3rd Transportation Command, on the progress of the convoys.
Lieutenant Colonel Bảy called the officer on duty at the 3rd Ordnance Battalion, asking why the Military Transportation convoy hadn't departed yet.
Memoirs of the Nguyen Family
The officer on duty at the Military Equipment Unit reported that he had not received any instructions from Colonel, the Commander of the Military Equipment Group, despite Colonel NHĐ attending the meeting this morning at the 3rd Tactical Zone Headquarters.
Colonel CHT3TV wanted to meet with Colonel Đ, but was told that Colonel Đ was out watching an international soccer match at the Republic Sports Stadium. Colonel Bảy had to instruct the officer on duty at the Military Equipment Unit to contact the Logistics Officer at the 3rd Tactical Zone Headquarters to prepare the necessary equipment.
The irresponsible behavior of Colonel, the Commander of the Military Equipment Group, was criticized by Colonel Trương Bảy, the Commander of the 3rd Tactical Zone Headquarters.
He was sentenced to 15 days of severe punishment. This punishment caused a stir in the Central Army, as Lieutenant Colonel NHĐ was the son-in-law of General Dương Văn Minh, who was the leader of the coup that overthrew and mysteriously killed President Ngô Đình Diệm and Ngô Đình Nhu in 1963.
Dương Văn Minh was also the one who had killed Ngô Đình Cẩn in 1964, a disabled man who was captured after the 1963 coup. There were numerous phone calls from a few sycophants asking Lieutenant Colonel Bảy to pardon the punishment as a favor. Moreover, there were many threatening stories claiming that Lieutenant Colonel Trương Bảy was "touching the tiger's tail" and "deaf to the sound of guns".
Lieutenant Colonel Bảy was uncompromising, he only performed his duties as a commanding officer, setting a good example and maintaining discipline in the army. Soldiers had to obey orders in a disciplined manner, without being irresponsible, without forming cliques, and without abusing their power.
Each time I went to the 3rd Transportation Command Headquarters to meet with Lieutenant Colonel Bảy, sometimes even in the middle of a meeting, I would enthusiastically address him as "Moi, Moi, Toi, Toi"... But after this incident, it was "Yes, Sir" - a polite and respectful greeting.
However, Lieutenant Colonel Trương Bảy's demeanor and behavior had made him famous in the Army, and soldiers of all ranks admired and respected him. They viewed him as a "role model" for his disciplined work style, his sense of responsibility, and his tough but fair attitude.
Memoirs of the Nguyen Family
In terms of command, I didn't know later whether Lieutenant Colonel Trương Bảy pardoned or punished the Transportation Department.
The military operation in Cambodia was becoming increasingly intense. The Logistics Point at Trảng Bàng had to be moved up to Krek (Cambodia) to provide timely support to the units on the move. The Logistics Units under the command of Lieutenant Colonel Trương Bảy, Chief of Staff of the 3rd Tactical Zone, made every effort to complete their tasks perfectly, providing support for the cross-border operation, which greatly pleased Major General Đỗ Cao Trí.
C, Major General Đỗ Cao Trí, Commander of the 3rd Corps, 3rd Tactical Zone, and Commander of the Operation. He showed great appreciation
He showed bravery and strategic thinking in military operations. He was a talented and influential figure on the battlefield.
Throughout his command of the 3rd Corps, the situation in the 3rd Tactical Zone was very stable. He had pushed the war out of the region's territory. I still remember one night around 8 pm, when the military operation was ongoing in Cambodia, he ordered the regiments of the 5th Division to withdraw from Kongpong Thom before 9 pm that night at all costs. The regiments of the 5th Division were shocked but had to carry out the Major General's orders thoroughly. Some units withdrew without being able to retrieve their equipment, including ammunition and fuel.
At the Officers' Club, officers and soldiers had to leave their drinks unfinished and rush to execute the order.
The lemonade and even the beer that was being drunk were left unfinished. The quartermaster supplies were left intact, and the warehouses of military uniforms, ordnance, medical supplies, etc. could not be moved in such a short time.
The soldiers could only grab their backpacks, along with their guns, ammunition, and individual rations that had been issued earlier, and quickly boarded the vehicles to evacuate as ordered by Major General Đỗ Cao Trí.
The communist forces were also caught off guard, but they quickly advanced to occupy the position at Kongpong Thom. They were waiting for a plethora of spoils of war, including canned meat, dried chicken, beer, soft drinks, and cigarettes from the quartermaster supplies. They helped themselves freely.
Memoirs of the Nguyen Family
were indulging in revelry, having gone without for so long, and now they had stumbled upon a feast.
Suddenly, at 11 PM, the Parachute Brigade of the Airborne Division had parachuted into the Kongpong Thom battlefield, surrounding and annihilating the entire Viet Cong force that was indulging in revelry in KongPong Thom. The Regiments of the 5th Division were ordered to return to their base camp on Cambodian soil. Naturally, the Logistics Units had the task of re-equipping the 5th Division with what they had lost. The Communists were terrified of Đỗ Cao Trí's "enemy-deceiving tactics" like this one.
In 1971, the Kreck Logistics Point was ordered to withdraw back to the country.
Internally in Tây Ninh. The operation temporarily came to an end as it had achieved its objectives. Lieutenant Colonel Bảy and I flew to the Krek Supply Point to inventory the military equipment that needed to be withdrawn.
After returning to the unit, I submitted to the 3rd Logistics Command a "Plan for Withdrawal of Military Equipment" from Krek to Tây Ninh. This withdrawal plan was attached to the operation order of the Corps.
I predicted that this operation order would be leaked, and the Viet Cong would definitely find out. I requested that the Corps open National Highway 7 from Krek to Tây Ninh for three days and nights, while I only needed two days to complete the withdrawal.
According to the Viet Cong's tactics, during their retreats, they would always wait until the last day, when the security-keeping troops were tired and lax, to concentrate their forces and launch an ambush attack.
As I had predicted, on Tuesday, General Đỗ Cao Trí called Lieutenant Colonel Bảy on the phone and asked: "Do you know that the Military Transportation convoy was ambushed?" Lieutenant Colonel Bảy asked for 5 minutes to review the situation. He then called me on the phone and asked: "Do you know that your Military Transportation convoy was ambushed?" I replied:
Memoirs of the Nguyễn Family
- "Yes, Sir, my convoy has returned to Tây Ninh and is waiting for your orders.”
He seemed hesitant and unsure, so I quickly connected the telephone line to the CB radio transmitter for him to speak directly with Captain Tạ Xuân Tắc, the Convoy Leader. Captain Tạ Xuân Tắc reported to Lieutenant Colonel Trương Bảy:
- "I report to the Lieutenant Colonel, Commander of the 3rd Logistics Command, that the Military Transportation convoy arrived in Tây Ninh yesterday afternoon. The GMC convoy is parked in front of the Tây Ninh Province Chief's office, while the Lowboy convoy is parked in Trảng Lớn. Today, I ordered the soldiers to maintenance and prepare the vehicles for the next mission."
"to repair vehicles and rest in place. We are waiting for orders from the Military Region 3 Command for tomorrow's tasks."
Lieutenant Colonel Bảy was very pleased and reported the incident to Lieutenant General Trí, Commander of the 3rd Corps. After reviewing the situation, it was found that the unit ambushed by the VC was a Special Forces Battalion. Indeed, the Viet Cong had encountered a formidable force with effective combat capabilities!
Through this incident and the results of the operation, I was awarded a "Gallant Combat" medal with a gold star by the Corps Command. At the same time, on this occasion, Lieutenant Colonel Trương Bảy also proposed that I be promoted to the rank of Major.
Promoted according to the designated rank in the Rank Table.
Lieutenant Colonel LQĐ was appointed as the Director of the Military Transportation Bureau, replacing Lieutenant Colonel Trần Văn Xội who was retiring, and also agreed to this proposal from the 3rd Logistics Command.
In 1969, on August 27, my wife gave birth to a son, Nguyễn Đình Trường (nickname Cu Ti), the youngest son of my wife and me.
14. ATTENDING THE COMMAND AND STAFF COURSE IN ĐÀ LẠT:
In 1972, I was designated to attend the Command and Staff Course at the Military University in Đà Lạt. I would like to note that at that time, Lieutenant Colonel Trương Bảy had
Memoirs of the Nguyen Family
I was transferred to serve as the Deputy Chief of the Logistics General Department at the General Staff, in charge of personnel. Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang, the Deputy Commander of the 3rd Tactical Zone, replaced me as the Commander of the 3rd Tactical Zone's Military Transportation Command. Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang was a gentle and kind person, soft-spoken, and more like a civil servant than a military officer. He told me:
"Brother Thông, don't worry about going to Đà Lạt to study, I will intervene with the Logistics General Department, and after completing the course, you will return to your old post as the Commander of the 3rd Military Region's Military Transportation Command."
He drafted official documents, one notification for the Military Transportation Department and one for the 3rd Military Region Command. Major General
Đồng Văn Khuyên, the Director of the General Transportation Headquarters and the Chief of Staff of the Joint General Staff, approved the document. I was at ease, thinking that I would return to my old post, since there was Lieutenant Colonel Trương Bảy, the Deputy Director of the General Transportation Headquarters, who made decisions on personnel transfers in the Transportation sector.
I went to Đà Lạt and was provided with a villa by the Vietnamese Railway Authority, near Yersin School, to temporarily reside during my training period. At the same time, following the instructions of the Military Transportation Bureau, the local Transportation Battalion assigned me a jeep and a driver for daily use.
The 1972 Command and Staff course had a large number of officer-students from various branches of the military,
After completing my course, I was honored to be ranked among the top 10 graduates.
When I had been studying for two months, I and several other officers in the course were invited by the office of Lieutenant General Nguyễn Bảo Trị, the Commander of the School, to report to his office. There, Lieutenant General Trị, on behalf of the School Commander, acting on the orders of the President of the Republic of Vietnam and Commander-in-Chief of the Army, pinned the rank of Lieutenant Colonel on me, which I had just been promoted to. After the pinning ceremony, I thanked the Lieutenant General and returned to class amidst the applause of my fellow students.
Memoirs of the Nguyen Family
A, Falsely Accused:
During the time I was attending the Command and Staff Course in Đà Lạt, in Sài Gòn, Lieutenant Colonel LQĐ, the Director of the Military Transportation Bureau, wanted to take back the position of Commander of the 3rd Military Transportation Headquarters that I held, in order to appoint someone else (rumor had it that there was bribery involved?). To get rid of me, they had to concoct a scheme to accuse me of corruption, such as embezzling funds from the military, forcing soldiers to return home to tutor my family members, allowing soldiers to stay home to collect pay, and so on... They absolutely did not mention the military contractors within the 3rd Logistics Region. They made accusations against me all the way to the Presidential Palace.
Vice President Trần Văn Hương was in charge of anti-corruption efforts.
I think that in 1972, I was under the influence of the Tạ star. Lieutenant Colonel LQĐ was a friend of mine when I first joined the Army in 1951 with the rank of Sergeant and was transferred to work in Bắc District, An Lỗ, as I mentioned earlier. At that time, LQĐ also joined the Army with the rank of Junior Sergeant, working for the 8th Infantry Division stationed on the north bank of An Lỗ Bridge. We often met and chatted intimately. When LQĐ became an officer and got married, we were close friends and accompanied him to Hội An to take care of his wedding arrangements. Yet, things turned out differently.
He turned his back on me, looking down on me as if I was nothing when he gained power and position. The role of Commander of Military Transportation in Region 3 was a position assigned by my superiors (Lieutenant Colonel Trần Văn Xội), and I had previously tried to decline it as I mentioned earlier, but couldn't avoid it. I didn't buy my position or sell my influence! Why did he harm me by falsely accusing me and fabricating stories of corruption? He could make up stories that never happened!
This incident still reminds me of the time before I attended the Command and Staff Course in Đà Lạt. One day, LQĐ called me to the office of the Military Transportation Bureau. He told me directly:
"You have many contractors, earn some money from them for your expenses."
Memoirs of the Nguyen Family
I was shocked and surprised by the blatant bribery. I replied:
"Colonel, the contractors of the 3rd Military Region's Military Transportation Command deal directly with the Department and the General Department. They have no contact with me. If there's any issue, the Department or the General Department would have already given me orders. I don't have any money outside of my military salary to support my family. However, if you say so, I will try to return to the unit and review the situation."
When I responded in this manner, I thought to myself that the 3rd Military Region's Military Transportation Command had been given some old artillery pieces from the Australian camp at Vung
We brought the zinc sheets back for the soldiers to use as roofing, because thatched houses often caught fire during the dry season and were prone to leaks during the rainy season. When I returned to the 3rd Military Region's Headquarters, I called Captain Hiền and told him about the story. Hiền said, "How terrible!" I asked for his opinion on what to do, and Captain Hiền suggested selling the zinc sheets cheaply to the soldiers, collecting around $20,000, and instead of throwing it away, donating it to the Lieutenant Quang Đạt.
I agreed to do so. The next morning, I met Lieutenant Quang Đạt at his desk and handed him the twenty thousand dollars from the sale of the zinc sheets. He put the stack of money in his desk drawer without saying a word to me, not even a thank you. I bid him farewell and quickly returned to my unit.
Regarding the issue of denouncing me to regain the position of Commander of the 3rd Military Region's Military Transportation Command, which was sold to another officer for 5 million dong (according to the information provided to me), I was interviewed and investigated by the Military Security Bureau and the General Inspectorate of the Armed Forces. However, there was no evidence or supporting documents for the accusations. Meanwhile, the General Transportation Headquarters and the 3rd Logistics Command both had favorable opinions and were supportive of me. In the end, the baseless and unsubstantiated accusations were dismissed by the investigating agencies. I remained in my old position (Commander of the 3rd Military Region's Military Transportation Command).
Later, LQĐ lost his position as Bureau Chief and applied to be transferred to the 5th Military Transportation Command, but ultimately failed. He ended up having to return to the Inspection Office of the General Transportation Headquarters.
Memoirs of the Nguyễn Family
In my military life, I respected and admired my direct superiors. Like in the Transportation sector, Major General Trương Bảy, Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang. In the Military Transportation sector, there were Lieutenant Colonel Trần Văn Xội, Lieutenant Colonel Nguyễn Tử Khanh, and others (I only mention a few names) who were exemplary senior leaders, knowing how to support and encourage their juniors, and whom I deeply respected and admired.
However, in the Transportation and Military Transportation sectors, which were like two brotherly entities, there were two leaders who only cared about personal interests and prestige, flattering their superiors while oppressing their subordinates, and were unworthy of their rank and the responsibilities entrusted to them. The Army of the Republic of Vietnam suffered defeat and loss.
partly because of these people.
B, Exemplary Command Level:
Regarding the issue of appointing personnel to positions in the professional field, I would like to express my special admiration for Lieutenant Colonel Trần Văn Xội, the eldest brother in the Military Transportation Branch of the RVN Armed Forces. He was a clean, upright, and exemplary commander who was loved and respected by soldiers of all ranks.
In 1962, he appointed me to the position of Battalion Commander of the 11th Transportation Battalion, which was later changed to the 1st Transportation Group. At that time, there was another officer in the same field who relied on the influence of the Advisory Office of the Regional Command to ...
I had to go to the Central and the Huế Archdiocese to be appointed to this position. I had asked Archbishop Xội to exempt me from this duty because there was someone eyeing it with a strong stance. I was afraid of a clash and a power struggle, and I worried that Archbishop Xội would be affected. However, Archbishop Xội was resolute:
"That person is incapable, with weak command abilities and lacking expertise in their branch of the military. What will become of the unit in the future? You must take on the responsibility assigned to you by your superiors. I will meet with Cẩn and explain the truth."
I admired Archbishop Xội's determination in serving the future of the Military Transportation sector, which he was in charge of, without any hesitation.
Memoirs of the Nguyen Family
I was intimidated by the powerful forces. Meanwhile, I didn't campaign or desire to be appointed, but only worried about Cụ's safety.
In the end, Cụ won and I was appointed as the Commander of the 11th Transportation Battalion, as mentioned earlier. However, when verifying again, the rumors about the pressure from the Office to support the other officer were just an exaggeration by the person themselves.
Also, during that time, there was a memorable incident, which was when Cụ, the Bureau Chief, came to inspect my newly established unit in Đà Lạt.
We went to Nha Trang to observe the progress of the newly established unit. In the suitcase, aside from the military uniforms, Grandma had packed a set of civilian clothes for Grandpa, but the shirt had a tear in the back. Grandpa said:
- "This woman doesn't want me to go out and have fun, she's packing my clothes all messy."
I had to find another shirt for Grandpa. When I reached for my wallet, I only had a little money left, and Grandpa said:
- "You have money, lend me a few thousand, so I can still flirt with the girls, okay?"
I gave Grandpa some money to put in his pocket. Yet, when I returned to work in Saigon, Grandpa returned the money to me, the same amount he had borrowed that day. The gesture
What Cụ did moves me, makes me feel ashamed, respectful, and sympathetic towards Cụ to this day. Cụ never extorted a single dollar from anyone. Cụ would borrow from someone and then repay them properly.
Cụ assigned people to positions based on their abilities and leadership reputation. Cụ never used military positions for personal gain like corrupt individuals who "buy and sell ranks."
My position as Commander of the 3rd Military Transportation Region was also taken away by Cụ, as I mentioned earlier. Therefore, Cụ's life was very transparent, and aside from Cụ's military salary, Cụ had no other sources of income.
Memoirs of the Nguyễn Family
Thanks to my diligent work and contributions to the army, I was awarded a Fifth-Class Bảo Quốc Huân Chương in 1974.
As I write these lines, Mr. Xội is now over 100 years old, but still strong and healthy, residing in Canada. We pray for his and his wife's longevity and good health, and I wish to have the opportunity to meet again with revered leaders like Mr. Trần Văn Xội, who is a highly respected superior of mine.
C. Stationed at Long Bình Base:
The 3rd Military Region's Military Transportation Command had to relocate to Long Bình Base after the US Army initiated its troop withdrawal program.
At Long Bình, the 3rd Military Region's Military Transportation Command occupied a building located to the right of the 3rd Corps Headquarters. Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang, Commander of the 3rd Corps Headquarters and also Commander of Long Bình Base, assigned me to concurrently hold the position of Deputy Commander of Long Bình Base, in charge of security and defense.
Long Bình Base had an excessively long perimeter of 36 kilometers, which was defended by a single
The number of Regional Forces Battalions responsible for defense. Major Quý, the Battalion Commander, was in charge of commanding this Regional Forces Battalion. Every night, Major Quý and I would patrol the defense efforts within the Base, arranging ambush teams, a very exhausting and sleep-depriving task. Everyone entering the Base had to have a pass. Soldiers had to have a military ID, and civilians had to have a civilian ID.
It was by chance that I found out a bit late. This happened around 1979, when I was working as a manager for a restaurant owned by chú Minh in Tyson Corner, Virginia.
Memories of the Nguyễn Family
I met Mr. and Mrs. Hoàn, who had a cleaning services company for American buildings in Washington D.C. Later, he had a financial office that provided financial assistance to those in need. Mrs. Hoàn worked as a waitress at the restaurant I managed.
She told me that she worked for fun, to alleviate the boredom at home. During a casual conversation, I asked Mr. and Mrs. Hoàn what they used to do when they were still in Vietnam. They told me, "We used to bid on contracts at Long Bình Base, directly with the Long Bình General Depot." I immediately asked a follow-up question:
"So, did you have a permit to enter the base?"
I signed."
He replied:
- "That's true, we had to spend one million two hundred thousand to get two Special Passes!"
I was quite surprised and asked again:
- "Who took your money?"
Mr. Hoàn said:
- "The Security Officer said they took the money to give to their superior!"
I was fed up, as the highest authority in issuing entry and exit passes for Long Bình Base was me, yet I knew nothing about it. Each time special passes like these were issued, the Military Security Officer would
The Base Team brought the cards in for signature. I asked:
- "Has the security clearance been completed yet?"
He replied:
- "We have coordinated with the National Police Headquarters, Second Bureau of the General Staff, Military Security Agency, etc., and everything is fine. Moreover, these people who bid for Military Security have been investigated for security clearance before."
That was all, and I signed the cards for them. With the cards in hand, the Military Police guarding the entrance and exit allowed civilian personnel to enter and exit the Base freely. The Long Bình Military Security Branch, headed by Lieutenant D., took advantage of our trust to extort money from the people in an unfair manner.
Memoirs of the Nguyen Family
The corrupt and unlawful actions made the people misunderstand and look down on the military commanders.
After April 30, 1975, Lieutenant D. was left behind and sent to a reeducation camp. At a Military Transportation Family reunion in Southern California, I met former Military Transportation members like Captain Le Van Sang (who is now successfully running a nail supply business) and CNN Nguyen Ngoc Chan, a well-known writer in the film review industry for many overseas magazines... They told me that Lieutenant D. had moved to the United States and was now trading goods from Hong Kong to the US, currently residing in Southern California.
I had a surprise encounter with Brother Đ on a rare occasion. He was flustered when meeting me, and in our conversation, he praised me as an honest officer in front of Lieutenant Sang, while I didn't mention anything about the past.
During the Nguyễn family reunion in July 2002 in Southern California, Brother Sang told me that Brother Đ had suffered a "stroke" and was paralyzed on one side of his body. I haven't had a chance to visit him again. Nevertheless, I pray for divine blessings for his speedy recovery.
D. A Calamity: The Long An Whistle
Captain Lê Bá Tòng, Commander of the 3rd Transportation Battalion,
The report informed me that two GMC trucks from the 3rd Transportation Brigade, which were detached to the Vũng Tàu Military Transportation Region, had been seized in Long An for transporting smuggled goods.
I ordered Major Tòng to monitor the situation and continue to report the results to me. As it happened to be the last day of the week, Lieutenant General Đồng Văn Khuyên came to Long Bình for a visit, and with the presence of Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang, Commander of the 3rd Corps Headquarters, I took the opportunity to briefly report the incident to my two senior commanders.
Immediately, Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, in his capacity as the Chief of Staff of the Joint General Staff, ordered the Second Department of the Joint General Staff and the Military Security Agency to investigate the incident and report back to him.
Family Memoirs of the Nguyen Family
so that he could report to the General Chief of Staff and take disciplinary measures against the offender.
As for me, my duty was considered complete, and all that was left was to monitor the 3rd Transportation Battalion as they towed the vehicles back. I waited for the order from the General Directorate of Transportation to take disciplinary action against the soldiers who had violated discipline. Later, I also received news that some undisciplined soldiers had used many military vehicles to transport smuggled goods, including two vehicles from the 3rd Transportation Battalion, as previously mentioned.
The convoy was escorted and led by a military police vehicle with a siren. All relevant unit commanders were penalized two levels of direct responsibility.
Because of the lack of control. Some time later, I received a document from General Cao Văn Viên, the Chief of the General Staff, punishing me with 30 days of severe confinement for lack of control over my subordinates. I found it amusing when I received the punishment document. What were these big shots trying to do? According to rumors, it was General Cao Văn Viên's own wife, nicknamed Chị Tư, who organized this smuggling operation. The plan fell apart, and normally, General Cao Văn Viên should have punished himself for failing to control his wife and children, allowing his wife to exploit his position, abuse the Army's facilities for smuggling, and buy and sell ranks among military personnel. Instead, he punished innocent soldiers to cover up his own wrongdoing, using a sieve to blind the saint!
Moreover, according to the principle of punishing the two direct commanders, the General had already erred in principle. Because from the soldier who committed the error to the Battalion Commander is one level, and then to the Transportation Liaison Battalion Commander is two levels. Why was the punishment extended to the Military Transportation Region Command? And I heard it even went as far as punishing Major General Trần Thiện Thành, the Director of the Military Transportation Bureau!
I wonder why they didn't punish all the way up to the General, the Chief of Staff of the RVNAF? Is this punishment fair? Or is its purpose to spread confusion and disrupt information under the orders of the Lady? Logically, I should have complained about the General's bizarre punishment, but the situation at the time was too chaotic. The commanders at various levels were too busy to bother with this matter.
Memories of the Nguyễn Family
At that time, I, with a clear conscience, was preoccupied with the great task of losing our country and the urgent duties that needed to be addressed, so I threw this "bizarre" penalty paper into the trash.
As soon as he finished signing the penalty paper, he also "tactically evacuated" without caring about the control of his own penalty order. We would like to end the story of the Long An horn here, because the more we write, the more we reveal the evil and lack of fairness and morality of some commanders!
And then, the temporary residence in Long Bình Base. I was assigned a small villa (two bedrooms, two bathrooms, kitchen, and refrigerator)
The house was fully furnished (with a cold storage room, dining room, living room, salon, and a Frigidaire with all the necessary utensils), which was previously reserved for American general officers when they were still stationed in Vietnam.
Since I had to be present almost constantly at Long Bình Base and rarely returned to Saigon, my family would come here to visit every week. I had a hobby of gardening, so I planted all sorts of banana trees, vegetables, and chili peppers around the garden. In front of my house was an empty house reserved for guests. Notably, Lieutenant General Đồng Văn Khuyên and his family would often spend their weekends here. His wife would ride bicycles with my children, and she even raised chickens for eggs.
Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, Director of the General Directorate of Logistics, also held the position of Chief of Staff of the General Staff. He was a high-ranking general with great authority. However, in my observation, he lived a very simple and humble life. His only flaw was that when he got angry, he would often yell loudly, regardless of the place, which made some people unhappy.
He and his wife loved to plant trees and raise livestock. Therefore, he initiated the "Gun in one hand, plow in the other" and "Agricultural Program" movements within the Army. In Long Bình Base, the land was fertile and could be cultivated to yield a lot, but it had been left idle for a long time. If efforts were made to exploit it, the profits would be substantial.
Memoirs of the Nguyen Family
I was appointed as the chairman of the "Military Agricultural Program" within the base. I allocated land to various units for cultivation. Many units responded enthusiastically to planting. However, the biggest obstacle was the lack of water for irrigation. According to the saying of an experienced farmer in cultivation, "First is water, second is fertilizer, third is labor, and fourth is seeds." Therefore, if water is not provided adequately, plants cannot sprout and grow.
In addition to planting crops, there was also the issue of animal husbandry. Because the base was too vast, the land inside was difficult to control completely.
It was suitable, especially under the dense streams. The Viet Cong guerrillas often took advantage of these dense streams to hide. At night, they would sneak out to cause destruction, and during the day, they would rest by the streams. I, as the Deputy Commander of the Long Bình Base, was in charge of security and defense. After discussing with Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang, I ordered the units to purchase one or two cows for their own use.
Personally, I bought a large number of cows. This herd had to be guarded and was called tactical cows. Each unit would provide a soldier with full weaponry and ammunition. During the dry season, the herd would graze along the streams, and the soldiers with guns and ammunition would follow them.
Afterwards, the Viet Cong guerrillas were forced to move out of their base. As a result, the situation of sabotage by the Viet Cong was minimized to the maximum and they no longer had the ability to carry out their actions. In addition, I raised many goats and sheep.
I'd like to take a moment to tell a funny story about Lieutenant General Đồng Văn Khuyên's sheep. Apparently, a certain commander had a large male sheep and gave it to Lieutenant General Khuyên as a gift. The general let it live within the Joint General Staff headquarters. Since it was alone, the male sheep ran around looking for other sheep to keep it company, as animals often live in herds. Especially, male sheep like to look for female sheep.
Family Memoirs of the Nguyen Family
A funny story happened... Every Monday morning, the Joint General Staff organized a formal flag-raising ceremony, and employees from various departments within the Joint General Staff gathered at the flagpole yard. When the military personnel of all ranks were lined up and ready, two female soldiers stood at the flagpole to raise the flag according to the orders of the ceremony commander. Suddenly, the male goat of Lieutenant General Khuyên appeared, running straight to the flagpole. One of the two female soldiers, wearing a white uniform with a skirt made of wool from the goat's hair, was the target. The male goat sniffed the skirt of the female soldier who was raising the flag and, in the blink of an eye, bit into her skirt, tore it apart, and ran away with it.
The female soldier was left with only her underwear, feeling embarrassed and wanting to run away, but she didn't know where to go, causing all the soldiers to burst out laughing. The incident made the Monday morning flag-raising ceremony lose its solemnity and seriousness. Another female soldier went up to the flagpole to replace the one who had lost her skirt.
After the flag-raising ceremony, the Lieutenant General made a phone call to Long Bình Base, asking for someone to come to the General Directorate of Transportation to catch the male water buffalo and bring it back to the Base. The Lieutenant General said:
"I would like to send the male water buffalo to join the herd of water buffaloes at Long Bình."
I sent a GMC truck and four soldiers to catch the Lieutenant General's male water buffalo and bring it back to Long Bình. When it was released into the herd of water buffaloes,
Based on the context, the translation is:
The male goat, it aggressively ran around and butted all the other male goats of mine. Many were injured, causing the herd of goats and sheep to scatter and lose all order.
This situation was unstable, so a month later, I organized a goat-meat eating party, with over a hundred guests invited. The party was held at the tennis court of Long Bình Base. I had to summon a chef from Doctor Nhiều in Saigon to come and cook.
I decided to slaughter Lieutenant General Khuyên's male goat because it was too destructive, and I couldn't tolerate it anymore. It dominated the entire flock of female sheep and also managed the flock of female goats. Every morning, it would stand guard at the gate of the enclosure. Not a single
Memories of the Nguyễn Family
The male goat or buck would go out and not pass through its hands. As for the male goats, it would butt and break their horns, injure their legs, and all of them would be wounded or sick. Due to security concerns for the herd of female goats, I decided that it had to be slaughtered to bring peace to our herd of female goats.
Later, when Lieutenant General asked, we caught another goat for the Lieutenant General as well.
If the Lieutenant General reads this article, I ask the Lieutenant General to be understanding and forgive his junior. However, during the party, the Lieutenant General asked:
"What happened to my buck now?"
I had prepared beforehand and had a soldier respond:
- "Sir, General, it's still following the herd of the Long Bình Base."
That settled the matter. If the General wanted to take a look, I would just point out a large, fat goat and that would be the end of it. During the refugee evacuation abroad, I lost a herd of Indian breed "Bô" cows. Each year, they produced over ten calves for me, and nearly the entire herd of goats and sheep. They were all good breeds. I lost around ten million Vietnamese dong at that time due to the loss of the cows and goats.
However, thanks to this herd, in the last days of April 1975, the Long Bình Military Social Center was able to provide food for the soldiers.
Bình had fresh supplies for the soldiers of all ranks who were fleeing from Regions 1, 2, and 5 into Region 3. The soldiers had nutritious meals at the Long Bình Military Social Center. In the last days of April, the Long Bình Military Social Center could no longer purchase rice from the Military Commissary, nor could they buy vegetables and meat or fish from outside the market. Therefore, I had to resolve the food issue for the Center.
I sent a GMC truck to my home in Cổ Loa to pick up rice. I had over one and a half tons of rice, which my wife Hạnh and our children had taken care of planting outside the Vĩnh River, and even within the Long Bình base itself. Additionally, I ordered the capture of my cows and pigs within the base.
Memoirs of the Nguyen Family
The meat was used to supply the Center on a daily basis. Counting the cost of rice, food, and beef, pork, and chicken supplied to the Center on days when the market was closed, I personally spent a significant amount of my own money.
In the final days, many soldiers flocked to Long Bình, and they came to eat at the Center without any money. Could I have turned them away and told them to go somewhere else? That would have been too cruel... So, I decided to provide for them, and we would settle the accounts later. When the country is lost and the family is torn apart, calculating profits and losses is pointless... helping those in need is the priority!
I was at a loss, not knowing who to complain to, and at that time, I just tried to provide the food I had to help the troops. Only Lieutenant General Khuyên and Lieutenant Colonel Khang understood my situation, as they were the ones who ordered me to establish the Long Bình Army Social Center. We operated the center until the last day of April 1975, and it was only when I boarded a helicopter to escape that it was closed.
The military personnel and civilians were so sad that they cried. In the base, the pigs I had provided to the Social Center had been consumed, leaving only one or two fat ones that had not been slaughtered yet. As for the cows and goats, there were countless numbers, nearly a hundred of each.
I can recall having purchased several dozen cows, all of which were of the highest quality, imported from India. Who caught these animals? If it was the soldiers or the poor locals around the Long Bình Base who kept them, then that's good.
I started raising these cows, goats, and sheep from the time I took over the Long Bình Base. Every year, they would give birth to a considerable number of offspring, around 10 to 20 head of each type. However, due to the circumstances, I lost everything. I don't know who to complain to.
My Family at Long Bình Base:
In 1973, on May 21st (the year of the Water Buffalo), my wife gave birth to another baby girl, Nguyễn Đình Ngọc Hân (nicknamed Bé Út). We gave her the nickname Bé Út because when she was born,
Family Memoirs of the Nguyen Family
My wife had excessive bleeding after giving birth to our child. The doctor advised us not to have any more children, as it would be life-threatening the next time. We agreed that this child would be the youngest in the family. Therefore, Ngọc Hân was called "Bé Út" from then on. My wife, me, and the other siblings loved Bé Út very much.
Every weekend, as mentioned earlier, my family would go to Long Bình Base to visit. My children would swim in the base's pool or play tennis.
A strange incident occurred when I had a "Mini Gun" that shot using compressed air. It could be used to hunt birds or wild rabbits. One day, Diễm Hà, who was about 6 years old and nicknamed "Bé", was around during lunchtime.
He automatically picked up a gun near the tennis court to shoot birds. The kid shot birds but was frugal with bullets. She tried shooting once while covering the bullets with her hand. The bullet penetrated her palm and lodged in her middle finger. The little girl screamed, and the soldier on duty called for a car to take her to the infirmary so the doctor could surgically remove the bullet.
From then on, the little girl was terrified and didn't dare play with guns anymore. The whole family was also shocked. Fortunately, this was only a toy gun; if it had been a real gun, the consequences would have been unimaginable.
Life on the weekends at the base was very ideal: On Saturday afternoons, we would go to Biên Hòa to eat shrimp, crab, and seafood, or roasted chicken with puffed glutinous rice. These dishes were very much to our taste and
It was beautifully presented.
In addition, sometimes we would go to Thủ Đức to eat "dog meat". In the United States, talking about dog meat scares Americans, and even Vietnamese children who grew up in the US share the same thoughts.
However, for older Vietnamese people who have lived in their homeland, dog meat is a "national spirit" dish that is extremely attractive, and no other dish can compare to it, especially for men and those who enjoy drinking. Personally, I like boiled dog meat dipped in shrimp paste. Our ancestors used to say:
"The rooster crows with lacquered leaves,
The pig farts, buy me some onions."
Memories of the Nguyễn Family
The dog cries standing up and sitting down,
"Mom, go to the market and buy me some ginger."
Lemongrass mixed with chicken meat is delicious. Pork needs onions.
Dog meat, in particular, requires ginger to be fragrant and to suit one's taste, making it extremely appealing. Each type of meat must have a corresponding type of fragrant herb and necessary spices.
In the United States, people do not eat dog meat, considering it an emotional animal that should not be eaten. This way of thinking is based on customs, and there is no mention of prohibition in laws and regulations. There have been many lawsuits about killing dogs, and reportedly, they were all dismissed.
However, when Vietnamese elders crave dog meat too much, they have to use
The pork was cooked in the style of dog meat. This dish was known as "giả cầy" (mock dog meat). Eating a piece of pork but imagining it as dog meat, because the spices used for cooking were all spices used for cooking dog meat. Although it was mock dog meat, some chefs could make it just as good as real dog meat. Those were skilled and talented chefs!
Discussing Vietnamese dishes, there have been many books written about them. But those books rarely mention dog meat, also known as "Cờ Tây" or "Nai Đồng quê". Vietnamese cuisine is very diverse, with each region cooking in its own way. It's true that "each place has its own charm, and every inch is perfect". Each region has its own delicious and unique flavors that are enjoyable to the locals. Our ancestors
There's a saying: "Eat and savor." It's an art, savoring the food in your mouth to appreciate its unique flavor. It's not just about eating to fill your stomach. Our ancestors called it "Thực bất tri kỳ vị" (Eating without knowing the flavor of the food). Eating like that is considered lowly and is referred to as "eating hastily and speaking nonsense," or "eating and speaking carelessly," which is characteristic of someone who is not a gentleman.
However, since moving to the United States over 30 years ago, we've grown accustomed to the customs and traditions of this country. If we were to eat dog meat now, it would likely be a difficult issue. The reason is that, like many things, habits and preferences change over time, and what was once acceptable may no longer be so in a different cultural context.
Memoirs of the Nguyen Family
As mentioned earlier, in the United States, people only eat animals raised for meat, such as the poultry, pig, fish, and cattle industries. On the other hand, animals raised as pets, such as dogs, cats, birds, and others, are considered too precious to eat.
And for over 30 years, Vietnamese people living here have also become accustomed to these customs.
PERIOD BEFORE FLEEING TO THE UNITED STATES:
In the early days of April 1975, I was very busy with work at
The Command Headquarters of the 3rd Tactical Zone's Military Transportation. All household matters were taken care of by my wife and our older children. Preparing for a potential evacuation and refugee situation that could happen at any moment, my wife mobilized the kids to buy gold, and she herself also went out to purchase some. Whatever cash we had was used to buy gold and dollars... Tuấn, our third child, contributed significantly to this effort. However, despite our best efforts, we weren't able to accumulate much. The large sum of money became worthless in those days!
A, Supporting the Logistics for Units Withdrawing from the Tactical Zones:
I had the task of accompanying Colonel Trần Quốc Khang, Chief of Staff of the 3rd Tactical Zone, on a daily basis. As a result, I often flew with the Colonel by helicopter to Phan Rang, Phan Thiết, Hàm Tân, Vũng Tàu, and other locations to observe and provide military equipment for units withdrawing from Zone 1, Zone 2, and Zone 5 to Zone 3.
On one occasion, when we were flying over the Sài Gòn airspace, a massive C5A aircraft carrying orphans to be evacuated to the United States crashed on a field near the entrance to Tân Sơn Nhất airfield. The bodies of the children were scattered everywhere, lying all over the field. It was a heartbreaking and horrific scene. However, we immediately flew out of the area.
Memories of the Nguyễn Family
We couldn't return to Long Bình because we had to make way for the helicopters that were tasked with evacuation and rescue operations.
Providing support to the units was extremely challenging due to the fact that most of the roads were congested. The only option left was the waterway. We utilized all types of boats and ships, especially the LCM8 and LCU, to transport goods along the coast. The LCM8 fleets from Regions 1, 2, and 5 were all withdrawn and placed under the control of the 3rd Tactical Zone Headquarters to transport troops and supply military equipment, ammunition, and weapons to the units. The supplies that were delivered in full today would be almost depleted by the next day, and the units would be in dire need again.
or lost, as the war intensified and losses grew.
In addition to providing logistical support for units from various Tactical Zones that were withdrawing, we also had to accommodate thousands of soldiers who were temporarily stationed at Long Bình Base. These soldiers originally belonged to units that had been evacuated from Zones 1, 2, and 5 and were reassigned to Zone 3. They had become separated from their units and were unable to contact their original units. Most of these soldiers did not receive their salaries or any communication from their original units.
As mentioned earlier, a military social canteen had been entrusted by the 3rd Tactical Zone's Headquarters to the Army's Logistics Unit to manage and provide food for these soldiers.
My Zone 3 was in charge. I had assigned a Captain to be in charge of this task. At the same time, we hired many civilian employees, and due to the shortage of staff, we had to mobilize relatives to help, including Aunt Ký, Mrs. Huy, and Cousin Liên (daughter of Uncle Hồng), among others. The cafeteria only sold a symbolic meal for 100 Vietnamese dong for those who had money. The currency had devalued in the final days, so the amount of money was small, belonging to the affordable prices for the common people at that time. A meal consisted of: a plate of stir-fried meat, a bowl of shrimp and vegetable soup, and unlimited rice. Those who didn't have money could eat for free.
I still remember the day of the inauguration of the Army's Social Cafeteria in Long Bình, Lieutenant General Đồng Văn Khuyên arrived by helicopter.
The Nguyen Family Memoir
dropped by Long Bình to attend the ribbon-cutting ceremony for the opening meal. The Lieutenant General praised the chef for their culinary skills and delicious food. In the following days, the Lieutenant General unexpectedly arrived by helicopter to have a meal at Long Bình, with the intention of checking if the restaurant maintained the same quality of food as on the opening day, or if it was just a one-time performance for the grand opening. After several surprise visits to taste the food, the Lieutenant General and his accompanying officers all acknowledged the excellent quality and top-notch ranking. As a result, the Lieutenant General would often fly down to have a meal with his comrades just for fun, without prior notice or inspection.
The social rice shop LB was born late, during the dark days of the homeland's war situation. In the last 15 days of April 1975, the kitchen couldn't find food like fish, vegetables, and meat at the market, so I ordered the capture of cows and pigs for slaughter.
Soldiers had beef and pork to eat well. To cope with the difficulties of the market in the last 15 days of April 1975, I decided to slaughter one or two cows or pigs every day... Although it cost money and property, with an uncertain future and not knowing what would happen... I still did it, because at least it helped some of the lost brothers in some way.
at my unit during the final days of the war. To be honest, if I hadn't had the cattle and goats in Long Bình and over one and a half tons of stored rice at the Cổ Loa farm, it would have been very difficult to maintain the TTXHQĐLB for the remaining half month of the war's final days.
B, Preparing to Evacuate:
On that day, around April 15, 1975, I had a meeting at the Military Transportation Bureau. I sat next to Lieutenant Colonel Bửu Cát. Cát whispered to me:
"Thông, what are you working so hard for? Take some time to worry about evacuating your family instead!"
I inadvertently asked him back:
Memoirs of the Nguyen Family
- "Where are we evacuating to?"
Cát replied:
- "They've already evacuated our wives and children to Guam!"
Facing the precarious situation and hearing Cát's words, I quickly arranged for my wife and children, along with Aunt Ký's family, to go to Vũng Tàu. Because from there, it was easy to board American warships. I took my family to live in Vũng Tàu for a few days, and then on April 22, 1975, Colonel Trần Quốc Khang, Chief of the 3rd Tactical Zone's Headquarters, summoned me to the Headquarters' office, along with Colonel Nguyễn Phước Trang, Deputy Commander of the 3rd Tactical Zone, and Lieutenant Colonel Trương Văn Túc, Chief of Staff.
Chief of Staff of the 3rd Tactical Zone.
Colonel Khang said that he had already evacuated his family to Guam and was now taking care of my family, Trang's family, and Túc's family. We were all scheduled to leave on April 24, 1975. I had to quickly call Vũng Tàu to inform my family to prepare, and at the same time, I personally went to Vũng Tàu with my driver to pick up my wife and children and bring them back to Sài Gòn urgently.
While my family was in Vũng Tàu, Colonel Bửu Cát's family was also there. When they saw me moving my family to Sài Gòn, Aunt Ký's family and Colonel Bửu Cát's family also went to Sài Gòn, because without my wife and children, Aunt Ký didn't dare to stay behind.
Vũng Tàu! My aunt Ký's family and my brother Cát's family were stuck, and my brother had to attend a reeducation camp.
According to the plan, my family was on the list to leave for Guam on the night of April 25, 1975, on a US military plane. I had taken my family to Tân Sơn Nhất airport in the afternoon. However, due to some technical reason, the flights were delayed by a day. It wasn't until the night of April 26 to the early morning of April 27, 1975, that the plane took off and flew directly to Guam.
As for me, I couldn't accompany my family on this flight because I still had to stay behind to defend the Long Bình Base.
After my wife and children left, only my eldest son, Nguyễn Đ. Thường, remained. He couldn't leave either because he was a soldier, just like his father.
Memories of the Nguyễn Family
Diễm Thu and Việt Long were also in the military. These two had to stay until the very last minute.
After my wife and children left, I returned to the Long Bình Base with my eldest son, Nguyễn Đ. Thường. The security situation was becoming increasingly unstable. The Long Bình Base was being shelled every night. From April 27 to 29, 1975, I couldn't eat or sleep. During the day, I was preoccupied with my professional work, and at night, I was worried about the base's security.
On the morning of April 27, 1975, at the RMK pier near Long Bình Bridge, the Americans brought in a barge loaded with CBU (Cluster Bomb Unit) bombs, a very dangerous type of bomb due to its high explosive power after detonation.
small-sized nuclear bombs.
I called the Headquarters of the General Directorate of Logistics, but no one knew why the Americans had towed this barge of bombs here or what they intended to do with it at this critical moment. Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, the Director of the General Directorate of Logistics, as well as Major Tài, the ordnance specialist, were also unaware of the reason and the origin of this barge. I had to order the immediate unloading of these bombs and storing them in the ammunition depots within Long Bình Base.
In addition, I had to deploy three Airborne Battalions to block the routes from Hố Nai, Long Thành, and the Military Cemetery. I prohibited all vehicles from heading towards Long Bình Bridge to ensure safety during the unloading of ammunition at the RMK pier. I would like to note that this type of bomb was a
The CBU bomb was extremely important and dangerous. When the military wanted to use it, they had to obtain special permission from the President with the agreement of the US Embassy in Vietnam.
One bomb, when detonated, had the effect of destroying everything within a diameter of one and a half kilometers. As a result, the enemy suffered heavy losses. During the attack on Saigon, it was said that the enemy forces were hit by a CBU bomb on the Long Khánh battlefield, suffering severe damage and being forced to halt their advance for several days.
It was said that in 1979, when China wanted to teach Vietnam a lesson in the border area, China suffered the effects of the CBU bomb and had to withdraw its troops due to the heavy losses.
The Nguyen Family Memoir
was still shrouded in secrecy. Only the military authorities of the two communist countries knew what was going on.
The unloading of the barge carrying CBU bombs was completed on April 28, 1975. Everyone, from the Ministry of Transportation to the Logistics Units in Zone 3, let out a sigh of relief. I received numerous phone calls from the General Directorate, praising and inquiring about the situation.
Around 3 pm on April 28, 1975, I was informed by Lieutenant Colonel Tran Quoc Khang, the Deputy Chief of Staff of the 3rd Tactical Zone, that he would be flying by helicopter to attend a meeting at the Ministry of Transportation.
He repeatedly reminded me that:
"I will return at 6 pm that evening, and at home, remember to be vigilant."
I replied:
"Lieutenant Colonel, please go to the meeting without worry, I will take care of things at home, and if anything unexpected happens, I will report to General Đồng Văn Khuyên's office."
That evening, the clock had already struck past 7 pm, but the Lieutenant Colonel, the Chief of Staff, had not returned. I was worried and anxious, fearing that he might have encountered some trouble along the way. At 8 pm that night, we (I, Lieutenant Colonel Trang, Major Túc, and several other CHTTV officers at the Base and some officers from the 3rd Tactical Wing Headquarters) met together at Lieutenant Colonel Khang's office to discuss preparations for the convoy.
The army went to rescue Colonel Khang when there was news of an incident. I personally had a phone call with Lieutenant General Đồng Văn Khuyên. I reported to General Khuyên that:
"Reporting to General, around 3 pm today, Colonel Khang informed me that he would attend a meeting with you at the General Headquarters and would be back at the Base by 6 pm. Why hasn't he returned by now (8 pm), I'm afraid something unexpected has happened???"
General Khuyên honestly replied:
"There was no meeting today!"
I reported again:
Memoirs of the Nguyen Family
- "Sir, Colonel Khang flew in on a helicopter with the tail number 557, please instruct one of your personnel to check the landing area to see if the helicopter is still there?"
After having the personnel check the helicopter landing area, the Lieutenant General called back:
- "The helicopter is still there, the pilot is waiting, and I've had combat rations brought to the pilot. If there's anything, I'll let you know, and if there's anything new, you report back to me. You try to take care of the defense of the Base tonight!"
As I finished my conversation with the Lieutenant General, the Director of the General Directorate of Transportation and Chief of Staff of the Ministry
Just then, Lieutenant Thái, Chief of Colonel Khang's Office, rushed in to inform us that an officer from Lieutenant General Đồng Văn Khuyên's office had just told him that: "Your father has already left Tân Sơn Nhất for the US!" I felt a mix of frustration and worry upon hearing this, and the officers present were stunned. After all, I had prepared everything for Colonel Khang's last-minute departure.
The situation on the night of April 28, 1975, seemed precarious, with VC artillery fire raining down on the base from all directions. At that time, Lieutenant Nguyễn Công Sum, Chief of the Transportation Department of the 3rd Tactical Zone's Headquarters, was worried about his family still in Sài Gòn. I told him to return to Sài Gòn and arrange for his family to be ready to evacuate immediately.
to be relocated immediately when necessary.
Meanwhile, at the Cogido pier, I had prepared 5 LCM8s with full fuel, abundant food and water, capable of evacuating safely to Singapore. In April, the sea was very calm, with no waves. I had told Thường, my son, to go with Lieutenant Sum, with the purpose of avoiding shelling, and to inform Quốc Nam, Thanh Hương's ex-husband, to also go with Lieutenant Sum back to the Base.
The situation in Biên Hòa was precarious. I reported to the 3rd Corps the developments at the Long Bình Base. The Operations Office did not respond. The Command Office was also silent.
Memories of the Nguyễn Family
were quiet. I reported to Major General Đồng Văn Khuyên about the situation with the VC shelling and the situation with Lieutenant Colonel Trần Quốc Khang. He said:
- "Try to defend the Base tonight, and we'll see about tomorrow!"
In the end, at the last minute, no one from the Corps was present to answer the phone for their subordinates. Where was the Corps Commander? The Deputy Commander? The Chief of Staff? In the end, I had to call the General Staff. Major General Đồng Văn Khuyên was always present and ready to answer the phone to help his comrades in difficult circumstances.
In addition, the situation at Long Bình Base seemed precarious, and while I was still in contact, I hadn't received any orders from the 3rd Corps. Nevertheless, we still strictly maintained security at Long Bình Base, especially at the entrance and exit points.
On the morning of April 29, 1975, the enemy launched an artillery attack and put strong pressure on the Long Bình base. We sent some convoys to the General Headquarters and another convoy to the Military Transport Bureau to be used as needed, because during this urgent time, we had tried our best but were unable to contact the 3rd Corps and Region 3, as the 3rd Corps' telephone lines were cut off.
The calls were still being made, but no one was responding, so I had to take the convoy to the Military Transportation Department, as the 3rd Corps no longer needed it. I had reported all these developments to Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, the Deputy Chief of the General Staff. Additionally, on the night of April 28, 1975, I met with Major Trang and Captain Túc, and I announced the decision:
"Tomorrow, April 29, 1975, I will make contact and move to the Vũng Tàu Military Transportation Zone. So, who wants to evacuate to Vũng Tàu with me tomorrow? If it's calm, we'll handle the transportation, if not, we'll escape on an American ship."
Major Trang, the Deputy Commander, immediately replied:
"I'll follow you."
Memoir of the Nguyễn Family
As for Major Trương Văn Túc, the Deputy Commander of the 3rd Tactical Wing Headquarters, Lieutenant Colonel Trương Đình Liệu, the Commander of the Long Bình General Depot, and others, they were to return to Sài Gòn. Major Túc was fortunate to meet Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, who ordered him to go to Tân Cảng port immediately.
On the way to Tân Cảng, he met Lieutenant Colonel Châu and a few other officers, so they went together to Tân Cảng and evacuated Sài Gòn on a South Korean LST, barely escaping danger. Lieutenant Colonel Liệu, the Commander of the Long Bình General Depot, was left behind and had to attend reeducation classes for over ten years.
During this time, Captain Ngô Ngọc Bảo, the Commander of the Long Bình General Depot's Military Transportation, stayed close to me because he had no means to evacuate. He didn't leave my side, fearing that I would suddenly leave and abandon him. Captain Bảo accompanied me onto the helicopter and flew out to the American ship in the Vũng Tàu sea.
16. ON THE ROAD TO REFUGEE STATUS:
a, Evacuation to the American ship off the coast of the South China Sea:
On the morning of April 29, 1975, we took a helicopter to Vũng Tàu. Before boarding the aircraft, I reminded Driver Huệ to come with me as he had previously agreed. However, at that moment, he asked to stay behind because his family had no one to take care of. As a result, the backpack
(Note: The translation seems to be cut off in the middle of a sentence. If you provide the rest of the text, I can complete the translation.)
will also stay with you. In that backpack, I had prepared the necessary food for the two of us. When we arrived in Vũng Tàu, the helicopter ran out of fuel, and we had to land at a fueling point to refuel. After that, we told the soldier in charge of fueling to return to his family, because at that time, there were no more helicopters that needed to be refueled. The helicopter took off and landed on a barge in the middle of the river, next to which an LCM8 was waiting. We boarded the LCM8, and the helicopter pilot pointed out a US ship waiting offshore. The helicopter crew did not disembark but instead flew straight back to Saigon to pick up the pilot's family.
After we had all boarded the LCM8, the boat's captain contacted Lieutenant Phò, the fleet commander, to report that we had
Memoirs of the Nguyen Family
I was on board the LCM8. Captain Phò ordered the helmsman to steer the LCM8 towards the large ship (a large American ship anchored offshore). As the LCM8 began to move, I suffered from severe seasickness, vomiting all over the place. When we reached the large ship, I struggled to climb up the ladder to the deck. Once I reached the top, I felt exhausted. The reason I was so weak was that I had not eaten or slept for several days, worrying too much about the situation. My fellow travelers who came with me went to look for me and led me to where they were gathering.
I was still very tired, lying down on the deck next to a large family with many children and grandchildren. An old man saw me and observed, "You're exhausted from hunger!" He immediately took out a container and handed it to me.
He mixed some condensed milk with a little cold water in a plastic cup, stirred it with his finger, and handed it to me to drink. Like a person who had lost their soul, I took the cup of milk and drank it all in one gulp. Just as he had said, I immediately felt refreshed and my exhaustion disappeared. I regained my composure and thought back, realizing that for the past two days, I hadn't eaten a single grain of rice or slept due to the extremely tense situation since my wife and children had moved to Guam.
At that moment, I decided to take a walk around the large ship to get a sense of the situation. I met the family of Captain Lê Phước Phò, and I complained about being hungry. His wife gave me a bowl of dried rice with some instant noodles sprinkled on top for added saltiness. I ate it deliciously, and the more I ate, the more I felt my hunger and fatigue fading away.
I started to feel better. I and my friends continued to go down to the ship's hold, where we met the family of Major Khang (Special Forces). Mrs. Khang was overjoyed and gave me two Chợ Lớn candies. I handed one to Major Trang and ate the other Chợ Lớn candy, it was so delicious! The sugar in the candy spread throughout my body, and I felt better wherever it reached. It's amazing how when people are hungry and lacking nutrients, any food can taste wonderful.
The next morning, when I woke up, I saw American Navy SEALs on the ship distributing milk. I asked an old man, "Do you have anything to hold milk? I'll go ask for some."
The Nguyen Family Memoir
He handed me a small plastic basin. To get milk, we had to line up and move forward like ducks. When it was my turn, the Vietnamese man distributing the milk poured a small amount into my basin. I said:
- "My family is big, how can one cup be enough to drink?"
A black American soldier saw this and asked what was going on. I repeated what I had just said in English. He took the basin and scooped a large amount of milk from the container, filling it to the brim. I was overjoyed, and I quickly drank the full basin in one gulp to avoid spilling it, then grabbed the basin and ran back to give it to my grandfather. He asked:
- "Where did you get so much milk from?"
I replied:
"I would like to thank you, sir, for the glass of milk you gave me yesterday, which saved my life. Today, I tried to get more to thank you."
After that, I bid farewell to him and moved back to the middle of the ship's hold, where our officers were gathered. I chatted with an American Marine Lieutenant, who was in charge of security on the ship. Therefore, he invited me to his quarters to take a shower. After showering, he even offered me a can of beer. This Lieutenant was very fond of the Vietnamese officers.
The issue of food distribution on the ship was a real mess. So, we took the initiative to divide tasks among ourselves, with some in charge of distribution in the kitchen and others responsible for distributing food on the deck to our comrades.
The task of bringing food from the kitchen to the deck was overseen by young priests of the Đồng Công order under the leadership of Father Sơn. I was in charge of distribution in the kitchen, so occasionally, I managed to sneak a little something to eat.
I still remember an American sailor giving me an orange, and I was overjoyed, intending to find a quiet spot on the deck to eat it. As I stepped out, I saw Major Trang looking pale and exhausted from hunger. I immediately handed him the orange, and his eyes lit up as he asked:
"Where did you get this?"
Memoir of the Nguyễn Family
- "Just eat it, don't ask"
And he took a big bite of the leather strap, savoring it. He even said, "Leather has a lot of vitamins!" I didn't know what vitamins were good for, because I was also extremely hungry.
The situation on the ship was still dire, as it was carrying nearly six thousand people but only had one kitchen. Despite utilizing it 24 hours a day, they still couldn't provide enough food for that many people. I then said to Lieutenant Colonel Hoàng Văn Đoàn, the Mayor of Đà Lạt and also the Provincial Governor of Tuyên Đức:
- "As the eldest, please join us in meeting...
The Captain had to resolve this issue. Otherwise, in just a few days, the ship would be in chaos!"
After that, our delegation met with the captain and requested that we be divided into three kitchens: one at the front, one in the middle, and one at the back of the ship. Each place would have its own kitchen and would cook continuously 24/7. We asked the captain if the ship had enough food, rice, and drinking water. He replied that the ship had enough rice and food, and he agreed to our plan.
We immediately started setting up the three kitchens. At the same time, we organized cooking teams, food distribution teams for our fellow countrymen, and teams to go down to the ship's hold to collect firewood (since this was an ammunition ship, there was plenty of wood available for burning).
There was a lot of wood used as ammunition racks, after the ammunition had been unloaded). Just on the first day, the food and drink situation was back to normal, and the scene of people fighting and arguing with each other was gone. Everyone ate and then quietly lay down to sleep or chatted with each other in a low voice, no longer arguing like before.
The ship sailed for about a day or two before arriving at Subic Bay (Philippines). We were ordered to change ships, and some people stayed on the old ship. However, a day or two later, we arrived at Guam together. This is a large island, and most of the transportation from Vietnam passes through here for transit. There is also another transit station, Wake Island, but the number of people stopping there is relatively small.
Memoirs of the Nguyen Family
When we arrived in Guam, we had to complete the necessary paperwork for entering the United States, including declaring our personal history. During the entry process, some American doctors asked me if I spoke English. I replied that I did, and they handed me a piece of paper with the location of the hospital and told me to report there.
After finding a tent to live in, I went to the hospital and was assigned to work as an interpreter, recording the names of patients and their conditions before they were examined by the doctors. While working, I had to wear a white coat, which made me look like a doctor or nurse.
I earned $1.00 for every hour I worked at the hospital. Having some money was better than having none, and it allowed me to buy things from the vendors outside the camp. It was a bit better than having no money at all.
When I arrived in Guam, the big toe on my foot swelled up again, aching painfully. Every time I went to get food, I had to wait in a long line that stretched for kilometers, which was a real ordeal. However, while working at the infirmary, I received medication to apply to my toe, and food was delivered to me, so I felt much better. Moreover, working here allowed me to reunite with many friends.
One amusing and unusual story was when I saw Sister Thích bring her child in for a medical examination. I pretended not to notice her to see if she would recognize me. During my time at sea, I had been exposed to the sun on the ship's deck, so my skin had darkened, making it difficult to recognize me.
Sister Thích brought her child in and said to me: "Doctor, my child has had diarrhea for two days now!" After finishing her sentence, she reached out to touch my hand and asked:
"Is that Brother Thông?" I was amused and blurted out: "It's him, indeed! And where's Phạm Bá Thích?" I burst out laughing, and Sister Thích also laughed along. She said: "I thought you were a doctor or something!" I worked there for a day and a night, and the hospital paid me $17.00. That night, I had to go back and pack my clothes to leave for Anderson Air Force Base in Guam at 3:00 AM. I was going to fly to the US mainland.
When I arrived at the airbase, I was standing around in a daze when an airline staff member asked:
The Nguyen Family Memoir
- "Is anyone traveling alone?"
I raised my hand and was immediately taken to the plane. Actually, I wanted to go to Camp Pendleton (CA) because my family was temporarily staying there. But the plane landed at Little Rock Airport (Arkansas) to head to Fort Chaffee.
17, SETTLING IN THE US
A, Family Reunification: Time passed, and we were able to contact our family at Camp Pendleton, and we decided to settle in Springfield, Missouri. Just us, from Fort Chaffee, had to go to Springfield City.
Some time ago, my family and I arrived. My wife's family and children came later. Also settling in this city were my daughter Thanh Hương's family and my younger sister Mỹ Hằng.
My family was sponsored by lawyer Charles and his wife. Springfield is a relatively small city, and it was difficult to find work. We tried to find jobs but were unsuccessful.
One day, I decided to apply for a labor job through a private company. They paid me $1.70 an hour, but the employment agency took a cut, leaving me with very little. After working over 8 hours, I only earned $11.30. The work that day was very exhausting.
The work was exhausting. I had to roll the empty oil drums (barrels) from the trailer into the warehouse. Although the drums were empty, they still had a lot of grease stuck to the sides, making them very heavy. I had to stack the drums in two layers, which was a very laborious task. However, the Supervisor told me to stack them in three layers. I replied that I couldn't do it. Moreover, the grease that had spilled onto the ground was everywhere, and I had to walk through it like I was wading through muddy marshes. The grease stuck to my shoes, making them very heavy with each step. I had to drink cold water constantly because the sun was scorching. It was probably over 100 degrees Fahrenheit. Doing this job made me realize that working in the US was not easy at all!
The Nguyen Family Memoir
I wondered why they didn't take out the "butter" to finish it, but instead left a lot of it in the containers, making them very heavy when stacked in two layers.
That afternoon, I returned home exhausted, unable to move, and had to rest at home for three days to recover. Hạnh saw how hard I was working for very little money, as I had mentioned earlier, and she cried because she felt sorry for my situation. When I was still in Vietnam, I had never worked as hard as that.
After three days, I went back to the agency to look for a government job. I met a case worker and told her that if I couldn't find a job
For me, that meant my entire family (my wife and nine children) would have starved to death. She asked:
- "Have you applied for social welfare and food stamps yet?"
I was clueless, not knowing what Welfare and Food Stamps were. She immediately called the Social Services Department and spoke with a case worker there. After finishing the conversation, she told me to go to the Social Services Department and meet with Mrs. Linda, who would handle my case.
I had to walk from the employment office to the Social Services Department to meet with Mrs. Linda. I say "walk" because, after nearly three months in the US, I didn't own any vehicle. As a result, all my travels were on foot.
on foot. Well, that was also a running exercise that I had been accustomed to for several months. Luckily, Springfield City (MO) is relatively small, with state offices located close to each other.
Ms. Linda asked:
- "Why did you come here in July '75, but you didn't apply for subsidies?"
I replied that it was because I didn't know, and also no one had guided me. In fact, our sponsor, a lawyer, didn't want to lose face when we found out about the government assistance for the poor!
Memoirs of the Nguyen Family
On that day, the Social Welfare Department gave me a check and food stamps worth nearly $1,000.00 (one thousand US dollars). My wife was surprised and asked:
- "Where did you get so much money from?”
I was both happy and tired, so I told my wife to put it away and I would explain later. When she held the food stamps, my wife asked again:
- "What are these vouchers?”
I replied:
- "They're a type of red dollar!”
My wife had already prepared a snack and a cold beer for me every afternoon. She always consoled me to persevere for the sake of our family and
I offered up all my difficulties and hardships to God. She also brought a glass of cold water or lemonade to sit and drink while talking to comfort me.
Some time later, I found a job at a large private trading company with a wage of $2.35 per hour. Although the wage was low, I worked two hours of overtime every day, so in a month, I earned $550.00 before taxes. That didn't even include the times when I had to work overtime on Saturdays.
As my business was going smoothly, although I wasn't earning much, my brother Minh planned to reopen his store and begged me to go to Washington D.C. to help him. He was alone, weak in English, and his children were still young. Out of brotherly love, I asked for time off and went to Washington D.C. to help him set up his business.
I worked in commerce. It was I who gave the name Mekong Center to my uncle's store. He paid me a salary of $500.00 per month, but the work was busy, like taking care of a household. Not to mention that every Wednesday, I had to drive from Washington D.C. to New York at 3:00 AM to buy goods, and after loading the goods, I would drive back, sometimes not returning home until 11:00 PM.
I worked like this for nearly four months. One day, I received a letter from my wife telling me to return home immediately to take care of our tax declaration for 1976. I was anxious to return home and take care of my family's affairs, even though my uncle was not supportive. I left and promised to return in about a week.
Family Diary of the Nguyen Family
B, My Wife (Nguyen Thi Hanh) Falls Ill:
I returned home from Washington D.C. on Sunday afternoon.
That afternoon, Thanh Hương invited her parents over for dinner. Thanh Hương's rented house is adjacent to ours. During dinner, in high spirits, my wife suggested that Hương's family come over to our place for dinner the next day, Monday.
On Monday, the whole family went to the Battlefield Mall in Springfield to go shopping. In the afternoon, my wife cooked dinner, and Hương's family came over to join us.
That day, because I had been traveling by bus for three days and was tired, and having just returned from shopping, I felt a bit exhausted. After dinner, I went to bed.
I lay down to rest. I was too tired and fell asleep, so when my wife got into bed, I didn't notice. It wasn't until 5:00 AM that I woke up, got up, and went to the bathroom. My wife was still sleeping. This was unusual because my wife is a light sleeper, and even the slightest noise would wake her up. Yet, I got up and went in and out, and she didn't notice a thing.
I lay back down on the bed for about 30 seconds (half a minute), and then I saw her sit up, stand up, and stagger. I quickly got up and put my arms around her to support her. At that moment, I realized that she had lost control of her bladder. Knowing something was wrong, I quickly called out to the children to get up and help their mother. Mother had become unresponsive.
She was unconscious, didn't know anything anymore. She laid her cheek on the bed. Hằng called 911 and the ambulance came to take her to St. John Hospital in Springfield.
Upon arriving at the hospital at 6 am, there were no doctors or nurses taking care of her, while she lay unconscious on the bed. The children, I, and our American friends stood around her bed.
Around 9 am, she woke up, and the children were overjoyed, shouting "Mom!" I asked:
- "Do you recognize anyone here?"
She replied:
- "It's me, not anyone else."
Memoirs of the Nguyen Family
Dad asked:
- "Did you sleep well last night?”
Mom replied:
- "I slept well".
Dad pointed to Mrs. Mỹ Eason, the friend who often drove mom to church, and mom also recognized her and even mentioned her name and smiled to greet her.
The hospital nurses, from morning till then, had not taken care of mom at all, but at that moment they rushed to administer an IV to her, and as soon as they finished, mom fainted immediately, lying there until she passed away on May 7, 1976.
I don't know why mom went into shock. From the time we brought her to the hospital,
My mother was hospitalized until the day she passed away, which was about two months. After receiving the chemotherapy, my mother was always in a coma. The doctor performed an operation on her arteries in the neck. For the first few days, she was still conscious and able to receive Holy Communion. However, as time went by, her illness worsened, and she fell into a deeper coma, no longer recognizing anything when the hospital chaplain brought her Holy Communion. She could no longer receive Holy Communion.
In the last few weeks, the hospital transferred her to a Nursing Home, and she passed away there at some point during the night of May 7, 1976. Our family was notified on the same day at 4:00 a.m., and we all rushed to the Nursing Home immediately.
My mother's soul has returned to God, so she no longer knows anything about the world. The children wailed in grief. One regrettable thing is that at the "Nursing Home", family members are not allowed to stay overnight. Therefore, no one in the family was able to be with Mother when she took her last breath. That is a deeply regrettable and painful thing for us, her children.
It's been over 30 years since then. I am filled with sorrow, tears streaming down my face, as I recall the event. My family was in agony when we lost a wonderful wife and mother... Oh Lord, I lost an ideal life partner when she was only 44, and I was just 49.
The Nguyen Family Memoir
Oh Lord, we hadn't lived together for even half of our lives.
The youngest child had no concept of life and death, and would occasionally ask:
- Why did mom go away for so long and hasn't come back to us yet?
I had to hold the child and reply:
- Dear child... Mom left us... mom went to Heaven, and will watch over us.
Now that the child is grown, they understand and always pray for mom.
We calmed down to realize that human life and death are according to God's will. We offer to God our prayers
I thank God for having arranged the life and death of my wife. We believe that everyone stands before death in the same way. The only thing is that my wife died too young, at just 44 years old, when she still had a large number of children to teach and guide.
Throughout Hạnh's life, she sacrificed for her husband and children. She loved and cared for her husband and devoted herself to taking care of the children. After coming to the United States, we thought that life would be more comfortable and leisurely. But unexpectedly, she left her husband and children too soon, leaving behind much sorrow and regret for her family, while the children were still young and in need of their mother's care and guidance.
The funeral of Nguyễn Thị Hạnh was held and she was laid to rest at
At the Springfield, MO diocese cemetery. After burying my wife, the whole family was like people who had lost their souls. The most pitiful one was Little Ut, only two years old and still unaware of what was happening. Ut kept asking, "Where did Mom go and why didn't she come back, Mom didn't wear a warm coat, Mom had pneumonia!" Ut said that because my wife would often remind the children to wear warm clothes when going out, lest they catch a cold and get pneumonia.
In the afternoon, after the funeral, Aunt Toan was sitting on the floor in the kitchen, chopping chicken. Little Ut ran in, stood behind her, and excitedly asked, thinking Aunt Toan was my wife:
- What are you doing, Mom?
The whole family was overcome with emotion, hearing this, and burst into tears...
Family Diary of the Nguyen Family
At the cemetery of the Springfield Archdiocese, some time later, several Vietnamese clergy were also buried here, including Archbishop Ngô Đình Thục, Father Cao Văn Luận, Father Nguyễn Văn Phương, and many other dignitaries.
We had planned to move my wife's grave to Denver many times, but it wasn't until much later, on August 13, 2007, that the relocation of her grave to Denver was finally carried out.
Prior to that, every year, when our children and grandchildren went to Carthage (MO) to attend the Đồng Công Marian Convention, they would stop by to visit her grave.
and cleaned my mother's grave at the Springfield, MO cemetery.
I pray that the Holy Trinity will bless the soul of Anna Nguyễn Thị Hạnh to enjoy eternal life in heaven. At the same time, I ask my beloved mother to intercede with God to grant us good fortune in our earthly lives.
C. Moving away from Springfield (MO):
After we had finished burying my mother, our family felt extremely lost and as if something was missing. My mother's image haunted our family's life. At that time, I bought a new 1977 Buick Skylark. I took Bé Út and
Anh Hoa (Bê) followed to take care of the kids. I drove to Washington D.C. and then drove back in the snowy winter.
Throughout the entire trip, the two kids slept soundly, while I was alone, driving and worrying, feeling anxious and sad. When we arrived home, the older kids, especially Hằng, urged me to see a doctor because they saw that I looked pale and exhausted. I went to see the doctor, and the result showed that my blood pressure was high, and the doctor ordered me to take medication immediately. I had to take high blood pressure medication from then on.
The situation of our family in Springfield was very difficult. Everywhere I went, I saw images of my mother. However, the most important issue was the children's education and my job. The city of Springfield (MO) was too small and couldn't meet the basic needs of our family.
Memoirs of the Nguyen Family
I had to make a decision to leave Springfield. The two places I was considering were Washington D.C. or Denver, Colorado.
The reason I chose these two places was that I had relatives there. Washington D.C. had my brother Minh, and Denver, Colorado had my uncle and aunt Toàn's family and cousin Thạch. After weighing our options, we decided to head to Denver, Colorado. Our entire family moved to Denver around June 1977. At first, we temporarily stayed at uncle and aunt Toàn's house, but after a short while, we rented another house that was more convenient for our daily lives.
We were living.
In 1978, we bought the house at 705 S. Jersey Street, Denver, CO 80223 by assuming a loan, because at that time we didn't have the ability to buy a house. The children were still young and not working, and I was unemployed. The house at 705 S. Jersey Street was sold in 1999, and the profit was given to the two youngest children after consulting with the older siblings and paying off the remaining debts.
After arriving in Denver, I worked at Pease Company, a manufacturer of "Deluxe" doors. Thanks to my job at this company, I became a specialist in table saw operation. However, after a short time, I
I had to change jobs, thanks to an introduction by Nguyễn C. Sum. My new workplace was Gate Energy Product company. This company specialized in making piles and batteries, specifically rechargeable piles used for TVs and computer equipment.
After working there for over a year, the company downsized as part of a plan to relocate the facility to another state. As a result, a large number of employees were laid off, including me and my daughter, Thanh Hài.
At home, reflecting on the difficulties of finding a job at an old age, I decided to open a seafood store. The store was up and running, with Mỹ Hằng in charge in the mornings since she only attended university classes in the afternoons.
The Nguyen Family Memoir
We also had Ánh Hoa and Diễm Hà, because Hoa Hà attended morning classes. As for me, I had to run errands, and many times I was not present at the store.
On July 26, 1980, the Post Office called me to start working. I would also like to mention that I took the exam to work at the United States Post Office in 1978 and scored 96 out of 100. It wasn't until two years later, in 1980, that the Post Office called me to start working.
The reason I took the Post Office exam in 1978 was because my uncle and aunt Toàn introduced me to the opportunity. My cousin and I both took the exam (my cousin Kim Anh and I). As a result, we both passed and started working at the Post Office on the same day. Kim Anh scored higher because she was quicker and had better eyesight. Later, Kim
My brother was promoted to a high position at the Post Office and had requested a transfer to California.
The business at the "Rocky Mountain Sea Food" store continued to struggle. However, after my two daughters, Hoa and Hà, entered college, there were new challenges with their schedules, making things even more difficult. In the end, I decided to close the store and return the property to the landlord, so that my children wouldn't have to neglect their studies and I could also have an easier time with my work.
This failed business venture cost me over twenty thousand dollars. If I had switched to running a liquor store back then, the business would have flourished and earned a lot more.
I had more income and less hardship. As I said, I'm a military person, not skilled in business or accounting... it's just my fate!
After settling the Sea Food store, I continued to work at the BMC Denver Post Office until August 3, 2001, when I retired due to my advanced age. In total, I worked for 21 years.
My children, after settling in Denver, continued their education and most of them graduated from university. The issue of establishing families for my children will be discussed later.
18. I REESTABLISHED MY FAMILY:
After my wife Anna Nguyễn Thị Hạnh passed away, I didn't have any strong desire to remarry. Moreover, at that time
Family Annals of the Nguyen Family
Some of my children were still very young: Tiến was 16 years old, Hoa was 14, Hà was 12, Thọ was 9, Trường was 7, and Ngọc Hân was 3 years old. However, six years later, around 1982, I felt extremely lonely. The children had their own private lives. So, I discussed with them my plan to remarry. Initially, I intended to start a family with Trần Thị Quyên, an old classmate who was a high school professor, specializing in teaching English to students in Vietnam. However, due to the long distance, the plan did not work out.
At that time, my close friend Hồ Châu Tuấn introduced me to Maria Lương Thị Yến, who was then residing in Pueblo,
a small city in southern Colorado. Yến had a child of her own, Lương Quốc Lũy.
After getting married in early 1982, I brought everyone to Denver, because Pueblo was too small, with no job opportunities, and the education system also lacked good schools.
As I mentioned earlier, I had planned to rebuild my family with Trần Thị Quyên in Saigon. Quyên was an old classmate of mine, when I went back to school in 1959 to take the baccalaureate exam and enter university. Quyên held a Bachelor's degree in Literature and a degree in Advanced English. At the time, Quyên was an English professor at a public high school in Saigon. I had known Quyên since my school days. However, from 1966, when I was still a Captain preparing to study abroad
In the US, I had lost touch with Quyên because I was afraid my wife would misunderstand our communication. It wasn't until after 1976, when my wife had passed away and I was considering remarriage, that I thought of Quyên again, but I no longer had her address.
I only vaguely remembered that she lived in an alley on Phan Thanh Giản Street, Dakao, Saigon. The letter was simple, but it reached her and she responded. She had great affection for me and wanted to start a family with me. She sent me fake marriage documents between us, with the intention of helping me create a family reunification file.
The file had been processed through the US Embassy in Thailand, and everything was almost finalized when I discovered... that she was already married.
Memoirs of the Nguyen Family
and had a child. Her husband was a Navy Lieutenant of the VC, so
I had to end it immediately.
I believed that morally, I shouldn't interfere with someone's marital relationship. Especially when they already had a child together.
I sent a telegram to her, lying that I had been waiting too long, so I had already started a family. She was very sad and asked me to continue sponsoring her and her child to come to the United States for a better life. However, I couldn't do it because I didn't want to be involved in separating a husband and wife, and it would also cause legal troubles in the United States.
I'm not sure what Quyên's life was like starting from 1980, because we no longer had any contact with each other.
Before 1980, I would occasionally go to Washington D.C. to help my brother Minh with his business or look after his restaurant. I still remember a friend who used to work at the Vietnamese Consulate in a neighboring country. He introduced me to a woman who was once the second wife of a Vietnamese millionaire. She was also in her 40s and was eager to have a Vietnamese husband. She didn't like American men. My friend told me that she had at least $10 million in her hands. He was planning to arrange a meeting between us, to take me to meet her in
a city in the Washington D.C. area. I frankly declined, as I didn't want to be known for gold-digging!
And from then on, I didn't meet or have any further contact with him. Additionally, there were also some women who appeared to be very elegant and came to meet me, wanting to get to know me, but I had already left Washington D.C. and returned to Denver.
A, Reunion with Lương Thị Yến:
On one occasion, while visiting the home of Hồ Châu Tuấn and his wife, they told me about a respectable family in Pueblo. The family consisted of an elderly gentleman and his two daughters. After chatting and exchanging ideas, Hồ Châu Tuấn suggested taking me to Pueblo to visit and meet them. I agreed.
Family Memoir of the Nguyen Family
When we arrived at their home, it was already past noon, and they had just finished lunch. Mr. Sang invited us to join them for lunch for convenience. Tuấn happily accepted, as they were already acquainted. The two of us ate lunch together naturally, as if we had been close to Mr. Sang's family for a long time.
In Mr. Sang's family, there was only him, Phượng, Yến, and little Lũy. Because Phượng was petite, I thought Yến was the older sister and Phượng was the younger one. I don't know why, but when I met Yến, even though she was sitting far away, her profile resembled Hạnh's, so I immediately took a liking to her, even though I didn't know her personality or behavior yet. Due to that affection, I decided
I made plans to meet Yến in the future. After getting to know each other and developing feelings for one another, I coincidentally discovered that Yến was still very young compared to me. We weren't of the same generation, and I found myself torn.
One day, I openly discussed my concerns about our age difference with Yến. At the same time, I suggested that we just remain acquaintances and not consider marriage anymore. Yến responded by saying that it didn't matter, we should still move forward on our own path, and that she believed it was our fate. Since it was meant to be, worrying about the age gap was no longer an issue.
However, I still had my doubts. I realized that the laws of life and morality do not have any provisions that prohibit marrying someone younger than oneself. With that thought, we proceeded with the wedding plans.
As for me, I had discussed the matter with my children. Yến and I went to meet the priest in Pueblo, and we filled out a commitment form, deciding to have a child together, according to the paperwork provided by the priest when we went to inform him of our intentions.
We got married on Saturday, January 30, 1982. During the wedding ceremony, there were priests and
Memoirs of the Nguyen Family
The wedding ceremony in Vietnam was officiated by Trần Văn Minh, and several American guests, friends of Yến's family, attended in large numbers. My children, grandchildren, and great-grandchildren gathered in full force. Uncle and Aunt Toàn were present, along with their son Liễu, and Yến's siblings. After the ceremony, we invited Father Sở, Father Minh, and our relatives to a celebratory lunch at La Renaissance restaurant in Pueblo, where Yến works every day.
Upon returning to Denver, we hosted a reception to introduce Yến to our close friends. During the party, many friends jokingly teased us,
full of laughter and joy, marking a new chapter in our lives.
To save on expenses, we rented a large room at the Recreation and Park Center of the Aurora City Hall. We asked some acquaintances who were skilled in cooking to bring dishes to share. Among them, I would like to thank Mrs. Trần Trường Châu and Mrs. Nguyễn Điều, who had kindly helped us make the party a success.
After the wedding ceremonies were completed, I asked Yến's family for permission to take her to Denver. We had discussed with Mr. Sang
So, I decided to move my family to Denver, where the environment is more suitable for the kids' education and will provide better job opportunities in the future. My wife agreed, and we proceeded with the relocation to Denver, Colorado.
After two years, when we had bought a house in Aurora, I invited my father-in-law, Lương V. Sang, to come live with us. At that time, we had a baby boy born on October 11, 1983, named Nguyễn Đình Joseph, nicknamed Cu Bờm. The presence of my father-in-law in the family helped us a lot, as both my wife and I were working, and the baby had no one to take care of him.
Memoir of the Nguyễn Family
At home, caring for her. We can never forget her kindness.
I truly loved and took care of her during her days of illness. However, due to a severe disease (lung cancer), she took her last breath on August 25, 1993, at the age of 74. She was then laid to rest at a cemetery in Boulder.
Her grave is located near the grave of Cảnh, her youngest son, and the grave of her aunt, which was recently brought over from Vietnam by Vinh and also buried in this cemetery.
After being in Denver for a while, Yến applied for a job at the Marriott restaurant in downtown Denver. The pay wasn't high, but it was something to do to alleviate boredom. Later, when the Post Office announced an exam for new hires, Yến submitted an application and passed the test, so in 1986, she was called to work at the Post Office.
Yến's personality was such that when talking at home, she would say whatever came to mind, and she was also very indulgent with the children. However, when interacting with outsiders, she was polite in conversation. For Yến, the children came first, but she was lazy about attending Sunday services. I often prayed for Yến to change in this regard.
C, Buying a House at Peoria Park, Aurora:
In 1995, we sold our house at 16156 E. Baker Place, CO. 80013, and bought another house on Evans Ave. Aurora, CO. 80014-1148. We are currently residing here as I write this Memoir.
This is a relatively spacious house (2,350 Square feet). The house has two floors, the upper floor has 4 bedrooms, the lower floor has a large living room, a moderately sized dining room, a large kitchen with a nook for a dining table, and a relatively spacious family room. The house also has a basement that is as large as the two floors above, used only for storage.
Family Memoir of the Nguyen Family
19. MY CHILDREN:
I would like to bow my head in gratitude to God for giving me 12 children, 11 of whom were born to Anna Nguyễn Thị Hạnh, my virtuous and kind-hearted wife. The 12th child was born to Maria Nguyễn Thị Yến in the United States. In general, my beloved children are all kind, loving, and respectful to one another and to their parents.
A, My eldest child is PhaoLô Nguyễn Đình Thường: Born in 1949. When Hạnh was pregnant in Đồng Hới, close to the due date, I had to send Hạnh back to her hometown in Đơn Sa village, to follow the traditional customs.
The traditional notion "a child returns to its mother's home" has been around for thousands of years. Sister Huệ (Aunt Ký), Hạnh's older sister, took Hạnh back to their village. The entire household of Hạnh's maternal grandparents was overjoyed, pampering and caring for Hạnh with utmost attention, not allowing her to do any heavy work, refraining from excessive play, and ensuring she moved about gently and slowly. As soon as Hạnh's pregnancy began to show, the whole family rushed to kneel before the altar, praying to God for a safe delivery. After the birth, Hạnh's grandparents showered their grandchild with love and affection, truly "handling them like fragile eggs, and welcoming them like precious flowers." Some time later, Hạnh and our child returned to Đồng Hới to live with me. I decided to move to Huế to work at the Thừa Thiên Public Security Bureau, at the invitation of Hoàng Bá Linh, the Bureau Chief. Therefore, in the year
In 1950, my family and I moved to Huế. Hoàng Bá Linh had allocated two rooms for me in the annex of the Ty. We lived comfortably, as our family consisted of only my wife and me, our son Thường, and a young helper named Nguyễn Thìn. Thìn took care of the household chores and looked after our child. Nguyễn Thìn was a very capable boy. On his own, he dared to wade into the lotus pond to pick tubers, climb tall trees to break off dry branches for firewood, and so on.
When we first arrived in Huế, we lived in the agricultural garden of the Thừa Thiên Public Security Department. Thường was still too young to attend school, so he would spend his days being taken on outings by his mother or Thìn. As a child, Thường had a habit of eating lime and dirt from the walls, perhaps due to a lack of calcium in his body?
Family Memoirs of the Nguyen Family
When I was around 5 or 6 years old, at preschool age, my father took me to the Kim Long brothers' school, where I would board and study. Two days later, Father came back to check on my academic progress. I was sitting in class when I saw Father's car arrive at the school, and I quickly jumped out of my seat, ran out to the yard, and hugged Father tightly, insisting on going home and refusing to attend class anymore. Father had to ask the brothers to let me go home for a while, as I was still young and missed my parents and siblings after being away from home. Later, when I was 7 years old, I was sent to live with the Kim Đôi sisters in Truồi, along with my siblings Hương, who was 5 years old, and Tuấn, who was 3 years old, so we could be together, and Mother was about to give birth to my sister Hằng.
Personality: Yến is kind, soft-spoken, content, and uncompetitive, and she loves her parents and siblings dearly. Born intelligent, but for some reason, she was lazy in her studies when she was young. Perhaps it was because she had ear infections as a child, and at that time, there was no suitable medication to treat it promptly, which may have affected her health, making her feel tired and lethargic? However, she has a remarkable memory. Once she travels a route, it's forever etched in her mind. In addition to being kind, soft-spoken, and unpretentious, she is also a skilled photographer, polite, and hospitable, always willing to help her friends wholeheartedly. Due to her sincerity and kindness towards others, she sometimes encounters people who take advantage of her, which can be considered exploitation.
When Thường was little, one day Uncle Minh came to visit and saw Thường looking sad, sitting alone. He asked, "What's wrong, little Thường? Are you sad?" Thường replied, "Yes." Uncle Minh asked, "What's wrong?" Thường naturally said, "I'm sleepy!" Uncle Minh laughed and was speechless.
Thường got stuck in Vietnam after 1975 and got married to Nguyễn Thị Niên, the daughter of Mr. and Mrs. Nguyễn Thọ, on June 9, 1975, in Phú Nhuận, Sài Gòn, more than a month after we evacuated.
Mr. and Mrs. Thọ were people of good morals and integrity. Sister Niên came from a well-educated family, was the granddaughter of Mr. and Mrs. Tư Chữ, and the great-granddaughter of her paternal grandfather.
Memoir of the Nguyễn Family
Mrs. Bang Nghiệp, were renowned and respected individuals in our village, with whom we had intended to form a marital alliance when Mr. and Mrs. Thọ were working at Hue University, and Niên was studying there. It can be said that Thường's marriage was arranged by his parents in accordance with Vietnamese customs and traditions, and naturally, with his consent.
The 1975 incident disrupted everything. Mr. and Mrs. Thọ and their family had to flee from Hue to Saigon to take refuge for a month before Hue fell in March 1975. Subsequently, Saigon fell on April 30, 1975. We were forced to evacuate and leave the country.
Outside, I had planned for someone to pick up Anh Thường on April 30, 1975. However, when the person arrived at the house on Trương Tấn Bửu street, Anh Thường was absent, playing at his grandparents' house in Pétrus Ký, so the pickup could not be carried out. As a result, he was stuck in Sài Gòn. And also because he was stuck, he ended up getting married to Nguyễn Thị Niên, arranged by his grandparents as previously planned, but due to the circumstances, it had not been implemented. The wedding of Anh Thường and Niên was held in the years after the fall of the homeland at Phú Nhuận parish church, so all the arrangements and organization were simple, because at that time, we had not yet been in contact with each other, between the countries.
At home and abroad.
Nguyễn Thị Niên is a virtuous and resourceful girl who knows how to take care of her family. Although she didn't directly handle the wedding arrangements, we have great faith in the wisdom of Mr. and Mrs. Thọ. Because they are capable and know how to react promptly in difficult situations.
They have taken good care of their two children in a thorough and excellent manner. We are grateful to them. Unfortunately, as I write these lines, they have passed away.
In this moment, my spirit is solemn. I would like to express my gratitude to my elder siblings for taking full care of the younger ones. I pray that God blesses them with goodness in the afterlife.
Memoir of the Nguyễn Family
My wife and I have two children, a girl and a boy.
Our eldest child, a girl, is named Nguyễn Đình Tuyết Trinh, born on April 14, 1976. She is beautiful, intelligent, and has a lovely singing voice… She graduated with a 4-year degree in Art Science from the University of Boulder, Colorado. Tuyết Trinh got married to Nguyễn Công Danh, the son of Mrs. Nguyễn Công Sum, on August 25, 2001, and they have two beautiful daughters, Melody and Stella Nguyễn.
Our second child is Dominic Nguyễn Đình Quốc Nguyên, born on August 9, 1977. Currently, Nguyên is working at the Denver Post Office. In April 2010, Nguyên got married.
For the second time in Vietnam, after her first marriage ended in divorce. The couple got married in Bình Thuận, and the bride, Hồ Hồng Phương, was well-liked by everyone and cherished by the groom's family.
B, The second child is Nguyễn Thị Thanh Hương, whose pen name for literary and artistic activities and painting is Diễm Châu (Cát Ðơn Sa):
Born on July 12, 1951, in the inner city of Huế. At that time, I had just passed the military entrance exam with the rank of Junior Lieutenant. I was assigned to work in Quận Bắc, stationed in An Lỗ, Thừa Thiên. After working in Quận Bắc for about five months, the district was dissolved, and I was transferred back to the Võ Phòng.
The Premier of Central Vietnam.
When my wife gave birth to Thanh Hương, my mother-in-law had to travel from our village to Huế to take care of her. I felt sorry for my mother-in-law, who was busy all day taking care of her child and grandchild. Besides Thanh Hương, there was also Thường, who was only two years old at the time. In the house, we had Thìn, the son of Mr. and Mrs. Biện Sửu from our village, who came to help with household chores. As a boy, Thìn didn't help much either. He even wanted to earn some extra money, so he asked permission to sell crème caramel in the morning and would only return to help my mother-in-law in the afternoon. Everyone knows that life in Vietnam at that time was still primitive, with no washing machines, dryers, or indoor toilets. Every day, my mother-in-law had to take the dirty clothes and diapers to the An Cựu River to wash them.
Memoir of the Nguyễn Family
She would wash clothes. The situation was really difficult for an elderly and frail woman, plagued by illness. However, my grandmother still persevered, remained cheerful, and her face always wore a bright smile. Fortunately, she never slipped and fell into the water. Yet, she never complained or expressed any reluctance to endure hardship.
The love and devotion of Vietnamese mothers towards their grandchildren are truly selfless. How noble! It's a shame that some modern mothers have been Westernized - I emphasize "some" - because the sacrificial love of Vietnamese mothers for their children remains unchanged.
Thanh Hương grew up quickly, lively, and often smiled like her grandmother.
When she was little, she liked to pose, choosing to wear beautiful clothes and shoes, often admiring herself in the mirror, and styling her hair. She also liked to tidy up Anh Thường's clothes and take em Tuấn out to play... Also, due to her habit of carrying others, there was a time when 9-year-old Hương carried 18-year-old sister Lan, the adopted daughter of aunt Ký, who had a crippled leg and walked with a limp, and after a month of treatment at Grall hospital with no improvement, her mother was worried and had to listen to others' advice to take her to a traditional healer. The healer dug up a type of root, brought it inside, soaked it in wine, and sprayed it onto her leg three times. The next day, the limp was gone! It was truly strange!
Hương was sensitive and had a creative mind, singing from a young age. Every day, she would observe the kitchen work as instructed by her mother, but she didn't pay much attention to learn, and instead, she would think deeply about other things.
Everywhere... When we were little, whenever Father came home from work, as soon as the Jeep stopped in front of the door, we would run out to greet him according to Mother's instructions. One of us would go get his sandals, another would put away his shoes, and we would be running around, looking really adorable. A bit older, Father and Mother sent Thường, Hương, and Tuấn to school with the Kim Đôi sisters in Truồi when they were still very young, then to Lasan Tabert, Providence, Regina Pacis… or to schools run by fathers, and so on, with the goal of being taught according to the path of holy morals. Thanh Hương also got to attend school with the sisters.
At that time, there were many schools run by sisters that were willing to accept my children. The reason is also easy to understand, because the fathers and the sisters...
Memoir of the Nguyễn Family
The priests and nuns from various orders were all assisted by Father with transportation means provided by the military to build their churches, monasteries, and schools. As a result, they held Father and Mother in high esteem and tried to persuade them to send their children to their schools, making it easier for them to request help with transportation. I was also aware of this. However, the cost of room and board, as well as tuition, was always paid in full by my wife, never taking advantage of any favors, which earned us the respect and admiration of the brothers and sisters.
When it was time for high school in Sài Gòn, Father sent Thanh Hương to study at Saint Thomas on Trương Minh Giảng Street, Sài Gòn. At that time,
Now Hương is 17 years old, a transitional age. Hương got to know Nguyễn Xuân Nam (also known as Quốc Nam).
We had intended for our daughter to marry someone we knew, having made plans with her parents in advance, even though she was still young and her education was not yet complete. However, she did not agree with this arrangement.... As a result, while she was in school, Hương had many suitors.... In order to win her hand, Quốc Nam's parents came to our house wanting to organize an engagement ceremony. We knew that Thanh Hương was still young and not yet aware of what marriage and family life entailed.
However, the groom's family wanted to proceed with the wedding. We did not give a response because Thanh Hương was still in school, and at that time
There were also a few other relationships that I was asked about. In the end, I agreed because Quốc Nam was a former officer and a junior from the same class, Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, Class 22.
After a period of living together, the two divorced in 1987 in the US. Hương and Nam had three children: Nguyễn Xuân Diễm Thu (BiTy), Nguyễn Băng Trinh (Bé Ly), and Nguyễn Việt Long (Cu Bee).
Later, in 1995, Thanh Hương married Võ Hùng Kiệt, also known as the artist Vi Vi. Vi Vi is a renowned painter and sculptor in Vietnam, a Canadian citizen, now residing in the US. He has created many large paintings for various churches.
Family Memoirs of the Nguyen Family
My and ViVi's works abroad, including valuable sculptures.
When they first lived together, Hương worked very hard... because ViVi had just arrived from Canada and was still unfamiliar with the new land. At the same time, Hương went to work and managed the "Phụ Nữ Thời Nay Hải Ngoại" newspaper in San Diego, with ViVi handling the presentation and illustrations... Just like Hương organized many radio programs, cultural events, and published books of poetry and literature.... with the goal of introducing the activities of artist ViVi to the Vietnamese community in the USA.
This is a cultural preservation effort that requires a lot of hard work and dedication.
Just a fleeting fame that brings joy to life, but in reality, it has no practical benefit for daily living. To this day, Hương still runs a website dedicated to painting, called www.hoasivietnam.com, which many art-loving readers visit... simply because of her passion for the arts!
As for Thanh Hương's children, as mentioned earlier, there's Nguyễn Diễm Thu (BiTy), born in 1970 in Saigon, a beautiful and intelligent eldest daughter who is independent and hardworking, despite facing difficult circumstances. She graduated from San Jose University with a degree in Business. BiTy is also talented in photography and is very professional.
On May 24, 2004, BiTy married an American man named Brett Krosgaard, the son of a doctor. Brett works...
He works in the Real Estate industry. They have two lively sons, Eliot, born in October 2005, and Kai, born in 2007. Kai was chosen by an American milk company to have his picture advertised on their milk cartons. Diễm took that very artistic photo. Diễm and Brett's family currently resides in Austin, TX.
I still remember when Diễm Thu was born at Đức Chính Hospital in Saigon, Hương had labor pains during the curfew and had to be taken to the hospital in her father's jeep. My grandmother was always by her side at the hospital. Because the baby was too large, the doctor had to use a vacuum extractor several times before she could give birth. When she was born,
Memoir of the Nguyễn Family
Outside, BiTy's head was elongated. The next morning, my grandfather, dressed in his uniform, came to visit and saw the child's appearance, which made my grandparents very worried. My grandmother asked him to ask the doctor, and the doctor said, "Please, both of you, be at ease, the baby's head will return to normal in a little while. Don't worry..."
Despite this, my grandparents were still worried as usual. My grandfather, due to his military duties, had to bid farewell to the baby and everyone, driving back to Long Bình Base. My grandmother and Aunt Ký (my grandmother's sister) stayed with my mother and the baby in the hospital until everything was calm and settled. About one or two hours later,
My father-in-law called again to ask about my daughter's condition. When he heard that her fever had returned to normal, he was overjoyed and visited her at the hospital that afternoon.
The second daughter of Thanh Hương is Helena Băng Trinh Nguyễn (Bé Ly), born in 1971. Bé Ly is beautiful, has a lovely personality, and speaks very softly... When she was little, she would play at the neighbor's house for a bit, then run back to hug her mother before continuing to play... When she was young and eating rice, if there was a chicken leg or something delicious, she would save it to eat last... Bé Ly has a son named Joseph Nguyễn, born in 1990, and later married a young Vietnamese-Chinese man named Dennis, and they have two more children, a girl named
Juliette Hạnh Nguyễn was born in 1998, and a son named Matthew Nguyễn was born in 2001. Joseph Nguyễn completed an excellent military police officer training course and is a former student of West Point, NY.
Baby Ly passed away on February 26, 2002, at the age of 31, in a tragic car accident, leaving behind very young children who were still unaware of the world. This was a regrettable loss for the family.
The third child, Nguyễn Việt Long, was born in 1981 in Seattle, WA, and is often called Bam Bee at home. Việt Long also graduated from the University of California, Santa Cruz, and currently works in Irvine, CA. He is loved by his grandfather, mother, and uncles. Long is still single and has been working since his graduation.
Memoir of the Nguyễn Family
Thanh Hương has many talents in the arts, such as singing beautifully from a young age, but we only allowed her to sing at the Sao Mai school and the children's choir at the Đà Nẵng Cathedral. Later, Hương went on to sing and was given the title "Dân Ca Chi Bảo" by the press, and released several cassette tapes and 7 CDs of poetry and music. In addition, Thanh Hương also writes, publishing short and long stories... under the pen name Diễm Châu TNQG, and many other pseudonyms.
Now, living with ViVi, she has also "picked up" the profession of painting, even though she never learned from her husband... her paintings are quite beautiful, and I often see her artwork featured on magazine covers all over the world.
Every time I visited Hương Vi's home... Those paintings were signed by Hương as Cát Đơn Sa to remember her village, Đơn Sa, Quảng Bình. The couple often attended exhibitions together, traveling everywhere. Apart from her innate talent for music, writing, and painting, Thanh Hương is also skilled in cooking and decorating. She cooks delicious food, takes care of everything in the house, cleans and tidies up from inside out, and even handles the family's bill payments. With many talents and responsibilities... but currently, the family is peaceful and happy. This is the child with the most artistic personality and connection to the term "artist" in our household. Hương and ViVi's family currently resides in San Diego, California.
C, Our third child is Phao Lồ Nguyễn Đình Tuấn, born in 1953 in Tam Tòa (Đồng Hới, Quảng Bình), when I was attending the 8th course at the Liên Quân Đà Lạt Military Academy. At that time, we were fortunate to have my wife's older sister, aunt Ký, taking care of everything, both inside and outside the home, and also helping with the children, including my wife's childbirth.
Aunt Ký played the role of a mother, taking care of our daughter. Her kindness to my family is immense, and we and our children are forever grateful to her. It seemed that at that time, uncle Ký was living outside the village. Later, he moved to Đồng Hới to work as a driver and was often away from home, which is why aunt Ký had more time to take care of my family.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
At that time, Dượng Ký was a strong and healthy young man, diligent in his work and taking care of his family, even though he and his wife had not had any children despite being married for a long time. Anh Ký was a kind, gentle, and virtuous person. He also loved and worried about my family very much.
When our family immigrated to the US in 1975, anh Ký fell ill with a terminal disease and passed away later. His daughter, Phượng, was resourceful and quick-witted, just like her aunt when she was a young woman.
Nguyễn Đình Tuấn was very mischievous when he was little. He suffered from a navel infection, and despite being treated with many types of medicine, it still discharged fluid. My mother and Dị Ký had to clean and dress the wound with iodine every day and apply powdered medication. Fortunately, after a while, the navel dried up and healed completely.
When he was little, Tuấn loved to play with electricity. He would plug anything into an outlet. His parents scolded him repeatedly, but he still disobeyed and continued to play, plugging everything he could into the outlets.
One day, the little boy held a wire, who knows where he got it from, and plugged it into an outlet. His hands fumbled around, and he got a shock. He cried out loud, his face turned pale. From then on, he never dared to touch electrical wires or outlets again. The painful experience was a valuable lesson. However, fortunately, it was low-voltage electricity. If it had been high-voltage, it would have been very dangerous and potentially life-threatening.
When Tuấn was three years old, there was a time when his parents let him follow Anh Thường and his sister...
Hương attended boarding school in Truồi because her mother was pregnant with sister Hằng. Tuấn, who missed his mother, clung to Hương like a tail, eating and sleeping together, and even wetting her clothes while sleeping. When the sisters asked, "Why did you do that?" Hương naively replied, "Maybe it's because of the hot weather, I sweat a lot!" Later, her parents sent Tuấn to study at the Tabert Brothers' School. He studied hard and was diligent. Tuấn passed the French certificate when he finished the 4th year (Brevet complémentaire). After passing the brevet, Tuấn was transferred to Chu Văn An High School to prepare for the Baccalauréat exam. After graduating with a full baccalauréat degree, Tuấn was accepted into Minh Đức University to pursue higher education.
Memoir of the Nguyễn Family
regarding the "Agricultural Department". Minh Đức University at that time was headed by Reverend Bửu Dưỡng as the President.
Tuấn was in his third year of study when the April 30, 1975, incident occurred, and he had to evacuate with his family to the United States. This family evacuation did not include Father, so all matters were entrusted to Tuấn for guidance and responsibility. The reason was that Mother could not speak English, while the younger siblings were too young. All contacts with America were represented by Tuấn. As for Father, he had to stay behind to fulfill his military duties until the end.
Upon arriving in America, the family settled in Springfield, MO, because it was a small city.
Since there were no good colleges, in 1977, a year after my mother passed away, our entire family moved to Denver, Colorado. At Metropolitan State University of Denver, Tuấn graduated as an electronic engineer.
To tell the story, Tuấn's education was truly a struggle. When we first arrived in the United States, in the city of Springfield, Missouri, Tuấn had to attend school while working as a car washer. After a while, he started working for a car dealership. His daily job was exhausting, and he had no car to commute, so he had to walk. Fortunately, an American woman later lent him a bicycle to ride to work. Before leaving Springfield, Tuấn thoroughly cleaned the bicycle and returned it to her.
again thanked her with warm gratitude.
When Tuấn was still in high school in Sài Gòn, he got to know a girlfriend, Hoàng Thị Nga, the daughter of Hoàng Quốc Lữ. In fact, I was very familiar with Hoàng Quốc Lữ. He used to work at the Công Thự Tạo Tác Huế, and moreover, Lữ was the younger brother of Hoàng Chuộng, who was a close friend of mine. We knew each other when Hoàng Chuộng was still working at the Phòng Tổng Quản Trị Quân Khu 2 Huế. However, when I heard Tuấn say that Nga was the daughter of Mr. and Mrs. Lữ, I didn't know which Lữ he was referring to, because the name Lữ was poetic and many people used it. I met Captain Trần Thừa, an officer who worked under my command. Captain Thừa asked:
Memoir of the Nguyễn Family
- I heard that Colonel is about to arrange a marriage for Tuấn with a girl named Nga, the daughter of Major Lữ, isn't that right?
I asked back:
- Which Major Lữ are you talking about?
He replied:
- Major Lữ works at the General Political Warfare Department. He's the brother-in-law of Lieutenant General Trần Văn Trung!
Saying that, I still had no idea who Major Lữ was.
In the final days of the Republic of Vietnam, I received an order from the Third Television Bureau to take over the facility of the International Commission in Vũng Tàu.
Upon arrival, the Vũng Tàu Creative Zone, led by Captain Lữ, was ready to hand over the facility. We met, got acquainted, and shook hands before proceeding with our duties. I was completely unaware that Captain Lữ was Nga's father, so I remained composed and ordered the Vũng Tàu Military Transportation Zone to take over the barracks. The purpose of the 3rd Tactical Zone Command and our 3rd Military Transportation Zone Command was to utilize this barracks as a gathering point for several families of officers, non-commissioned officers, and soldiers to evacuate to American ships at the last minute. If I had known that Captain Lữ was Nga's father, the plan would have been even more favorable, as I had an entire fleet of LCM8 vessels from the 5th Transportation Region that had arrived and were under my command.
my nephew.
It wasn't until I came to the United States that I was surprised to discover that Captain Lữ was actually the father of Nga, Tuấn's girlfriend.
After settling down in Denver, Tuấn was able to get in touch with Nga at Iowa University. As agreed upon by both families, an engagement ceremony between Tuấn and Nga was held in the city of Clinton (IA).
I still remember, we departed from Denver, accompanied not only by our relatives but also by some friends, including uncle Sum and uncle Miên. Upon arrival, aside from recognizing Captain Lữ, whom I had no idea was Nga's father back in Sài Gòn, we also found out that Captain and Mrs. Lữ were hosting
Family Memoirs of the Nguyễn Family
We were invited to the wedding of their eldest daughter, Mai. We attended as reluctant guests.
However, during the wedding reception, we were formally introduced as guests from Denver, Colorado. Everyone welcomed us with warm applause. When it was time for the entertainment, the MC invited the Denver delegation to dedicate a song to the bride and groom on their special day. The Denver delegation appointed Trần Trường Miên, our representative, to perform a heartfelt song called "Nỗi Lòng".
Miên took the stage with Nguyễn Công Sum accompanying him, also to encourage and cheer him on. But unfortunately, throughout the entire performance,
The road to Miên seemed to have enjoyed too much wine, appearing somewhat drunk. He tried to sing but couldn't produce a sound. After several attempts, he still couldn't sing, so he had to apologize and leave, citing that he had caught a cold on the way. The audience was sympathetic.
Next, a guest representing Iowa stood up to perform a return song. The music was sung beautifully, from the sound to the performance. The Denver delegation was embarrassed, while the "Miên" team retreated backstage, already snoring away contentedly.
I'm writing these lines to commemorate the joyful memories and cherish the close bond between us. At the same time, I would like to offer prayers for anh Trần Trường Miên, who has also passed away.
The wedding party ended around 6 pm. At 8 pm, the engagement ceremony began at the Lữ family's residence. We presented the gifts, along with a tray of betel nuts and wine, and expressed our request to hold the engagement ceremony for Tuấn and Nga.
After the bride's family accepted the gifts, everyone joyfully raised their glasses of champagne to toast the young couple's future. The engagement party was attended by Lieutenant General Trần Văn Trung's wife, Madame Hoài Nam, who had arrived from France with her young son, around 9 or 10 years old.
The purpose of her trip to the United States was to attend her niece Mai's wedding and to join in the celebration of Tuấn and Nga's engagement.
Memoir of the Nguyễn Family
By 1980, the Lữ family had moved to Houston and opened a grocery store. It was also the year when Tuấn and Nga's wedding ceremony took place in Houston on May 24, 1980.
I still remember, we traveled from Denver to Houston in a van. At that time, in late May 1980, the weather in Denver was cool and pleasant in the spring. However, as we drove into Texas, the weather became sweltering... and by the time we arrived in Houston, the air was hot and humid, terribly so. Moreover, the van was not equipped with air conditioning.
We arrived in Houston a bit late, so most of the restaurants and shops had already closed, while we had to hurry to make the most of our time, fearing it would get too late. We were guided by Tuấn to the hotel that had been pre-booked. Exhausted from the journey, we ate hastily and soon fell into a deep sleep.
I managed to sleep for a while before waking up with a stomachache, and I got up to use the restroom. Afterward, I felt a chill all over my body. I was extremely weak and stumbled out of the restroom, losing my balance and falling unconscious in the middle of the room.
Fortunately, at that time, the young adults like Đạt, Tuấn, Tiến, Hiệp, and others were still awake, chatting and socializing. They immediately rushed to my side and helped me, and Tuấn quickly called for emergency assistance.
They immediately rushed to help me up. But I was too exhausted, so they laid me back down, turned off the air conditioner, gave me a massage, and applied a warm balm. They rubbed and kneaded me for a while, and I eventually came to. Every time they massaged a part of my body, it felt warmed up and revitalized. Thanks to these strong and energetic young men, I quickly regained my strength.
When I fell to the floor, feeling physically drained, I thought to myself that I wouldn't be able to attend the wedding the next day, which would be disastrous. As I was the master of ceremonies for the groom's side, my absence would have been a problem. However, thanks to God's mercy, I was helped by these young men, the children and grandchildren, who brought me back to a state of peace and tranquility.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The next morning, I still felt normal, as if I had just had a good night's sleep. I quickly washed up, changed my clothes, and got ready to go to the church to attend the wedding, like a healthy person. The wedding ceremony was held beautifully at the Holy Church. There, I encountered a rare amusing story. As I was standing in front of the church door to welcome guests arriving for the ceremony, I met many strangers from Houston whom I didn't know. I then turned to a well-dressed young man, the son of Mr. and Mrs. Lữ, and said:
"Please go into the church and ask your father to come out to greet the guests from Houston, because most of the uncles don't know who they are."
The boy replied:
- "Yes, sir, but who are you?"
I had to answer:
- "I'm Tuấn's father!"
Then he ran into the church to invite Captain Lữ to receive the guest.
After the wedding, Nga moved to Denver to be with Tuấn. Over time, Tuấn and Nga rented one apartment after another. Then they bought a house at 10720 Julian Ct, Westminster, CO 80030.
Finally, in 1999, Tuấn and Nga purchased a plot of land and built a custom house on Pecos Street, Westminster, CO 80020, located north of Denver, around 145th Avenue.
Tuấn and Nga's family also has a son named Việt, who is Nga's older brother, making their family very lively and happy.
Tuấn and Nga had their first child, a son, in March 1981, and named him Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, with the nickname "Cu Mun".
Both the maternal and paternal families were overjoyed for Tuấn and Nga.
On the day of the child's birth, his grandfather visited and, seeing his newborn grandson with healthy, dark skin, promptly gave him the nickname "Cu Mun".
This nickname has been used by the family as a term of endearment to this day, even though Mun has grown up.
He has a talent for ice skating and has participated in many Ice Skate competitions, with numerous certificates of achievement displayed at home.
He graduated from university in 2009 and is currently working.
Family Memoir of the Nguyễn Clan
The second grandchild of Tuấn and Nga is also a son, named Nguyễn Hoàng Thiên An, alias Alan, nicknamed Cu Bi, born in March 1987. He's quick-witted, mischievous, and charming...
Tuấn and Nga already had two sons and wanted a daughter to bring more joy to the family, so they whispered to each other about it. However, they were afraid that if they tried again and had another boy, they might have to "shave their heads and become monks" and keep earplugs on hand at all times, given their experience with Cu Bi, who was very naughty when he was little and could disturb the whole household by himself. Fortunately, Tuấn and Nga were lucky this time, and God granted them a beautiful baby girl, just as they had wished.
Baby Nguyễn Hoàng Như Ý, nicknamed Huyền, was born in May 1994. Both sets of grandparents were overjoyed and hoped that as she grew up, Như Ý would become beautiful and well-behaved, obedient to her parents, loving towards her siblings, and especially respectful and affectionate towards her grandparents. Now (2014), Như Ý is studying dentistry, working hard to excel and make her parents, siblings, aunts, uncles, and especially her grandparents on both sides proud of their child and grandchildren. The Tuấn Nga family currently resides in Westminster, Colorado.
The Fourth Child of Ours is Anna Nguyễn Thị Thanh Hài, born in Huế on June 5th.
1955. After we evacuated from Đồng Hới to Huế, following the Geneva Accords (July 21, 1954), we purchased a house near Canh Nông, Thành Nội Huế, from First Lieutenant Chung, which became our residence. Thanh Hài was born in this house.
At that time, in Huế, there was a custom where women would give birth at home, inviting only a midwife (sage femme) to assist the mother in childbirth. Previously, I had intended to take my wife to the Central Hospital of Huế, but the hospital was too far away, and private maternity clinics were scarce in Huế at that time. Moreover, my wife wanted to give birth at home with the help of a midwife and did not want to go to the hospital. At the time, I had two female helpers at home. One went to the market and cooked, while the other took care of the household chores.
Memoir of the Nguyễn Family
That evening, my wife went into labor, and I quickly went to pick up the midwife. In the private room, only the midwife and I assisted with the delivery. In less than an hour, the birth was complete. The mother and child were both healthy, and we thanked God for his blessings.
With our first three children, my wife's mother or Aunt Ký was always present to care for her during childbirth, providing her with peace of mind. This time, however, the midwife was a stranger, and we had no relatives around, so I had to be present to boost my wife's morale during this challenging time. As the Vietnamese proverb goes, "Men crossing the ocean have good and bad days, but women crossing the ocean suffer alone!" This means that when women give birth, they often have to endure it by themselves.
It's like navigating a difficult sea with waves and storms alone. Therefore, it's essential to have loved ones by your side. For me, this was the first time I had to witness and assist the midwife with my wife's childbirth. In reality, I was just a helper for the midwife, tasked with fetching a towel, passing a sterilized knife or scissors, handing over a cord that had been disinfected with alcohol for cutting the umbilical cord, giving her the prepared clothes and socks for the baby, and especially taking care of the pot of warm water for the mother and child after birth. I had become a reliable assistant for the midwife.
The newborn baby was named Thérèse Nguyễn Thị Thanh Hài.
The baby was lovely, with a high nose, an oval face, and a gentle demeanor.
After Thanh Hài was born, I was assigned to establish the newly formed 251st Transportation Battalion, stationed south of An Cựu Bridge in Huế. I relocated my family to a villa within the unit and sold our house in downtown Huế.
As Thanh Hài grew up, she became increasingly beautiful and well-behaved. When we moved to Saigon, her parents sent her to the Regina Mundi school run by nuns, and later transferred her to the Thiên Phước school (in Tân Định) run by the Soeurs. Thanh Hài had many close girlfriends, but her closest friend was a classmate named Thy Vân, the daughter of musician Anh Bằng. The two girls seemed very close, often spending weekends at each other's homes. Thy Vân also relocated to the United States and is currently
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The Director of Asia Records, a major Vietnamese music label in the overseas Vietnamese community, based in Southern California.
When Thanh Hài came of age, many families expressed interest in forming an alliance through marriage, but Thanh Hài was still in school. One day, a young doctor from Central Vietnam, introduced by Uncle Minh, visited our home in Sài Gòn with the intention of meeting Thanh Hài. My parents reminded her, "When you come home from school, be sure to dress neatly and greet our guest politely."
That morning, Thanh Hài went to school wearing an old, faded white áo dài with wrinkles. When the guest was sitting in our home, Thanh Hài returned from school, her face looking gloomy, and greeted him briefly.
then went upstairs and disappeared. The incident showed that Thanh Hài didn't like it, and when she didn't like something, everything would go against her wishes.
When we evacuated to the United States and settled in Springfield, Missouri, there was a medical student who was about to graduate and wanted to get to know Thanh Hài with the intention of marrying her. However, it ultimately didn't lead to any results.
Meanwhile, in Springfield, there was a man named Đoàn Thế Đạt, who often attended church on holidays and participated in Vietnamese sacred music activities... As a result, Đạt and Hài seemed to share similar interests and values.
Later, Đạt started visiting our family frequently. My mother also met Đạt several times, but the issue of understanding our family's background was still a concern.
My mother... only knew that Mr. Đoàn Khoát, Đạt's father, was living with his own family here, while Đạt's biological mother was in Vietnam. Well, basically, as long as the two of them truly loved each other, that was all that mattered...
But not long after, due to a sudden illness, my mother passed away in a tragic and painful way, causing immense sorrow for our family. I became worried and fearful... because of the large number of young children who no longer had a kind mother to care for them. Meanwhile, Father was thinking about the children's education and their future careers, so Father and the children had to relocate to Denver, Colorado, where there were relatives, many opportunities to learn, and ways to advance themselves.
Family Memoir of the Nguyễn Clan
was also a place with many job opportunities, making it easy for the children and grandchildren in the future.
Đạt and Hải got married in 1978 after the family moved to Denver, Colorado, as mentioned earlier.
A wedding party was held in Denver on October 22, 1977. Đạt and Hải have three children:
- Their first daughter, Catherine Đoàn Thụy Như Hiền, was born on August 3, 1978. Their first daughter is just as lovely as her mother. With a name that means kindness and gentleness, she is very charming.
When she was born, we were still living with her grandfather. Wherever he went, she would quietly follow behind, and sometimes, unknowingly, he would step back and tread on her feet. That's why he called her his "little tail". Như Hiền has since gotten married to Vincent Nguyễn, who is also from Quảng Bình, from the village of Văn Phú. The couple has two adorable children, Angelli Tuyên Nguyễn, born in 2003, and Jasalin Quyên Nguyễn, born in 2008.
The second child of Thanh Hài is a son. When Hài gave birth, Đạt found out it was a boy and was overjoyed, beaming with happiness. The result was Đoàn Minh Đức, also known as Cúc Cu, born on March 28, 1983.
The next child is Dominic Đoàn Minh Đạo, also known as Lu Lu, born on June 29, 1985. Although Minh Đạo is not yet married, he already has a son named Nathaniel, born in 2005 when he was just 20 years old.
The children of the Đạt Hài family are tall and big, but they are lovely, well-behaved, and respectful towards their grandfather and other relatives.
Later on, Đạt's mother came from Vietnam and lived with the family. She passed away on Thanksgiving Day in November 2013.
Đoàn Thế Đạt also suffered from cancer, but thanks to God's mercy, he was cured. It was a miracle.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
What a surprise! The whole family was overjoyed and thankful to God. Currently, Hài Đạt's family resides in Denver, Colorado.
We pray for Đạt Hài to have a happy, warm, and loving life within the family, with an ideal existence.
Our fifth child, Anna Nguyễn Thị Mỹ Hằng, was born on November 8, 1957, in Huế. At that time, I was serving as the Commander of the 251st Transportation Battalion, stationed in An Cựu, Huế. Baby Mỹ Hằng was born while we were living in a villa located within the battalion's headquarters.
Mỹ Hằng was a chubby baby with curly hair like a doll, very adorable. At that time, I was often away on business, especially to supply the newly liberated provinces in the south such as Quảng Nam, Quảng Tín, and Quảng Ngãi. I suffered from lack of food and sleep, and was also worried about equipping and organizing the newly formed unit (the 251st Transportation Battalion, stationed at An Cựu Huế), so I became weak and pale. As mentioned earlier, I had to drink goat's milk every day to regain my strength. Mỹ Hằng, who was still small at the time, would demand to drink whatever I drank, so she kept getting fatter, to the point where her siblings teased her, calling her "little fatty!" After that, her parents no longer dared to give her goat's milk, just a little bit to taste.
would stop crying and just demand things.
Hằng was very intelligent and obedient, listening to her parents when she was young, very considerate, reminding her siblings, and sometimes even worrying about her older sister Hài. Her parents only needed to remind her once, and Mỹ Hằng would obey and do the right thing, sometimes even reminding her older siblings. Mỹ Hằng had the demeanor of a "supervisor" from a young age. If any of her siblings didn't listen, she would immediately tattle to her parents.
As she grew up, Mỹ Hằng was healthy, quiet, and studied hard. When she came to the United States, she would talk nonstop when she came home from school, and sometimes her mother wouldn't understand anything.
After finishing high school, she went to college and graduated with a degree in Electrical Engineering in four years.
Memoir of the Nguyễn Family
From this time on, Mỹ Hằng was nicknamed "Mệ Trợ" because she talked a lot and was very particular about everything, knowing it all. Nevertheless, Mỹ Hằng was the most trusted by Father and Mother. Whatever task they assigned to her, she would do it diligently and accurately, following their instructions to the letter.
Mỹ Hằng had become engaged to anh Lý Chí Nguyện, an electronic engineer and the son of Mr. and Mrs. Lý Hà Trinh. Nguyện was sent to study in the United States by his parents in 1971. While still in Vietnam, Mr. and Mrs. Trinh had an electronics business in Mỹ Tho. They later immigrated to the United States as refugees and settled in San Diego, California. The Trinh family was of Vietnamese-Chinese descent, known for being kind, cheerful, and hospitable.
Lý Chí Nguyện and Nguyễn Thị Mỹ Hằng got married in a formal ceremony.
at Denver on Saturday, November 30, 1985, at All Saints Church, Denver, CO. After the Thanksgiving ceremony on a very cold day. Anh Nguyện and chị Hằng, residing in Denver, CO, have three daughters as follows:
1. Michelle Nguyện Lý (nickname Cubby) born on August 31, 1986, coincidentally on Labor Day, and married Evan Osborn, an African American, on August 16, 2014.
2. Monica Lý Tân Niên (nickname Chí Mén) born on December 31, 1987, on New Year's Eve. Monica also got married to a young doctor named Frank in 2013 in Denver, Colorado.
3. Melissa Lý Lan Viên (nickname Bé) born on
December 7, 1991, "Pearl Harbor Day," commemorating the day Japan bombed Pearl Harbor (Honolulu, Hawaii).
Each of Nguyện Hằng's children was born on a special commemorative day in the United States.
One special thing is that previously, all three of these girls played soccer very skillfully, especially Chí Mén. Perhaps it's because their father, Nguyện, is a skilled soccer player in Denver. When they were little, their father often took them to watch soccer games, so they absorbed and became fond of this sport. Every weekend, there was a soccer program for the kids, so their parents had to take them, spending a lot of time on this hobby, which was also their passion.
Family Memoir of the Nguyễn Clan
always pleased Father Nguyện. However, that's also a good thing, rather than letting the kids go play elsewhere.
Nguyện Hằng's children are beautiful girls, studious, and respectful to their grandparents. If the parents have virtue, then it's only natural for the children and grandchildren to benefit. Our ancestors have taught us this.
F, The Sixth Child of Ours is Phao Lồ Nguyễn Đình Tiến: born on September 6, 1960, in Sài Gòn. He is a handsome young man, intelligent, and resourceful, talented in music… but his love life has been somewhat tumultuous.... According to
Following the example of Bill Gates, the richest man in the world, Tiến pursued a career in business... After that, Tiến asked for permission to go to California and research the market. He started working and managing a large furniture store. Tiến excelled in this field... and gained many years of experience in the furniture business.
Tiến's nature is kind, loyal... and he ensures that everything is done according to the rules. He has a compassionate personality and a strong sense of responsibility, always worrying about and loving his family, with absolute faith in God. Father constantly prays for Tiến's success in both his worldly and spiritual life.
Later, Tiến intended to proceed with establishing his own family,
She was a girl from southern Vietnam, from Cần Thơ, who had just immigrated to the United States. Later, Tiến introduced his new friend, Nguyễn Bảo Ngân, at a restaurant in Los Angeles. During their initial meeting, Tiến was always welcoming in his own way. Not long after, Tiến and Ngân got married on February 2, 2002, in San Diego, California, with many relatives in attendance.
To date, Tiến and Ngân have three children:
- Maria Nguyễn Thùy Hạnh, born in 2003. When she was born, her parents named her after her paternal grandmother to commemorate her. Unfortunately, when Hạnh was over a year old, she suffered from a weak spine due to a bone disease, so
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The first grandchild often suffered from illness, could only lie down, and was unable to sit or walk. When the child was five years old (2008), they passed away. It's truly pitiful for the child.
The second grandchild is a grandson named Nguyễn Đình Trung, born on May 5, 2005. This Cu Trung will have a bright future, being resourceful and quick-witted... Little Trung is intelligent, and although small, already knows how to socialize... proving that he will be a capable successor to his father, skilled in business.
Nguyễn John (Tâm) was born in 2007, gentle, and handsome...
Additionally, the Tiến Ngân family has Nguyễn Long, born in 1998, who is Bảo Ngân's own child. Long is clever, quite intelligent... and when younger, would often tease the younger siblings! Now that he's grown up, he's changed.
Long is very lovely... Long studies well and listens to his aunts and uncles at home, they love him very much.
Later on, Tiến branched out and opened a furniture store, doing business in Chula Vista, San Diego, California. The business developed very well. After a few years, Tiến expanded and rented another store, larger and more bustling. The new store is also located in Chula Vista, about a kilometer away from the old store. So, as of the day I wrote this Memoir, Tiến has two furniture stores in operation. And when the book was about to be printed, due to the impact of the global economy... he had to downsize to one large store and one small store (2014).
Tiến Ngân's work is quite busy, with two stores to manage,
“Furniture”. The parents were busy with household chores for the children and also had to find time to go to the store to control accounting, purchase and sell merchandise, order new goods, and control inventory in a general way.
This was a job that required specialized knowledge, always had to be "up to date" with the latest issues, and could not be neglected or done casually. Because just a little carelessness could result in significant financial losses. The parents always prayed for all their children to be successful. Especially, they prayed to God to grant the Tiến Ngân family all the best luck and goodness, and for the couple to know how to love and care for each other.
Memoir of the Nguyễn Family
They respected each other, prioritized the growth of their children, and focused on educating them to become useful individuals. Next, they valued their careers, always seeking peace, goodness, and God's blessings for their family.
That was the daily prayer of Father, of the Patriarch, for all the children, grandchildren, and great-grandchildren of our family clan.
G, The Seventh Child is Nguyễn Thị Ánh Hoa: Ánh Hoa (nicknamed Bê), born on August 20, 1962, at the Saint Paul Orphanage in Đà Nẵng, which was run by the Sisters of Saint Paul de Chartres. At that time, I was still working.
In Đà Nẵng, Central Vietnam. My duty at the time was as the Battalion Commander of the newly formed 11th Transportation Battalion, whose headquarters was based in Phước Tường, but my family was still temporarily residing at the 1st Liaison Battalion, also known as the Đà Nẵng Transportation Hub, because I had previously commanded this Liaison Battalion. It was still early days, and the family was not yet ready to relocate. We hoped that in the near future, the family would move to a different location.
Because I had been transferred to become the Battalion Commander of the 11th Transportation Battalion stationed at Phước Tường Base, I had a villa built in Thanh Bình. The villa had three large bedrooms, a very spacious living room, a dining room, a kitchen, and other amenities.
We moved here when our daughter Diễm Hà was born. We had a warehouse and all the other amenities.
When Ánh Hoa was small, from the time we were in Đà Nẵng, she was a bit skinny and had a habit of biting the heels of several pairs of rubber sandals... her siblings nicknamed her "Bê nhom" or "tàu hầm"… because every time she watched TV and saw a submarine diving underwater, she would exclaim "tàu hầm". Ánh Hoa was pale and weak due to her picky eating. She had a really hard time eating when she was small. Every meal was a struggle for her mother, despite being busy with household chores and especially while pregnant with Hà. But without her mother, Hoa wouldn't eat.
Her mother was busy and worried about the older siblings, while also having to spoil little Hoa. Feeding Hoa was a torment, a constant struggle for her mother, who had to balance taking care of everyone's needs.
Family Memoir of the Nguyễn Clan
As mentioned earlier. Mother had to coax and caress, and also plead, just to get one bite into her mouth. Each time the child ate a bite, Mother's face lit up with joy, beaming with a happy smile like she had won the jackpot. Mother often said, "Eat, dear, eat until you're full, so I can be happy, and so Father can come home from work and be happy too."
Ánh Hoa heard Mother say that, and then pulled up her shirt, pointed to her belly, and said: "I'm full, Mother, see?" Mother immediately pointed to Hoa's navel and said: "You've only eaten a little bit, how can you grow up to be as big as your sister Hương? You still need to eat a lot to grow bigger than Hương, so you can go to school, and when you come home, you can help me, and later help your little sister Hà too!" (The little sister hadn't been born yet, but already had a name!)
Hoa listened to her mother and reluctantly ate a few more spoonfuls. That was the extent of her effort. However, she gradually got used to it and ate a little more each time. Her mother was distressed because Hoa refused to eat and constantly complained to Father about it. In the house, only Bê was finicky about eating. Nevertheless, her mother remained patient and persistent. Once, she threatened: "If you don't eat, you won't grow up, you'll stay small like a baby, you won't be able to go to school, work, or grow up. Do you want me to carry you forever? After carrying you, who will carry little Hà?" So, Hoa made an effort to eat a few more spoonfuls, and her mother was overjoyed, coaxing her even more sweetly. At home, Ánh Hoa's refusal to eat was the most troublesome.
After giving birth to Diễm Hà, Mother was extremely busy every day, taking care of the children.
to take care of the newborn baby, but when it was time to eat, the mother had to coax and encourage Ánh Hoa for a while before she would eat a few spoonfuls. After a period of time, the father had to ask the doctors, and they prescribed a few medications to stimulate the stomach, which the father gave to the child, but it's unclear how effective they were.
However, later on, when Hoa grew up, the parents no longer worried about her because she had become wise. Despite being a picky eater when she was little, Ánh Hoa's personality became intelligent and not inferior to anyone else when interacting with the outside world. As Ánh Hoa grew older, she became more sensible, speaking and acting maturely, and handling tasks responsibly. She was also smart in her studies. The parents were always worried that she might
Memoir of the Nguyễn Family
As a child, she was picky about food, which could have affected her intelligence and appearance later in life. However, Anh Hoa's picky eating habits did not impact her beauty and intelligence.
Anh Hoa got married to Quý Huy (born July 6, 1962), the son of former Lieutenant Colonel Bảo Định, on May 26, 1990, in California. The wedding was joyful, but Father couldn't help but think and feel nostalgic, wondering how happy Mother would have been if she were still alive. Because Mother had always worried and complained about Hoa's picky eating, fearing that she would be weak, unable to study, and unattractive. If Mother had passed away and gone far away for a long time, she would have been overjoyed to see Hoa's wedding day.
When she returns, Mother will see and be reunited with the children, and she will be amazed.
Currently, Huy Hoa has two children, a boy and a girl, as follows:
- The eldest son: Jessey Quý Định Hiếu, born on September 20, 1993, in California (San Diego). The second daughter: Miranda Quý Thy Thảo, born on February 16, 1995, in San Diego.
Now, Huy Hoa and the children live in their own home on Spruce Run Dr, San Diego, CA 92131. The family is harmonious, the husband and wife love and care for each other, and their business is thriving. Father is happy for the children and grandchildren.
Ánh Hoa currently has an average build, but she has a big mind, is intelligent, and clever. Ánh Hoa looks
From a distance, they appear to be broad-minded, thoughtful, and not given to flattery. In the family, Huy and Hoa have a very harmonious relationship... Huy and Hoa work for the US Department of Defense, as they both graduated with a degree in Electronic Engineering from the University of California, but now Hoa has retired.
Quý Huy is the youngest son of Mr. and Mrs. Bảo Định, a high-ranking officer of the Republic of Vietnam Armed Forces. Huy's situation is similar to Ánh Hoa's. After coming to the United States, his mother passed away early, and he lived with his father and siblings. He was diligent in his studies and attended college. He found a job at an American company. Huy and Hoa met, and it was a match made in heaven, leading to their decision to get married.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
They built a family together, created happiness for each other, and brought each other to the realm of marital bliss.
Huy Hoa has set a shining example for the family and for the children.
The couple loves and respects each other, maintaining a sense of reverence in their daily interactions.
They still observe traditional etiquette in their daily conversations. Father calls it "A Heaven on Earth".
Honestly, Father is overjoyed every time he visits Huy Hoa's family and the grandchildren. Father and Grandfather always pray for the private happiness of the family of their children and grandchildren. That is the eternal happiness that Father has always wished for from God.
I wish all the best for all the families of our children and grandchildren.
Children, try to keep your family life flourishing, set a good example, so that our relatives can be proud and admire the life of your own family.
H, Nguyễn Thị Diễm Hà: (also known as Bé) is the eighth child in the family. Diễm Hà was born at the Saint Paul Maternity Hospital of the Soeurs de Saint Paul de Chartre on September 4, 1964, in the city of Đà Nẵng. After spending a few days at the hospital, Diễm Hà was the first child to live in the new house built on the beach.
They brought her back from Thanh Bình beach in Đà Nẵng. She was taken home to her new house with Father and Mother, but she just lay there sleeping, not needing the lively and joyful welcome from her siblings. The siblings made noise, laughing and talking loudly, which woke Hà up, and she started crying. Mother had to carry her to another room to comfort her and help her sleep. Mother reminded the siblings to be quiet so Hà could sleep. The siblings didn't dare make another sound. If anyone made noise, Mỹ Hằng would run to tell Mother right away. The siblings lost their enthusiasm!
Diễm Hà grew up quickly, like a doll, with fair and rosy skin, very adorable. She was loved, pampered, and cherished by her siblings. All day, after they came home from school, they would gather around her, playing and joking with the baby. She grew up quickly and learned everything from her siblings' conversations and stories.
Family Diary of the Nguyễn Family
About a year later, Father and Mother rented out this house to an American newspaper supplier. Therefore, Father, Mother, and the children had to move into a rented house located in front of Saint Teresa's Hospital, owned by Uncle Minh. Although the house was a bit cramped, it was tolerable, and we were lucky to be living right in front of the homes of Uncle Minh and his wife, as well as Uncle Toàn and his wife. This made it easier for our family to stay in touch with theirs. However, two years later, I had to move to Sài Gòn to prepare for my studies in the United States, specifically the Advanced Transportation course.
I would like to note that around 1964 and 1965, the situation in Đà Nẵng
It was very chaotic, with protesters rioting and smashing things everywhere. Buddhist followers took to the streets, attacking Catholic followers in the Thanh Bồ Đức Lợi parish. They even set fire to the houses in Thanh Bồ Đức Lợi. Right in the streets of Đà Nẵng, a shoe repairman who was rumored to be Catholic was beaten to death by a group of Buddhist protesters.
At the same time, I received an order to transfer to Sài Gòn to complete the procedures for studying abroad in the advanced Military Transportation course in the United States.
When Father, Mother, and the children arrived in Sài Gòn, the house in Phú Nhuận was ready, as previously mentioned, thanks to chú Minh and his family, who had taken care of everything.
had moved to Đà Nẵng because the situation had stabilized and order had been restored in the area.
After arriving in Sài Gòn, Father and Mother arranged for the children to resume their studies. The older brothers, like Thường, Tuấn, and Tiến, attended Tabert, while sister Hương attended Regina Pacis. The younger children attended a private school on Nguyễn Huệ Street, right in front of Aunt Ký's house.
Father still remembers one day when he rode his Lambretta to pick up Hà. Little Hà was only about 5 or 6 years old. As soon as she saw Father's vehicle, she ran across the street without looking left or right, ignoring the traffic. A young man riding a Lambretta was speeding by the school, slammed on the brakes, and the sound of screeching tires echoed loudly on the road!!!
Family Memoirs of the Nguyễn Family
If she walked a little further, she would have bumped into little Hà. Oh my, God's mercy is great.
When Father brought Hà home, he told Mother about the incident, and Mother had to spend nearly half an hour explaining to little Hà how to cross the street safely.
From that day on, whenever Hà saw Father coming to pick her up, she no longer dared to run recklessly across the street to meet him. Instead, Hà would wait at the school gate, and when Father arrived, he would lead her out, and only then could she hold his hand to cross the street. Mother only needed to teach the children once, and after that, they would follow her instructions. Moreover, when Mother guided the children, it wasn't just one person, but all of them would
At home, everyone had to listen quietly, and those who didn't understand had the right to ask again.
When evacuating to the United States, Diễm Hà was only around 10 or 11 years old. At an age when she needed her mother's guidance and advice, her mother passed away, called by God to leave the worldly life. The children were like a brood of motherless chicks, lost and adrift in life. Among the children, aside from the older brothers and sisters, the rest were all under 10 years old, like Diễm Hà, Đình Thọ, Đình Trường, and Ngọc Hân. Anh Tiến and Hoa, although over 10 years old, were still innocent, especially having just arrived in the United States, a new and unfamiliar country. They were all too young, while Father had spent his life busy with military affairs, with little ability to manage and take care of everything.
Taking care of the family affairs.
In the house, Mother single-handedly took care of, made decisions, and arranged everything. When the children were at an age that required their mother's care and attention, she passed away in a sudden and painful manner, unexpected by everyone.
Although Mother was gone, Diễm Hà grew up quickly and helped the family a great deal after a period of time. Hà had become close to Nguyễn Tuân, a computer science engineer, who later taught computer classes at the university. The couple got married in 1986 and had two children:
1. Nguyễn Hoàng Benjamin, born on November 4, 1986, who followed in his father's footsteps and taught specialized classes.
Memoir of the Nguyễn Family
2, Nguyễn Tân Scott, born on November 7, 1991, is still in college.
The two grandchildren, Hoàng and Tân, are very lovely and strive to do well in their studies... Anh Nguyễn Tuân is an engineer who teaches advanced computer classes organized by the company. To be hired to teach these classes, the instructor must be an expert in computers and have in-depth knowledge of the field. Additionally, the instructor must be updated on the latest principles and rules of the subject. I'm only retelling what I've heard, and I may have made some mistakes.
Currently, Tuân still teaches computer classes, and it's not just limited to teaching;
Now, I have to travel to almost every state to teach this subject. Benjamin has also been introduced by Father to work in the same profession.
Diễm Hà is busy with her work at the Holy Cross Church in Salt Lake City (UT). She is a helpful hand in all the church's activities to honor God.
In Salt Lake City, Father Đa Minh Hà Đăng Thụy is the parish priest of the Holy Cross Church, and he is very close and fond of the Tuân Hà family.
Father prays to God to bless the Tuân Hà family and to grant them all the good things, especially good health, after Hà's illness.
has overcome throat cancer… and I wish God to bestow all blessings and prosperity upon our family and descendants.
I, Nguyễn Đình Thọ: am the ninth child in the family. Thọ was born on March 25, 1967, in Phú Nhuận District, Sài Gòn. Nguyễn Đình Thọ (nickname Tèo) followed Father and Mother, and siblings to settle in the United States in 1975, at the age of 8. During the time of settlement in the United States, Thọ attended school from elementary to high school and through the university program. Thọ has shown effort and completed his university education, achieving successful results.
Family Diary of the Nguyễn Family
He did very well and graduated with a degree in Computer Sciences in 1991.
On July 27, 1991, Nguyễn Đình Thọ got married to Trần Thị Hòa, also known as Vie, who graduated with a degree in Behavior Science from the same university and in the same year. She is the daughter of Mrs. Marie Kim Lan Bùi Văn Tri, living in Denver, Colorado (currently residing with Thọ and Vie's family). Her father passed away in California.
Thọ and Vie have four children, two boys and two girls, who are clever and adorable, with names and birthdates as follows:
1. Nicholas Nguyễn Hiếu, the first son, born on March 30, 1993
in Denver, Colorado
2. Luke Nguyễn Hảo, the second son, born on February 20, 1995, in Denver, Colorado. As he grew up, Hảo probably became tall and handsome.
3. Sarah Nguyễn Thảo, a lovely girl, born on March 8, 1997, in Denver, Colorado.
4. Baby girl Remy, born on December 20, 2006, looks just like her father.
All four grandchildren are well-behaved and studious. Every day, Father and Mother drive them to school and occasionally take them out. Whenever they meet relatives, the grandchildren greet them with their arms around each other, very politely and adorably.
Thọ Vie's family was part of the young generation when they settled in the United States.
In the United States, at the tender age of around 7 or 8, the two siblings had grown up in families that valued etiquette and tradition. As a result, both siblings were simple, innocent, and sincere, earning the love and affection of the parents on both sides, as well as the respect and admiration of all the siblings in both families.
Anh chị Thọ Vie has a website called "AsiaXpress.com" to disseminate global and local news in the United States, with the participation of Bờm, my 12th child. It's been nearly 5 or 6 years since AsiaXpress.com was established and began operating.
Memoir of the Nguyễn Family
AsiaXpress.com is always published in English, providing general news, not dedicated to any particular country or political party.
Currently, Thọ - Vie and their four children, along with their grandmother, live in a new house built in 2004, located in South Aurora, at the address S. Walden Way, Aurora, CO. 80016.
I pray that God blesses Thọ Vie and their children with all the best things in life, happiness, peace, and goodness, and that the children excel in their studies and become useful individuals for society. I wish for the family and descendants to be happy, holy, and to have all the best things.
to fill their lives with the best fortune and happiness.
J, Nguyễn Đình Trường: Our tenth child is Phao Lồ Nguyễn Đình Trường (also known as Ti), born on August 27, 1969, in Sài Gòn, Vietnam.
In April 1975, due to the war, the country fell under the communist regime. The entire Vietnamese population, especially the people of the Republic of Vietnam, were determined to evacuate and escape the communist collective in North Vietnam, despite facing countless difficulties and dangers. However, some people encountered favorable circumstances that facilitated their decision, while others made the same decision but faced immense hardship and suffering during their escape, and endured countless challenges and difficulties.
The scene of sorrow and hardship during the evacuation was unfortunate, and they did not meet with the good fortune they had wished for. They had to endure the misery, pain, and even death, which was heartbreaking. But fate had been decided, and there was nothing they could do, so they had to accept God's will.
At that time, Trường was only a little over 5 years old, an age when all she knew was how to play, without any awareness of politics, life, or other worries in the family and society. Trường had been evacuated with her mother and siblings in April 1975. They left Sài Gòn on April 26, 1975, on a US plane bound for Guam.
Family Diary of the Nguyễn Family
After staying in Guam for a few days, we were relocated to California with our family to Camp Pendleton in Southern California.
From a young age to adulthood, Trường was always encouraged to pursue education, from preschool to elementary school, and on to high school, college, and finally earning a bachelor's degree in Computer Science Engineering in the United States.
To this day, as I write this, Trường is over 40 years old and still hasn't started a family. Despite numerous introductions, invitations, and willing partners, Trường has yet to settle down.
Trường is still not satisfied with anyone... as if not hearing, not knowing, or not seeing. However, Trường is decisive and when meeting someone he doesn't like, he stops contact and doesn't take advantage of them. Father hopes that Trường will soon have good results in his marriage.
After graduating from college, Trường worked for electronics companies. Later, due to the economic downturn in the US, many factories laid off employees, and Trường had to switch to working in trade and sales, and helped his brother Nguyễn Đình Tiến's "Furniture" store for a while. Currently (2014), Trường has been introduced by Huy - Hoa to work at the same department as his brother-in-law.
Huy.
I pray to God and Mother Mary to bless our son...
J, Nguyễn Đình Ngọc Hân: She is our youngest daughter with my wife Nguyễn Thị Hạnh. My wife passed away when our youngest daughter was just over two years old. Ngọc Hân was born on May 21, 1973, in Sài Gòn, Vietnam. When my wife gave birth to Ngọc Hân, the doctor found it to be a difficult delivery and she suffered excessive bleeding. The doctor wrote a letter advising our family not to have any more children, as they feared that my wife would suffer from severe bleeding, which would be life-threatening.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
However, after this birth, Mother was advised to abstain and not have any more children. In fact, Mother had also thought about using birth control pills in the previous years. However, at that time, using birth control was considered a sin by the Catholic Church, so we never used them. As a result, Mother was always getting pregnant. One thing is that although we had many children, because Mother took such great care of them, they were all robust, healthy, and beautiful.
When Mother fell ill and passed away, Baby Út was still very young, not even three years old, and didn't understand anything. More than a month after Mother had been hospitalized, Baby Út missed her terribly, but because she was still so young, she didn't fully comprehend the situation.
She was too small to visit the hospital, so we didn't know what to do. As a result, the sisters had to take turns caring for her, playing with her, and comforting her to alleviate her sadness.
Because she was still young and didn't understand, Bé Út kept asking where Mother had gone and why she hadn't returned. Especially when Mother was still alive, she would often remind the siblings to wear warm clothes when going to school or outside. Every day, sisters Hài and Hằng had the responsibility of taking care of Út's meals and putting her to bed at night. Since Hài and Hằng were the oldest sisters in the family, they took on this role. Poor Út missed Mother terribly and didn't know where she had gone. Fortunately, with many siblings around, Bé Út was less sad and missed Mother less. However, every now and then, Bé Út would ask Father:
"Why did Mom go away for so long and not come back?"
Each time you asked like that, I felt like I was dying inside.
It wasn't until you were around 5 or 6 years old that I told you Mom had passed away and gone to Heaven to be with God in the sky. I said that, but you probably didn't understand because you were still young. As you grew older, you began to comprehend the concept of death and the cycle of life.
Ngọc Hân grew up to be very well-behaved, worked hard in school, and achieved success in her studies. After graduating from college, Ngọc Hân struggled to find a job in Denver, Colorado. So, she moved to California to find work more easily.
Family Diary of the Nguyễn Family
In California, there's Chị Hoa, Anh Tiến, Chị Hương, and others, who naturally found jobs more easily than in Denver, which is why some people call Denver the "land of snow and high altitude".
Ngọc Hân was successful in her studies and found a good job in California, just as she had wished. When she came of age, Ngọc Hân responded to the call of "lifetime companion" with a young Chinese man named Stephen Kwo. After getting to know him for a while, Ngọc Hân arranged for Stephen Kwo to return to the Catholic faith. Stephen showed great devotion to God and was very pious. He volunteered to read ...
Every Sunday, the family attends Mass at the church. My father and the family are delighted with the calling for Stephen to become a devout Catholic. At the same time, they praise Ngọc Hân for planning a program to help Stephen return to being a model Catholic!
On August 21, 2004, Stephen Kwo and Ngọc Hân got married in San Diego, California. They then had a son named Christopher Ly Wei-Min Kwo, born on January 11, 2006, and a daughter named Sophie Minh Tiên Kwo, born on November 12, 2007. The two grandchildren are handsome and beautiful, resembling their mother when she was young... The grandfather is overjoyed for the lovely grandchildren! He hopes that they will continue to grow up and bring joy to the family.
kind and strong ...
By 2014, due to various reasons, Ngọc Hân had separated from Stephen, and now the three of us are living together. I pray to God to bless Ngọc Hân with all the best things in life.
K, Nguyễn Đình Joseph: is the son of my wife Nguyễn Lương Yến, whom I married on January 30, 1982. This was six years after my first wife, Nguyễn Thị Hạnh, had passed away, and now my second wife, Lương Yến, has also passed away in 2011 due to a severe illness.
Nguyễn Đình Joseph was born in Denver, Colorado on October 11, 1983. He has now graduated from the University of Colorado.
Memoir of the Nguyễn Family
Denver (CO.) journalism industry, and then worked at a newspaper in Denver. He hopes to succeed in society.
Joseph has a tall and large build, a bit on the heavy side. However, because Joseph exercises regularly and eats just enough to satisfy his hunger in moderation, he is not as overweight as some other young men.
Father prays daily for all his children to achieve holy and wise moral success. One thing Father always keeps in mind daily is the issue of MORALITY. Always practice morality towards God and others.
According to Father's observation, if Joseph tries harder, he will not
will lose to no one and will obtain many higher degrees. In the past, when Father was in school, Father was always ranked among the top 10 students in the class. Even when attending the Officer Cadet School at the Dalat Joint Military Academy, Father was still ranked among the top 10 students in the class upon graduation with nearly 170 candidates passing. Therefore, Father was given priority to be recruited into the Army Corps as desired when graduating from the Dalat Military Academy.
Father always prays for Joseph and the children to have holy wisdom to steer their lives onto the path of glorious, happy, and holy virtue that the Family has always desired, first to help themselves, and then to glorify God and to bring honor to their ancestors.
The high family legacy of the Nguyễn family that our ancestors had worked hard to build.
20, MY FAMILY'S ARRIVAL IN THE US:
My wife and children were relocated from Sài Gòn by plane via Subic Bay for a few days, from Subic Bay they flew to Guam for a few days, from Guam they went to Hawaii and stayed overnight, then continued flying to LA, and were transferred by bus to Southern California, temporarily residing at Camp Pendleton, located near San Diego. It seemed like this place was a military base that had been allocated for refugees to be relocated to.
When I was still in Sài Gòn, I had arranged for my family to be relocated to the US first. I had to stay behind to take care of the Long Bình Base. The 3rd Corps had relocated before our Long Bình Base.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
When the Corps had evacuated, I was forced to report to Lieutenant General Đồng Văn Khuyên, Deputy Chief of the General Staff and Director of the General Department of Transportation of the General Staff.
The Lieutenant General ordered:
- "You must try to hold out tonight, tomorrow will be different!"
On the morning of April 29, 1975, the North Vietnamese Army had flooded the roads throughout the Biên Hòa and Long Bình areas.
We didn't know what to do, as the Corps had abandoned us, and when we tried to contact the General Staff, we couldn't reach Lieutenant General Đồng Văn Khuyên either. We no longer knew who to contact,
There was no way out if we didn't act quickly, or we would be stuck while my family had already been arranged to go through Guam. In the end, we had to take a helicopter to fly directly to Vũng Tàu and board an American ship to seek refuge.
As I mentioned earlier, when I boarded the American ship, I fainted due to extreme hunger, having eaten nothing for two or three days, and also due to lack of sleep, as I had been on the defensive line for several nights and hadn't slept much. Fortunately, some friends helped me up and went to find some food for me.
To be honest, it was only then that I realized how hungry I was, and anything I put in my mouth tasted extremely delicious. Once I calmed down a bit, I followed my friends down to the ship's hold, where I met a female friend.
gave me a piece of candy to eat, and it was so delicious!
At that time, I realized that when people are hungry, anything edible tastes great, even the most ordinary things like candy. Honestly, I never dared to eat Chợ Lớn candy on a daily basis. First, it's unhygienic, second, it's made with coarse and ordinary materials that can be harmful to health, such as causing stomachaches or diarrhea. Third, the lack of maintenance allows flies to contaminate the candy while it's being made, bringing in bacteria, and so on. But now, the Chợ Lớn candy tasted incredibly good, and I silently thanked whoever made the candy that I was savoring in my mouth.
Family Diary of the Nguyen Family
I also quietly thanked the person who gave me candy. Although the candy tasted good, who knows, maybe just a little while longer and "Tào Tháo" would have chased me away. But fortunately, my worries did not come to pass.
Another thing I would like to mention is that in the last few days at Long Bình Base, because I went on night patrols too many times, my little toe became swollen and extremely painful. I had to wear sandals instead of the standard military boots. For that reason, when I arrived in Guam, I was chosen to work at the clinic, the military medical station, to register patients and interpret for the doctor.
As I mentioned earlier, working at the Medical Station had two advantages: I didn't have to go get food and stand in a long line, about a hundred meters long, which I feared would cause my legs to swell, making it very difficult for me... Therefore, every day, someone would bring food to the medical station for us. Thanks to the medical care and not having to walk much, my legs recovered quickly.
After working at the Medical Station in the Guam Refugee Camp for about three days, I received news that the Transportation Camp would have a plane flying to California. I volunteered to go immediately, with the goal of meeting my family. However, when the plane took off, the flight crew announced that it would land in Arkansas, and
There will be a bus to take us back to Fort Chaffee.
I'm so sad because how can I meet my family who are currently in Southern California?
I have to request a transfer to Springfield, Missouri and temporarily reside in this state. I write "temporarily reside" because the city is small, jobs are scarce, and there are few high-quality middle schools and universities. Moreover, the salary for jobs is very limited compared to larger states.
My family (my wife and children) are currently temporarily staying at the refugee center in Southern California. If I go there to reunite with my family and settle in California, perhaps my family's life would have been much better.
Family Diary of the Nguyễn Family
Instead of moving to Denver, Colorado, we decided to make a change. However, we still believed in our fate as arranged by God. Later, we reunited, but not long after, my mother-in-law passed away in May 1976 in Springfield, Missouri! I was so sad; Springfield was just a small city with a population of around 150,000 people at that time. After that, my family moved to Denver, Colorado, and we have lived here until now.
When we first arrived in Denver, Uncle and Aunt Toàn helped us with a place to stay at their home. In reality, the children from both families were numerous and still young, so it was also a challenge. Later, I found another house to rent. Anyway, I had to
We would like to thank Uncle and Aunt Toàn for their concern for us when we first arrived here.
We consider Denver, Colorado, as our permanent residence, having lived here for over 30 years, nearly our entire life in exile in the United States. Some of our children have also moved to Southern California to do business or work there. After completing their studies, they established their families in California and have been living and working in San Diego ever since. Currently, Nguyễn Thanh Hương (also known as Diễm Châu), Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Ánh Hoa, Nguyễn Đình Trường, Nguyễn Đình Ngọc Hân, and I are residing in San Diego, which is the most ideal city for the elderly in the US. Nguyễn Diễm Hà, on the other hand, has settled in Salt Lake City.
The rest of the family, including Nguyễn Đình Thường, Nguyễn Đình Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Hài, Nguyễn Thị Mỹ Hằng, Nguyễn Đình Thọ, and Nguyễn Đình Joseph, reside in Denver and its surrounding cities, in the state of Colorado. Although we live in the same city, the distance between us is quite far, and visiting each other can take about half an hour, especially during rush hour or when there's traffic.
Every year, we schedule family gatherings on specific days, including Tết Nguyên Đán, Mother's Day on May 7th, and Christmas. These are important days when the children come together to celebrate, pray for Mother, and strengthen our family bonds.
Family Memoirs of the Nguyễn Family
Our Ancestors. My mother's tomb, which was previously buried at the Catholic Cemetery in Springfield, MO, was relocated to Denver in 2007 for easier visits to her grave.
*
* *
Life in Denver had been arranged nicely. In 1978, we were allowed to take the exam to work at the Post Office. Fortunately, I scored high (96/100). Thanks to that, in 1980, the US Post Office hired me to work at the BMC Denver.
At the Post Office, the salary was relatively better than working elsewhere.
I worked at BMC Denver for a total of 21 years, from 1980 to 2001, when I retired. I retired at the age of 75. Although I was already old, apart from high blood pressure and cholesterol, I didn't have any other illnesses, and I felt very healthy and strong. Every day, I would go for a walk of over three miles.
Three years later, around 2004, the blood vessel on the right side of my neck became blocked. After an examination at Saint Joseph Hospital's diagnostic machine, it was found that the blood flow from my heart to my head was obstructed, so I had to undergo surgery to repair the blood vessel. This surgery was very dangerous, as even a slight mistake could affect the nervous system, leading to a loss of consciousness and eventual death. Fortunately, my surgery was successful.
Everything went smoothly. The next morning, the chief surgeon of the Saint Joseph surgical team came to visit me very early, around 5 am. He stood far away, looking at me from a distance to see how I was doing. Meanwhile, I had gotten up and saw him. I waved my hand to greet him and asked him if I had undergone surgery. He replied, "You had surgery yesterday afternoon, and how do you feel?" I replied, "I feel fine" and I asked him to remove the restraints that tied my hands and feet to the bed. At the same time, "I want to go to the bathroom."
The doctor instructed the on-duty staff to remove the devices that collected urine and unlock the safety restraints tied to the bed.
Family Diary of the Nguyen Family
I got out of bed and went to the bathroom naturally like a healthy person. At the same time, I asked the doctor if I could go home that afternoon, but he did not agree, because I still needed to be monitored and the surgical wound needed to be checked. Therefore, I had to stay until Sunday afternoon before I could go home.
I thank God for blessing me, for protecting me during the dangerous surgery, and for everything going smoothly.
In 2005, around the middle of July, my children gathered in Denver, Colorado to celebrate my 80th birthday. In fact, my birthday is on November 11th.
in December 1925. However, the grandchildren said that if we wait until December, it's a cold month with a lot of snow and rain in Colorado, which would make travel very inconvenient and difficult to organize, especially for the siblings coming from other states to Colorado.
That was a very reasonable and practical observation.
In fact, Father agreed to celebrate his birthday every 10 years. Meaning, at 50, 60, 70, and 80 years old, those would be the years the children would celebrate his birthday. From 80 years old onwards, at an age close to the end of one's life, it's perhaps better to celebrate every five years. So, after 80, we would celebrate at 85, 90, and 95 years old. That's the desire of an old man, but we don't know if God will allow us to live that long.
whether or not we reach that age. "L'homme propose, Dieu dispose! Man proposes, God disposes". We simply follow His holy will.
After nearly 40 years of living in exile, far from our homeland, in a foreign land, I am now old and frail, with a weakened body. All my physical and mental abilities have declined, no longer as vigorous and healthy as they were in my youth. In terms of physical and mental abilities, we have been arranged by a higher power according to the cyclical path of the universe.
We pray to God to bless our family with prosperity and success, and to maintain the tradition of holding a family reunion every two years.
Family Diary of the Nguyễn Family
recalling the Nguyễn Family ancestry once again, as has been done for so long…
Having a peaceful life of virtue, ideals, and always knowing how to respect
important, following the teachings of the faith, and at the same time praying for Him to guide our material and spiritual lives to follow the right path as outlined in the gospel, the Nguyễn family clan
The Nguyễn family is blessed with happiness, joy, and success...
Nguyễn Đình Thông
Nguyễn Thị Hạnh & Nguyễn Đình Thông
A photo of the 12 children and grandchildren of my family:
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The children took a photo in Denver, August 2014
Tet Holiday in 2011 in Denver, Colorado
The Nguyễn Family Memoir
Michelle's wedding in August 2014 in Denver - 6 sisters
Family Memoirs of the Nguyễn Family
Family Memoirs of the Nguyễn Family
Family Memoirs of the Nguyễn Family
Family Diary of the Nguyễn Family
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The Nguyễn Family Memoir
Family Memoirs of the Nguyễn Family
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
The Nguyễn Family Memoir
Memoir of the Nguyễn Family
Author: Nguyễn Đình Thông
Former ARVN Lieutenant Colonel 1975
Published in January 2015
in San Diego, California - USA
All quotations must have the approval of the author's family *
(*) Diễm Châu Nguyễn email: catdonsa@yahoo.com
Nguyễn Đình Ngọc Hân email: hanahut@gmail.com
Tel: (909) 856-7784